Hôm nay,  

Tám Điệp Khúc

09/07/201809:08:00(Xem: 10179)
Tám Điệp Khúc
 
Lê Minh Nguyên
 

(LTS: Tác giả Lê Minh Nguyên thuộc thế hệ trẻ, từng có một thời thơ ấu đi học dưới nhà trường CSVN sau 1975, ghi lại cảm xúc của anh khi nghe ca khúc bolero “Tám Điệp Khúc” rất phổ biến trước 1975 tại Sài Gòn. Anh trùng tên Lê Minh Nguyên với một người viết và một nhà hoạt động đảng phái ở hải ngoại. Bạn Lê Minh Nguyên thế hệ trẻ này cũng có bút hiệu đôi khi dùng là 2 Xu Lẻ (Two Cents). Bạn Lê Minh Nguyên viết như sau.)
  

Tôi nghe qua bài này vào một buổi chiều nọ khi Bố tôi mở nhạc xưa sau bữa ăn. Lần đầu tiên nghe bài này, Tôi có cảm giác phản cảm giống như những cô cậu trẻ khác vì điệu nhạc nghe như nhạc đám ma. Nhưng khi nghe được một đoạn tôi cảm nhận được những lời thơ đầy ý nghĩa được dựng lên thành một bài hát. Nó làm cho Tôi có cái cảm giác như có một luồng điện sau gáy y như mỗi khi Bố và Mẹ tôi kể những câu chuyện về một đất nước Việt Nam Cộng Hoà năm xưa đầy vẻ vang, niềm kiêu hãnh “Hòn Ngọc Viễn Đông”, về những thành tựu của những người con của miền Nam Việt Nam. Bên cạnh đó, Tôi cũng được nghe những chuyện ác của những người "Cộng Sản". Mẹ tôi kể mỗi khi có chiến dịch gì đó thì Cộng Sản nằm vùng sẽ tới đòi góp viện từ tiệm tạp hoá ở dưới quê của Bà Ngoại, nếu không CS doạ sẽ gài mìn sập tiệm nên ai trong nhà cũng phải bán đồ để góp, rồi không những vậy còn "đóng góp" những món gì họ thấy bán trong tiệm. Còn trên Sài Gòn thì những quán cà phê, rạp chiếu phim, những nơi hội tụ nhiều người là những điểm nóng thường xuyên bị gài mìn như những hành động khủng bố thời nay. Những nơi này thì lính VNCH có, lính Mỹ có, dân thường có.
 
