Hôm nay,  

Ngày 30 Tháng 4

31/05/201821:22:00(Xem: 5495)

NGÀY 30 THÁNG 4



  1. TỔNG QUÁT

  2. CUỘC CHIẾN MÀ HOA KỲ KHÔNG MUỐN THẮNG

  3. CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TẠI HOA KỲ

  4. KẾT LUẬN


TỔNG QUÁT


Hàng năm, cứ đến ngày 30/4 thì báo chí trong nước cũng như hải ngoại lại nói đến biến cố gần nhất trong lịch sử cận đại của dân tộc Việt Nam. Báo chí trong nước thì nói đến “Thống nhất đất nước - Giải phóng miền Nam” trong khi báo chí người Việt tại hải ngoại thì viết về “Tháng 4 đen - Ngày Quốc hận”. Bài viết của ông Trần Đại Quang, chủ tịch nước, cũng sặc mùi tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà quên đi rằng chủ nghĩa Cộng Sản quốc tế đã chấm dứt từ 1989 và gây ra chết chóc cho ít nhất là 65 triệu người dân trên thế giới mà nòng cốt là Nga Sô, Trung Quốc, Việt Nam. Thật ra, viết về biến cố 30/4 là điều không khó nhưng viết tích cực, hướng về tương lai thì người viết đòi hỏi nhiều suy nghĩ.


Bài được viết ra giữa lúc tình hình biến chuyển mau lẹ trên bán đảo Triều Tiên. Bắc Triều Tiên, với dân số bằng nửa Hàn Quốc, vẫn là một quốc gia cô lập, bí hiểm, toàn trị, hà khắc, cha truyền con nối với quân lực đứng hàng thứ năm trên thế giới và khả năng tên lửa đạn đạo trang bị đầu đạn hạt nhân. Những diễn biến gần đây cho dân tộc Triều Tiên đang cố gắng quyết định vận mệnh của dân tộc họ dù những áp lực rất nặng từ Hoa Kỳ và Trung Quốc. Với Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Triều Tiên trực tiếp đàm phán sẽ tốt hơn là có sự tham gia của Trung Quốc dù rằng Bắc Triều Tiên phụ thuộc nặng nề vào quốc gia láng giềng này kể từ 1953. Chủ động kéo Tổng thống Mỹ vào bàn đàm phán trong tư thế song phương, tạo thế buộc Trung Quốc phải thay đổi thái độ 180°, hiện nay ngoài Kim Jong-un, dường như chưa có nhà lãnh đạo nào trên thế giới làm được điều này. Những người lãnh đạo Việt Nam có nhiều điều để suy nghĩ về tình tự dân tộc của những người lãnh đạo Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên.

CUỘC CHIẾN MÀ HOA KỲ KHÔNG MUỐN THẮNG


Có thể nói chiến tranh Việt Nam (1960-1975) là một cuộc chiến do nước Mỹ khởi động mà lại không muốn thắng vì thật sự thắng lợi không phục vụ cho quyền lợi chiến lược của nước Mỹ. Như lời tuyên bố của tướng độc nhãn Moshe Dayan, Bộ trưởng Quốc phòng Do Thái lúc viếng thăm miền Nam năm 1967. Ông đã báo cho Hoa Kỳ biết rằng nước này không thể thắng được cuộc chiến Việt Nam, thà rút lui về phương diện quân sự để sau đó trở lại trong hòa bình. Nhà cầm quyền Cộng Sản luôn luôn đề cập đến công trạng thống nhất đất nước nhưng thật sự thì chẵng có gì để hãnh diện. Để cho miền Bắc thống nhất đất nước thì  Hoa Kỳ khỏi lo về kiến thiết hậu chiến và trong tương lai, Trung Quốc sẽ là đối thủ chính của Hoa Kỳ và không ai hiểu Trung Quốc nhiều bằng Bắc Việt và chỉ có Việt Nam là quốc gia có thể đối địch với Trung Quốc.


