Hôm nay,  

Ai mất Biển Đông?

18/06/201812:27:00(Xem: 5923)

Ai mất Biển Đông?
 

Brahma Chellaney

Đỗ Kim Thêm dịch

  

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Jim Mattis đã lên tiếng chống lại chiến lược "đe doạ và ép buộc" của Trung Quốc tại Biển Đông, bao gồm việc phối trí các hoả tiển chống chiến hạm, các hoả tiển phòng không, các thiết bị gây nhiễu loạn sóng bằng điện tử, và gần đây hơn, việc hạ cánh các máy bay ném bom có vũ khí nguyên tử tại đảo Woody. Mattis cảnh báo: “đó là hậu quả của việc Trung Quốc coi thường cộng đồng quốc tế."
 

Nhưng hậu quả gì? Hai chính quyền Mỹ liên tiếp là Barack Obama và hiện nay là Donald Trump đã thất bại trong việc đẩy lùi một cách đáng kể để chống lại chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc ở Biển Hoa Nam, đã gia tăng tốc độ bất chấp phán quyết của tòa án trọng tài quốc tế năm 2016, tòa đã vô hiệu hoá các yêu sách về lãnh thổ ở đó.
 

Thay vì thế, Hoa Kỳ đã dựa vào hành động có tính hùng biện hoặc tượng trưng. Ví dụ như việc trong mùa hè này, Hoa Kỳ đã mời Trung Quốc ra khỏi cuộc tập trận hải quân trong vùng Vành Cung Thái Bình Dương (RIMPAC) của 26 quốc gia. Động thái này xem như là dấu hiệu tiềm ẩn cho thấy cuối cùng rồi thì Hoa Kỳ có thể áp dụng một phương sách gay gắt hơn đối với Trung Quốc. Bản thân Mattis đã gọi quyết định này là “phản ứng ban đầu” cho việc quân sự hóa của Trung Quốc về vùng Biển Đông, nơi có diện tích gấp đôi vùng Vịnh Mexico và lớn hơn 50% so với Biển Địa Trung Hải.
 

Cũng tương tự như vậy, các hoạt động tự do hải hành (FON) của Hải quân Hoa Kỳ đang diễn ra thường xuyên dưới thời của Trump hơn so với dưới thời của Obama, vấn đề đã được thổi phồng rộng rãi. Sau chiến dịch gần đây nhất, trong đó một tuần dương hạm có trang bị hoả tiển và một khu trục hạm đi qua Quần đảo Hoàng Sa còn đang tranh chấp, Mattis tuyên bố rằng Hoa Kỳ là "quốc gia duy nhất" đứng lên chống lại Trung Quốc.
 

Nhưng Trung Quốc cũng đã sử dụng các hoạt động thuộc về tự do hải hành của Mỹ để phô trương cho công chúng Trung Quốc biết, nhằm cáo buộc là sau các hoạt động mới nhất về hải quân Trung Quốc, họ đã "cảnh báo và trục xuất" hai chiến hạm của Mỹ. Quan trọng hơn, cả hoạt động FON lẫn loại trừ Trung Quốc ra khỏi cuộc diễn tập RIMPAC đều không giải quyết được những thay đổi về động lực trong khu vực do việc xây dựng đảo và quân sự hóa do Trung Quốc gây ra, đó là còn chưa kể đến việc bắt nạt các nước láng giềng. Kết quả là cả hai việc sẽ không ngăn cản Trung Quốc một cách đáng kể hoặc trấn an của Hoa Kỳ cho các đồng minh.
 

Thực tế cho thấy là sự lấn chiếm tuần tự của Trung Quốc đã làm thay đổi toàn diện các sự kiện ở Biển Đông. Nó đã củng cố quyền kiểm soát của Trung Quốc trong hành lang chiến lược giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, qua đó có hoạt động của một phần ba mậu dịch hàng hải toàn cầu có trị giá 5,3 nghìn tỷ đô la trong năm ngoái. Trung Quốc cũng khẳng định quyền kiểm soát tài nguyên thiên nhiên trong khu vực, bằng cách họ bắt nạt và ép buộc những nước khác cùng có yêu sách đang tìm cách khai thác dầu khí ở các vùng lãnh thổ mà họ tự kiểm soát theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển. Ví dụ như Việt Nam đã bị buộc phải bỏ một dự án khai thác trên thềm lục địa của  mình
 

Có lẽ điều đáng ngại nhất là sự phát triển của Trung Quốc về hoạt động của các căn cứ điều hợp hoạt động triển khai trên các hòn đảo Biển Đông nhân tạo "dường như hoàn chỉnh," như Đô đốc Philip Davidson đã nói với Ủy ban Thượng viện vào tháng Tư trước khi đảm nhiệm Bộ Tư lệnh Lực lượng Thái Bình Dương. "Trung Quốc hiện có khả năng kiểm soát Biển Đông trong mọi tình huống, mà không có giao chiến với Mỹ", Davidson khẳng định.

