Hôm nay,  

Những Công Án Bất Ngờ

06/07/201812:59:00(Xem: 4843)

Những Công Án Bất Ngờ
 

 NGUYỄN VĂN SÂM


blank     Nhà thơ Viên Linh
     (Etcetera vẽ)

Tìm đến chùa xưa bặt tiếng chuông

Sư già còm cõi tựa chân hương

Nhìn lên tượng Phật người không khác

Lặng lẽ quay ra lạc mất đường.

(Lạc Đường, đoạn 39, Thuỷ Mộ Quan, trang 25)

Không phải tất cả bài nào trong Thuỷ Mộ Quan của Viên Linh cũng có tính chất công án, cũng đưa cho ta những vấn đề phải suy nghĩ, nhưng những bài như Lạc Đường không thiếu. Vừa mô tả cuộc đổi đời, ở đây ngay cả trong nhà chùa, vừa mở ra một con đường trước mắt. Tại sao: Vì đâu? Ý nghĩa?

Người đọc thơ có thể mệt vì phải tự mình giải thích những công án đó. Nhưng thơ không phải để dông dài, để thừa ý, nhất là Viên Linh tự giới hạn mỗi đề tài trong 28 chữ [thất ngôn tứ tuyệt]. Ý phải mở rộng, trong khi chữ đã giới hạn nên tính chất gợi ý được tác giả sử dụng tối đa. Về thăm chốn xưa, nhà hoang cỏ mọc, thềm vắng hiên rêu vách gió lùa. Tang thương, lỡ làng, bẽ bàng, phế hưng, sự lạc đường của khách trở về đều được nói đến.

Mai khách về thăm lại chốn xưa

Chớ buồn chi nhé, chỉ là mơ

Cỏ cây trước ngõ um tùm mọc

Thềm vắng hiên rêu vách gió lùa.

(Mai khách về, đoạn 27, TMQ, trang 21)

Chùa thay đổi màu vôi một đêm nào đó. Trắng, thành vàng (?) đỏ (đỏ). Người sư nữ bỏ bộ hoàng y mặc yếm nâu. Không thể tu được trong một xã hội đổi thay? Bị bắt buộc phải lao động trong một thế giới khước từ tôn giáo? Tất cả đều khả thể nhà thơ không cần nói rõ, chỉ gợi ý đặt một công án dành giải thích cho người đời có thể tìm được. Có thể không.

Ở cạnh chùa xưa dưới gốc cau

Có đêm vôi trắng bỗng thay màu

Sáng ra tôi gặp nhà sư nữ

Bỏ bộ hoàng y mặc yếm nâu.

(Dưới gốc cau, đoạn 6, TMQ, trang 14)

Đáp thai không quan trọng bằng vấn đề được đặt ra, đặt ra thì trước sau cũng sẽ được trả lời thôi. Càng có khả năng đưa ra nhiều đáp số càng tốt.

Một cổ miếu dưới bóng trăng, một con thuyền im bên bờ. Một xác ai nằm giữa ruộng khô. Tại sao? Nhân sinh hệ lụy? Biến đổi tang thương? Hồng nhan bạc mệnh. Bất lực của nhà cầm quyền? Sắt máu của kẻ say mê quyền lực. Người đọc tự tìm đáp số. Bài thơ được viết là xong, phần còn lại để cho người đọc. Thơ đi vào sự suy nghĩ, thơ mở tung trí óc bận bịu của mọi người, đánh bật dậy những tế bào óc xếp nếp sét rỉ vì chén cơm manh áo. Mệt? Thú vị tùy người, nhưng ít ra Viên Linh cũng có công đặt ra, tìm kiếm đề tài, sử dụng kỹ thuật để tạo ra một âm hưởng khi bài thơ đã được khép lại:



Cổ miếu âm thầm dưới bóng đa

Đêm trăng vàng lạnh nguyệt thu già

Bờ đê nước cả thuyền buông mái

Một xác ai nằm giữa ruộng khô.

(Nước Cả, đoạn 20, TMQ, trang 22)

Thơ văn bây giờ buồn. Chết chóc. Đau khổ. Đổi thay. Nhưng nếu những mô tả đó dài dòng, ta sẽ không có thơ. Ở Thủy Mộ Quan những chấm phá được thay vào. Giá trị tố cáo vẫn còn nhưng con đường ý mở rộng hơn. Người đọc góp phần. Người con gái chết trên đường tìm tự do: chỉ có trùng dương theo hộ tang. Xin đặt vòng hoa xuống đại dương. Những chiếc tầu không có người đến bến: dạo cảnh vu vơ mấy xác truồng. Con người lạc lõng trên quê hương thay đổi, trở về xứ lạ một mình anh. Mẹ già ngóng tin con khi đất nước được gọi là thanh bình: mẹ già lãng đãng ngoài sân lạnh. Cuộc thế tang thương đem theo thiên tình lỡ: kẻ bước ngang đường, kẻ bước lui. Người dân Việt túa ra muôn phương kéo theo những vấn đề se lòng: ngày mai nếu trở về quê cũ, hi vọng ta còn tiếng khóc chung. Con người thú tính trước cái chết: em nhỏ trắng thơm mùi thịt ngọt. Ngày thuyền tới bến mất em tôi.

Tất cả là vấn đề kỹ thuật. Viên Linh đang thí nghiệm sự chuyên chở thật nhiều ý trong một số chữ giới hạn. Đó là con đường anh tự vạch. Đã thành công một phần lớn, đã làm giàu cho ngôn ngữ, đã xếp chữ vào nhau và cho chữ một vai trò quan trọng hơn khi bình thường.

Trinh nữ trầm oan nổi giữa giòng

Thân băng ngàn hải lý về sông

Xung quanh không một người than khóc

Chỉ cá trùng dương theo hộ tang.

(Trầm Oan, đoạn 29, trang 22)

 

Chị biệt trần ai chẳng nhập quan

Thả hồn phiêu bạt khắp muôn phương

Ngày sau nếu có người thăm mộ

Xin đặt vòng hoa xuống đại dương.

(Đại Dương, đoạn 71, trang 36)

 

Chiến trận nghe tàn đã bảy năm

Trai đi chiến trận vẫn mù tăm

Mẹ già lãng đãng ngoài sân lạnh

Không biết tìm ai để hỏi thăm.

(Chiến trận, đoạn 38, TMQ, trang 25)

Một sự khám phá nào cũng đáng hoan nghinh và cũng có những giới hạn. Viên Linh đã vượt qua giới hạn đó bằng một sự khéo léo đáng khâm phục, một trong những lý do giải thích sự ủng hộ nồng nhiệt Thủy Mộ Quan từ lúc phát hành cho tới bây giờ.

Nguyễn Văn Sâm

Nguồn: Khởi Hành số 245-246, Jun.-Jul. 2017

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.