Một điều ít người biết chi tiết là vai trò của Hải quân Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam. Vùng biển Việt Nam được chia ra làm 3 khu vực trách nhiệm: Vùng biển từ vĩ tuyến 17 vào Nam do Hải quân VNCH chịu trách nhiệm với sự giúp đỡ của Hải quân Hoa Kỳ trong chiến dịch Market Time - Vùng biển Bắc bộ trên vĩ tuyến 17 ngoài bờ 12 hải lý là khu vực hoạt động của Đệ 7 Hạm đội với Yankee Station. Khu vực bờ biển Bắc Việt trong vòng 12 hải lý là khu vực hoạt động của một đơn vị tối mật mà cho đến nay vẫn chưa được giải mật hoàn toàn. Đơn vị này có tên Việt Nam là sở Phòng vệ Duyên hải (Coastal Security Service) với các thủy thủ đoàn PTF và các toán Biệt Hải do VNCH cung cấp và cơ quan NAD (Naval Advisory Detachment) do Hải quân Hoa Kỳ cung cấp chịu trách nhiệm về hành quân, tình báo và yễm trợ. Đây là đơn vị hoạt động lâu và hữu hiệu nhất trong chiến tranh ngoại lệ ở miền Bắc. Các sĩ quan và đoàn viên hải quân Việt Nam Cộng Hòa đều là những quân nhân tình nguyện và được lựa chọn trong thành phần ưu tú nhất của quân chủng. Thật sự, các hoạt động chiến tranh ngoại lệ bắt đầu từ thời Đệ  Nhất Cộng Hòa, trong giai đoạn đầu do CIA chỉ huy cho đến khi chiến tranh mở rộng thì CIA không còn có đủ khả năng trao lại cho Bộ Tư lệnh Quân lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương (United States Pacific Command: USPACOM) nhưng quyền điều động hành quân vẫn nằm trong tay Section 302 của tòa Bạch Ốc và Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ mãi đến năm 1966 mới giao lại cho Bộ Tư lệnh Quân lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương. Hoạt động này giữ bí mật đến nỗi MACV và BTTM/QLVNCH hầu như không can dự đến. Đệ 7 Hạm đội cũng chỉ có nhiệm vụ yễm trợ hàng ngang. Trong thời Đệ I Cộng Hòa bắt đầu từ 1960, CIA sử dụng các ghe buồm xuất xứ từ miền Bắc đặt tên là Nautilus xâm nhập lên vùng duyên hải Quảng Bình, Đồng Hới. Khi chiến tranh mở rộng thì Hoa Kỳ bắt đầu trang bị các khinh tốc đỉnh SWIFT có tốc độ cao hơn nhưng tầm hoạt động cũng chỉ giới hạn. Trong thập niên 60, Hải quân Hoa Kỳ không còn chế tạo các PTF nên trong năm 1964 đã yêu cầu sự giúp đỡ của Hải quân Na Uy. Na Uy đóng 48 chiếc PTF loại NASTY bằng loại gổ đặc biệt chịu sóng rất tốt và giao lại cho Hoa Kỳ 24 chiếc để cho 12 thủy thủ đoàn VNCH sử dụng. Đây là loại chiến đỉnh tối tân nhất thế giới thời bấy giờ, lần đầu tiên thiết kế bằng máy vi tính, trọng tải đầy khoảng 100 tấn với 2 máy chánh Napier Deltic mổi máy 3,100 mã lực sản xuất tại Anh, tốc độ chiến đấu khoảng 50 hải lý/giờ, tầm hoạt động với bình dầu phụ có thể đi từ Đà Nẵng đến Bạch Long Vỹ - Hải Phòng và trở về trong đêm dễ dàng. Để thấy được sức mạnh của các PTF, các hộ tống hạm PCE của Hải quân VNCH trọng tải khoảng 800 tấn mà chỉ được trang bị với 2 động cơ mạnh 1,000 mã lực mổi máy.