Đặc tính hoá của Davidson được tiết lộ. Khi Trung Quốc thực thi một phương sách chiến lược dài hạn để tăng cường việc giữ vững Biển Đông và ngày càng xa hơn, thì Mỹ chỉ tập trung vào viễn cảnh chiến tranh toàn diện.
 

Ngũ Giác Đài đã phô trương khả năng phá hủy các hòn đảo nhân tạo của Trung Quốc, mà việc tạo lập này được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã được trích lời là một trong những thành tựu quan trọng của ông. Trung tướng Kenneth McKenzie, Giám đốc tham mưu hỗn hợp, gần đây đã nói: "Tôi sẽ chỉ nói với bạn: Quân đội Mỹ đã có rất nhiều kinh nghiệm trong việc phá sập các hòn đảo nhỏ ở miền Tây Thái Bình Dương."
 

Nếu bùng nổ chiến tranh thì Trung Quốc là nước duy nhất có khả năng bị tổn thương ở Biển Đông, Hoa Kỳ sẽ mất đi sự cạnh tranh chiến lược lớn hơn. Trong khi tìm cách bảo vệ tự do quân sự trong việc hải hành của mình ở Biển Đông, Hoa Kỳ đã nhắm mắt làm ngơ trước sự tấn công lén lút của Trung Quốc về quyền tự do trên biển, bao gồm cả hạn chế quyền của các nước khác trong khu vực.
 

Cách lựa chọn sống còn duy nhất là một chiến lược đáng tin cậy nhằm đẩy lùi việc Trung Quốc sử dụng cưỡng chế để thúc đẩy chủ trương xét lại lãnh hải về lãnh thổ. Như Đô đốc Harry Harris đã cảnh báo hồi tháng trước trong khi rời chức vụ Tư Lệnh Thái Bình Dương của Mỹ, "Nếu không có nhằm mục tiêu trong sự tham gia và cam kết của Mỹ và các đồng minh và đối tác, Trung Quốc sẽ thực hiện giấc mơ về quyền bá chủ ở châu Á".
 

Nói một cách đơn giản, Trung Quốc đang chiến thắng trong trận chiến Biển Đông mà không bắn một phát đạn hoặc trả bất kỳ phí tổn quốc tế nào. Trong khi Trump đang duy trì xu hướng này, nó bắt đầu dưới thời Obama, người theo dõi Trung Quốc đã tạo ra bảy hòn đảo nhân tạo và bắt đầu quân sự hóa các hòn đảo.
 

Sự im lặng của Obama vào năm 2012 khi Trung Quốc chiếm đóng eo biển Scarborough còn đang tranh chấp - một ngư trường truyền thống của Philippine nằm trong khu vực độc quyền kinh tế của họ - đã khuyến khích Trung Quốc bắt tay vào chiến lược xây dựng đảo rộng lớn hơn ở Biển Đông vào năm sau. Vào thời điểm Mỹ nhận ra phạm vi và quy mô của chương trình cải tạo đất đai của Trung Quốc, Nga đã gây chú ý bằng cách sát nhập Đảo Crimea. Tuy nhiên, những tác động chiến lược lâu dài của những gì Trung Quốc đạt được ở Biển Hoa Nam nghiêm trọng hơn nhiều.
 

Chuyện không may là khi nói đến việc hạn chế chủ trương bành trướng của Trung Quốc, Trump dường như không có giải pháp cũng như người tiền nhiệm của ông. Bị ám ảnh phải tập trung về ba vấn đề - thương mại, Bắc Triều Tiên và Iran - Trump đã lặng lẽ theo dõi khi Trung Quốc xây dựng cơ sở quân sự của mình thông qua việc xây dựng cuồng nhiệt các cơ sở vĩnh viễn trên đất mới khai hoang. Hiện nay, Trung Quốc đã bắt đầu chiến lược xâm nhập ở Ấn Độ Dương và Biển Đông, đe dọa lợi ích của nhiều quốc gia, từ Ấn Độ đến Nhật Bản.
 

Biển Đông đã và đang là trung tâm của cuộc thi đua tìm ảnh hưởng ở khu vực Ấn độ -Thái Bình Dương. Do thái độ vô can và thiếu kiên quyết của Hoa Kỳ, nên viễn kiến chung cho khu vực Ấn độ-Thái Bình Dương đưa tới tự do, cởi mở và dân chủ có thể nhường bước cho một trật tự khu vực đàn áp, mất tự do mà Trung Quốc có toàn quyền kiểm soát.
 

***
 

Brahma Chellaney, Giáo sư Nghiên cứu Chiến lược của Trung  tâm Nghiên cứu Chính sách có trụ sở đặt tại New Delhi, Chuyên gia nghiên cứu thuộc Robert Bosch Academy tại Berlin, tác giả của 9 tác phẩm mà trong đó có Asian Juggernaut, Water: Asia’s New Battleground, and Water, Peace, and War: Confronting the Global Water Crisis
Nguyên tác: Who Lost the South China Sea?

https://www.project-syndicate.org/commentary/united-states-policy-south-china-sea-expansionism-by-brahma-chellaney-2018-06

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.