blank


Khinh tốc đỉnh loại NASTY


Cuối năm 1968, oanh tạc Bắc Việt đạt đến mức cao nhất đến tận Hà Nội, một phân đội 4 chiếc PFT được lệnh chuẩn bị cho chuyến đi tuần thám xa nhất từ Đà Nẵng lên Hải Nam, qua Bạch Long Vỹ tiến vào cảng Hải Phòng. Từ Hải Nam, phân đội được sự không yểm thường trực của các phi cơ Hải quân Hoa Kỳ từng nửa giờ. Các phi công Hoa Kỳ rất cẩn thận, luôn luôn bật đèn nhận bạn và bay cách phân đội trong bán kính 2-3 hải lý. Sau chuyến này, đài Hà Nội ra rả tuyên truyền rằng chúng tôi sẽ không có ngày về nếu tiếp tục xâm phạm. Các cố vấn Hoa Kỳ rất mừng rỡ cho rằng nếu đà oanh tạc tiếp tục thì Bắc Việt sẽ đầu hàng trong vòng vài tuần. Điều oái ăm là ngay sau đó, tổng thống Nixon lại ra lệnh ngưng oanh tạc Bắc Việt. Mọi người chưng hửng, vài cố vấn Hoa Kỳ buồn bã nói với chúng tôi “Something terribly wrong”. Sở Phòng vệ Duyên hải chính thức ngưng hoạt động kể từ đầu năm 1969. Có một điều nữa là Bắc Việt rất hãnh diện về đoàn tàu không số tiếp vận cho miền Nam mà họ gọi là Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Thỉnh thoảng, chúng tôi có hỏi các cố vấn Hoa Kỳ tại sao không dùng PTF để ngăn chận đoàn tàu này thì họ trả lời qua loa rằng nhiệm vụ này không nằm trong huấn thị điều hành của lực lượng. Trong hơn 4 năm hoạt động ở duyên hải miền Bắc, hải quân Bắc Việt chỉ còn là con số không vì bị phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc chìm gần hết, ghe thuyền đánh cá miền Bắc chỉ dám hoạt động gần bờ, kinh tế miền Bắc có thể xem như tê liệt.


Trung Quốc là quốc gia thủ lợi nhiều nhất trong chiến tranh Việt Nam. Hai miền Bắc-Nam Việt Nam đánh nhau chết bỏ là điều mà Trung Quốc mong muốn. Đầu năm 1974, Hải quân Hoa Kỳ bất động để cho Trung Quốc chiếm nốt phần nữa cuối cùng của quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Trong những năm cuối cùng của cuộc chiến, Trung Quốc đã để lộ ý muốn không muốn 2 miền Việt Nam được thống nhất. Họ đã chận tại biên giới những đoàn xe lửa chở vũ khí từ Nga sang viện trợ cho Bắc Việt. Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, họ còn thông đồng với Pháp để kéo dài cuộc chiến. Đại sứ Jean-Marie Mérillon và một số tướng lãnh của Pháp đã cố thuyết phục tướng Dương Văn Minh và tướng Nguyễn Khoa Nam, Tổng thống và Tư lệnh Quân đoàn cuối cùng của Miền Nam, tiếp tục chiến đấu nhưng toan tính của 2 quốc gia này cũng không qua mặt được Hoa Kỳ mà chiến lược dài hạn đã được quyết định. Tướng Dương Văn Minh quyết định đầu hàng vì không còn sự lựa chọn nào khác. Tướng Nguyễn Khoa Nam đã ra lệnh cho binh sỹ tuân theo lệnh thượng cấp và lấy cái chết của mình để giữ tròn danh tiết.

Nga Sô là quốc gia viện trợ hết mình cho Bắc Việt với ý định bành trướng ảnh hưởng trong vùng Thái Bình Dương. Dù xã hội Hoa Kỳ cực kỳ phân hóa trong suốt 2, 3 thập niên sau cuộc chiến nhưng Nga Sô vẫn không đủ thực lực để thi hành ý định của mình. Việt Nam, dù ở dưới chế độ nào, vẫn hiểu rằng về lâu về  dài vẫn phải cần mối tương quan với Hoa Kỳ. Dù sao, Nga Sô cũng là một nước có thủy chung với Việt Nam mặc dầu sau này vẫn đặt ưu tiên bán vũ khí cho Trung Quốc. Nga Sô cũng hiểu rằng về phương diện quân sự thì mình có vũ khí nguyên tử và trang bị quân sự khá tốt nhưng về phương diện kinh tế thì chưa chắc đã hơn được Trung Quốc, Đức, Nhật chứ đừng nói là Hoa Kỳ.


CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TẠI HOA KỲ


Cảm giác của người Việt miền Nam đối với Hoa Kỳ là một sự lẫn lộn “bittersweet”. Dù sao điều đáng kính trọng là tính nhân bản của chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ. Trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến, chính phủ Hoa Kỳ đã yêu cầu Quốc hội chuẩn chi 3 tỷ USD để di tản khoảng 1 triệu người miền Nam mà tính mạng họ sẽ bị nguy hiểm khi Cộng Sản tràn vào Sài Gòn. Quốc hội Hoa Kỳ thời đó do đảng Dân Chủ chiếm đa số, chỉ chuẩn chi 750 triệu USD nên Hoa Kỳ chỉ di tản được trong đợt đầu khoảng 250,000 người.


Thuyền nhân Việt Nam là hiện tượng gần một triệu người Việt, kể cả người Việt gốc Hoa vượt biên khỏi Việt Nam bằng đường biển bắt đầu sau chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đầu hàng Bắc Việt , diễn ra cao điểm vào năm 1978-1979 (năm diễn ra chiến tranh biên giới Tây Namchiến tranh biên giới phía Bắc) và tiếp diễn cho đến giữa thập niên 1980. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, có rất nhiều người từ Campuchia, Lào - nhưng đông nhất là từ Việt Nam - đã tìm cách vượt biên bằng thuyền sang các nước khác. Tại Việt Nam, cuộc cải tạo công thương nghiệp và hợp tác hóa nông nghiệp, hàng trăm ngàn quân nhân chế độ Sài Gòn đi học tập cải tạo, chính sách đề phòng và cách ly của Việt Nam đối với Hoa kiều do căng thẳng ngoại giao với Trung Quốc, các hoạt động phá hoại của FULRO ... đã gây ra nhiều xáo trộn. Tại Campuchia, chế độ diệt chủng Khmer Đỏ đã giết hại hàng trăm ngàn Việt kiều sống tại đây và cho quân tấn công vào Việt Nam, ở phía Bắc quân Trung Quốc cũng tấn công vào các tỉnh biên giới, chiến tranh nổ ra khiến nhiều người Việt và Hoa kiều tìm cách vượt biên để tránh chiến tranh. Theo Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) thì trong khoảng thời gian 20 năm từ 1975 đến 1995 có gần 800,0000 người từ Việt Nam tị nạn bằng đường biển.


Image result for Người tỵ nạn Việt nam trên một con thuyền nhỏ


Người tỵ nạn Việt Nam trên các con thuyền nhỏ


Một trong các chủ đề được nhắc đến nhiều nhất là “thuyền nhân”, với những thảm cảnh khi vượt biên, những câu chuyện đau thương mà chưa và có lẽ không bao giờ có giấy bút nào ghi lại được cho đầy đủ. Thời kỳ cao điểm người Việt trong nước vượt biên nhiều nhất là những năm 1979, 1980 trở đi.  Trong giai đoạn này hải tặc Thái Lan bắt đầu hoành hành. Ngoài việc phải chấp nhận sóng gió trên biển cả, họ còn phải đối diện với nạn hải tặc. Không biết bao nhiêu phụ nữ đã bị hãm hiếp, thậm chí bị bắt đi mất tích. Những thanh niên liều mình chống lại hải tặc đều bị chết thảm thương và xác thì bị quăng xuống lòng biển sâu. Có người thì bị giam giữ nơi sào huyệt của bọn chúng, nếu không may được cứu thoát thì không biết số phận sẽ ra sao. Thái Lan là một nước thuần hành theo đạo Phật. Hải tặc Thái Lan đã trở thành một vết nhơ cho dân tộc Thái Lan mà không bao giờ có thể rửa sạch được. Bài viết “Đứa con Lai ... Hải Tặc” trên mạng Vietbao Online ngày 5/5/2018 đã đem lại nhiều xúc động cho người đọc.

Sau đợt di tản đầu tiên, chương trình Ra đi có Trật tự (tiếng Anh: Orderly Departure Program, viết tắt là ODP) mà chương trình diện HO (Humanitarian Operation) là các cựu tù nhân trại cải tạo, có tên chính thức là Special Release Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương trình tái định cư phóng thích đặc biệt tù nhân trung tâm cải tạo), là một chương trình của Hoa Kỳ và cho phép người Việt Nam tỵ nạn tiếp tục nhập cảnh vào Hoa Kỳ. Trong thời gian thực hiện, ODP đã hỗ trợ được trên 600,000 người tỵ nạn Việt Nam đến được Hoa Kỳ. Vào ngày 14 tháng 11 năm 1994, ODP chính thức khép lại. Đến năm 1999, các văn phòng ODP ở Bangkok cũng đóng cửa và chỉ cứu xét các trường hợp đặc biệt từ TP. HCM.

Ngày 15 tháng 11 năm 2005, Hoa KỳViệt Nam ký kết một thỏa thuận cho phép những người Việt vì trễ hồ sơ khi kết thúc Chương trình Ra đi có Trật tự năm 1994 được tái xét đến định cư tại Hoa Kỳ. Thỏa thuận này đã hết hiệu lực vào ngày 20 tháng 6 năm 2008.

Người mà di dân Việt tri ân nhiều nhất chính là Tổng thống Ronald Reagan. Ông là người đã đã nhận ra trách nhiệm của nước Mỹ với những chiến sĩ đồng minh tại chiến trường Việt Nam, đang bị đầy đoạ tại các trại tù cải tạo ghê rợn của Cộng Sản Việt Nam nơi rừng sâu, núi thẳm. Nhờ nhận thức này mà chương trình H.O. được xúc tiến. Năm 1984, TT Reagan phái vị Tướng hồi hưu Vessy sang gặp chính quyền Hà Nội để bàn thảo cách giải quyết vụ này. Sau nhiều kỳ kèo, năm 1986, chương trình H.O. thành hình. Nguyễn Văn Linh với chức vụ Tổng Bí Thư Đảng, theo chân sư phụ Gorbachev, lãnh tụ Liên Sô, cũng bắt chước " Đổi mới, cải tổ " một tí cho "quả bom nhân dân" khỏi nổ tung. Nhờ vậy, loại tù cải tạo mới được thả về với sự đe doạ bị tống đi vùng kinh tế mới . Năm 1988 chuyện tù cải tạo trên 3 năm có thể lập hồ sơ H.O. mới chính thức được loan báo trên đài phát thanh Hà Nội cũng như các đài VOA, BBC v.v ... Chương trình H.O. bắt đầu từ năm 1990 kéo dài cho tới năm 2008 thì mới chính thức chấm dứt với tổng số trên dưới 200,000 tù cải tạo và gia đình được định cư tại Hoa Kỳ.


Từ đợt di tản đầu tiên năm 1975 cho đến những đợt thuyền nhân, rồi đến những đợt ra đi có  trật tự, tù cải tạo H.O., con lai, đoàn tụ gia đình thì trong vòng 43 năm đã đưa số lượng người Việt tại hải ngoại lên đến gần 4 triệu người phân bố không đồng đều tại 103 nước và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới, 98% trong số đó tập trung ở 21 nước tại Bắc Mỹ, Châu Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Áchâu Đại Dương. Riêng Hoa Kỳ đã nhận trên 2 triệu người, sau đó là Pháp, Úc, Canada với mổi nước trên 300,000 người.


Trong 2, 3 năm gần đây lại xuất hiện thêm một thành phần di dân mới dù số lượng chưa có thống kê. Đó là sự hiện diện nhất là tại Cali của giới con cháu của các cán bộ cao cấp cũng như giới “tư bản đỏ” trong nước. Có một lần vợ chồng tác giả vào một quán ăn miền Bắc ngồi cạnh một bàn các thiếu niên nam nữ nói tiếng Bắc 1975. Các em ăn nói hơi lớn tiếng và có vẻ tự hào về sự hiện diện của mình trên đất Mỹ. Nghiên cứu thêm là trong số các thành phần du học Hoa Kỳ có khá nhiều con, cháu thuộc thành phần trung lưu của VNCH cũ. Các gia đình này đã hy sinh tất cả để con cháu được du học Hoa Kỳ. Các em này hội nhập tốt hơn vì ở chung với bà con và chịu sự giáo huấn của người miền Nam. Một số các em đã qua học Hoa Kỳ từ lớp 9. Các em đã bắt đầu tốt nghiệp Cữ nhân và đang học cao hơn. Điều có thể là các cháu sẽ có việc làm, ở lại Hoa Kỳ và cha mẹ sẽ có chân đứng ở 2 bên dù điều kiện sẽ khó hơn nhiều.


Việc mua nhà cửa phần lớn ở California của thành phần mới này cũng được báo chí hải ngoại nêu lên. Thống kê của Hiệp hội Địa ốc Hoa Kỳ tại California cho biết số người Việt Nam trong khoảng giữa 2016-2017 đã bỏ ra khoảng 3 tỷ USD để mua nhà tại California, tương đương với Đức Quốc, Nhật Bản trong khi người Trung Quốc chi đến 24 tỷ USD. Một vài bài viết tại miền Nam California nêu lên sự thâm nhập của thành phần mới vào cộng đồng người Việt hải ngoại “ ... Nét văn hoá, sự thanh lịch của người Việt tị nạn đang dần dần bị … xâm lăng? Cuộc sống chung quanh ta coi thế mà thay đổi chóng mặt. Nếu không để ý, và không có thái độ tích cực để gìn giữ văn hóa của người Sàigòn xưa, thì Little Sài Gòn có thể sẽ mất đi cái tên và ý nghĩa yêu kiều mà người dân tỵ nạn giữ trong lòng bao nhiêu năm nay”. Nhận xét này đúng nhưng hơi tiêu cực. Những người ngoại quốc nhất là người Á Châu định cư tại Hoa Kỳ sẽ mất một thời gian để hội nhập vào xã hội, văn hóa của đất nước này. Cuộc sống tại Hoa Kỳ đầy cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức. Nghĩ rằng mình có tiền tham nhũng của cha ông để phung phí tại Hoa Kỳ thì đó là điều bất hạnh cho dân tộc.

KẾT LUẬN

Đã 43 năm qua kể từ ngày chiến tranh chấm dứt. Như lời cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói, quốc gia được thống nhất nhưng cả triệu người vui thì cũng có cả triệu người buồn. Thế hệ thứ nhất của người Việt hải ngoại, dù rời quê hương năm 1975 hay những năm sau, đã cật lực làm lại cuộc đời, tạo dựng một cộng đồng người Việt tại hải ngoại không thua kém ai trên quê hương mới. Thế hệ thứ hai đã bắt đầu trả lại cho quê hương thứ hai của mình “cả vốn lẫn lời”. Danh xưng tạm dung, người Việt tỵ nạn mang nhiều cảm tính nhưng không phản ảnh được vai trò thực sự của người Việt tại hải ngoại. Có thể nói đa số những người Việt thế hệ thứ nhất tại hải ngoại đã trên dưới ngưỡng cửa 80, ký ức chiến tranh không bao giờ xóa nhòa được nhưng mọi người đã làm xong nhiệm vụ của mình trong một giai đoạn khó khăn nhất của lịch sữ dân tộc, cố gắng sống an bình trong tuổi già với những gì mình có được.  

Trong số các tướng lãnh miền Bắc thì tác giả để ý đến Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên mà tên thật là Nguyễn Hữu là cựu tướng lĩnh và chính trị gia của Việt Nam, một trong những người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng Đường mòn Hồ Chí Minh trong thời kỳ chiến tranh, đưa con đường vận tải chiến lược này thành một trong những mấu chốt thành bại trong chiến tranh. Chiến tranh chấm dứt, ông giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải  đặc trách Chương trình 327 về bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng cho núi rừng Trường Sơn. Ông là một trong những tướng lãnh Bắc Việt đầu tiên cho rằng tất cả chuyện cũ hãy cho nó qua đi, lật qua một trang mới - trang sử Việt Nam phát triển, đi lên từ sự hòa giải, hòa hợp. Một bài báo gần đây ngày 4/5/2018 trên Blog Nguyễn Xuân Diện đã đề nghị lấy ngày 30/4 là ngày thống nhất và cũng là ngày đại đoàn kết toàn dân, không tổ chức kỷ niệm tưng bừng chiến thắng mà tổ chức các lễ tưởng niệm những nạn nhân của chiến tranh trên khắp đất nước, thắp hương tưởng nhớ những người lính tại các nghĩa trang cả 2 phía, thăm hỏi, động viên những người già cô đơn, thương, bệnh binh, những người chịu mất mát do chiến tranh trên toàn quốc bất kể họ ở phía nào của cuộc chiến, tổ chức tìm kiếm và quy tập hài cốt những người lính đang bị mất tích không phân biệt họ thuộc phía nào và dựng tượng đài “Hòa Bình” tại Hà Nội và Sài Gòn để nhắc nhở các thế hệ sau biết nâng cao tri thức để tránh được chiến tranh. Hòa giải và hòa hợp dân tộc để chứng minh rằng người Việt Nam bao dung và nhân văn, từ đó tạo ra đoàn kết để đưa đất nước đi lên.


Trong những biến chuyển gần đây, mọi người không thể giấu được cảm xúc khi thấy dân chúng Bắc và Nam Triều Tiên cùng nhau mang lá cờ màu trắng với bản đồ Triều Tiên thống nhất. Người Triều Tiên đã làm được điều mà người Việt trong và ngoài nước vẫn còn giữ 2 lá cờ chỉ tượng trưng cho hai miền của một nước Việt Nam trong một giai đoạn lịch sữ.


Image result for Cờ Liên Triều

 

Những người Việt tham gia cuộc chiến, dù xem là thắng cuộc hay bỏ nước ra đi, đều mong thấy được những điều tốt đẹp nhất cho dân tộc xảy ra trong thế hệ này nhưng điều này chắc cũng chỉ là ảo tưởng. Nhưng thông tin lý thú nhất lại do một quan chức cao cấp của chính phủ tiết lộ, và được báo Maeil Kyungjae trích lại. Theo quan chức ẩn danh này, ông Kim Jong Un đã nói với ông Moon Jae In ý muốn tiến hành cải cách theo mô hình của Việt Nam: một quốc gia vừa bảo tồn quyền lực, vừa thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển nền kinh tế và duy trì quan hệ hữu hảo với Hoa Kỳ. Kinh tế Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đã mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế đa dạng hóa đa phương hóa mối quan hệ với quốc tế, nên thu hút được đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, người Triều Tiên cũng biết rằng những người lãnh đạo Việt Nam hiện nay đã hầu như không thay đổi được tư duy để đem lại hòa giải thực sự với người Việt tại hải ngoại. Nếu chờ thế hệ này, trong cũng như ngoài nước, chết đi để cho thế hệ kế tiếp bắt đầu những thay đổi thì quả là điều đáng tiếc.



THAM KHẢO

  1. Chương trình Ra đi có Trật tự - Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

  2. Thuyền nhân Việt Nam - Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

  3. Bài viết “Bài viết của Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhân ngày 30/4” trên mạng Zing.VN ngày 28/4/2018.

  4. Bài viết “Trần Đức Thảo nghĩ gì về đế quốc và 30/04?” trên mạng BBC ngày 28/4/2018.

  5. Bài viết “30/04: Bên thắng cuộc và thua cuộc nghĩ gì?” trên mạng BBC ngày 30/4/2018.

  6. Bài viết “Kỷ niệm 30/4 đang bớt đi phần hào nhoáng?” trên mạng BBC ngày 30/4/2018.

  7. Bài viết “Ngày 30/4 trả lời vài câu hỏi” của tác giả Nguyễn Quang Duy trên mạng Đàn Chim Việt ngày 29/4/2018.

  8. Bài viết “Little Saigon, Quận Cam có còn là Thủ Đô của người tỵ nạn?” trên mạng Người Việt Online ngày 18/1/2018.

  9. Bài viết “Một luật sư Hà Nội hiến kế tổ chức ngày 30/4 từ nay về sau” của tác giả Nguyễn Danh Huế trên Blog Nguyễn Xuân Diện ngày 4/5/2018.

  10. Bài viết “Thống nhất và nhất thống” trên đài VOA ngày 4/5/2018.

  11. Bài viết “30/04/2018, một ngày như mọi ngày …” trên mạng Đàn Chim Việt ngày 1/5/2018.

  12. Bài viết “Thuyền nhân vượt biển và cộng đồng Việt tha hương” trên mạng RFA ngày 30/4/2008.

  13. Bài viết “Đứa Con Lai... Hải Tặc” trên mạng Vietbao Online ngày 5/5/2018.

Để đọc các bài viết này, vào Google đánh "Nguyễn Mạnh Trí", click "Nguyễn Mạnh Trí-Các bài viết-Vietbao", click "https://vietbao.com/author/post2917/nmt" và chọn bài muốn đọc.


Nguyễn Mạnh Trí
Tu chỉnh: 1 tháng 6 năm 2018

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.