Tôi cũng biết trong khoảng thời gian tương tự, miền Bắc Việt Nam cũng đang bị đánh bomb liên tục, nhiều người cũng đang sống trong khốn khổ vì cuộc chiến đang xảy ra giữa chế độ Cộng Sản và Tư Bản. Nhưng nếu hỏi một người lính Cộng Sản chủ nghĩa xã hội, công cuộc Cách Mạng, Mác Lê Nin là gì? Tôi nghĩ sẽ không một người lính nào có thể trả lời câu hỏi đó. Mẹ tôi kể rằng năm xưa có những người “Bắc 54” trốn Cộng Sản vào miền Nam để sống, nhưng chưa bao giờ có người miền Nam trốn Việt Nam Cộng Hoà ra Bắc sống, ngoại trừ những thành phần bị tuyên truyền ra Bắc “tập kết” để mà tìm đường “giải phóng” một đất nước đang thịnh vượng Việt Nam Cộng Hoà. Người ta hay gọi những thành phần ưu tú đó là “Ăn cơm quốc gia mà thờ ma cộng sản”. Làn di dân đó chiếm rất nhiều thành phần ưu tú và có học, bên cạnh đó cũng có những người bình thường muốn tìm một miền đất đầy hứa hẹn khác. Có phải đây cũng là một lí do vì sao có Cộng Sản nằm vùng vì họ trà trộn vào trong làn sóng di dân đó? Vậy tại sao họ vẫn được tiếp nhận? Trong khi nếu người miền Nam Việt Nam bình thuờng nào bước qua khỏi ranh giới đến đất Bắc Việt là bị bắn bỏ? Đó là 2 chữ Tự Do. Nếu hỏi bất cứ người miền Nam Việt Nam nào vào thời điểm đó so với người miền Bắc thì sẽ có 2 câu trả lời rất khác biệt. Người miền Nam thì sống trong một cuộc sống đầy đủ có gạo lúa để ăn, có chủ trương chính sách của chính phủ, không giàu nhưng cũng không đói rách ăn xin, con em có thể đi học những kỹ năng tân tiến của thế giới. Còn miền Bắc, họ được nhồi sọ là miền Nam cần được giải phóng vì quá nghèo đang bị đô hộ và nếu trai tráng, thanh thiếu niên không tham gia chiến dịch thì sẽ gia đình sẽ bị cắt lương thực. Mẹ tôi kể khi quân “Giải Phóng” tràn vào năm ‘75, nhà Bà Ngoại tôi ở dưới Tiền Giang có mấy bình “ắc-qui” gắn với máy phát điện để đốt đèn cho sáng buổi tối, thì có lính Cộng Sản tụ tập một đám cũng khá đông đứng nhìn hoài vẫn không hiểu tại sao nó có thể làm cho bóng đèn sáng. Rồi Mẹ cũng kể có bà con của người bạn từ Bắc vô sau giải phóng mang theo chén đá gói trong thùng để tặng vì nghe dân miền Nam đói khổ ăn cơm bằng gáo dừa. Trong buổi ăn thì gia đình bạn Mẹ tôi đem chén sành chén kiểu ra để đón tiếp, sau bữa ăn thì gia đình đó mới hỏi có cái gì trong thùng sao không mở ra để đó chi. Lúc đó người bạn mới nói là nghe tuyên truyền trong này đói khổ lắm, nên muốn đem vô tặng.

Khi tôi còn nhỏ đi học ở bên Việt Nam, tôi được dạy về những vẻ vang, những người anh hùng của Cách Mạng, tôi cũng có niềm tự hào là người Việt Nam mình đánh đuổi một đế quốc Mỹ xăm lăng. Và khi qua đến bên Mỹ, tôi nghe về cờ vàng ba sọc đỏ và thấy làm lạ là tại sao những người này họ lại hô hào “chống Cộng”, vẫn khư khư giữ những quá khứ đau buồn. Đến khi Bố Mẹ tôi kể những câu chuyện về một đất nước Việt Nam Cộng Hoà ngày xưa, Tôi bắt đầu nổi máu tò mò tìm kiếm những thông tin về cuộc chiến tranh Việt Nam. Tôi nhận ra là tại sao những gì Tôi tìm được từ lịch sử trong sách của Mỹ lại khác với những gì mình đã học trong sách giáo khoa? Thật ra vì thiếu viện trợ và chính trị nên mới có một cái kết của ngày 30 tháng 4 năm 1975. Bố tôi hay nói, “Lính Việt Nam Cộng Hoà năm xưa cũng dữ dằn không thua kém ai chứ không phải giỡn chơi.” Giờ Tôi mới hiểu cái câu, “Thắng làm vua, thua làm giặc.” Người thắng có thể sửa đổi lịch sử, viết theo những gì họ muốn viết.


Khi lớn hơn xíu nữa, Tôi bắt đầu nghe “nhạc Vàng” vì lời bài hát có ý nghĩa, không chỉ nói về tình yêu, mà nói về đất nước, thiên nhiên, tình thương nhân loại; không như những bài hát trẻ bây giờ chỉ nói về khoe của, trai gái, chia tay vì những lý do nhảm nhí, đến điệu nhạc còn đạo từ nước ngoài. Tôi năm nay 29 tuổi, đã từng sống ở hai đất nước, phục vụ cho Hải Quân Hoa Kỳ từ 18-24 tuổi, từng đi đây đi đó thấy và học được nhiều điều. Có những bạn trẻ ở đất Việt sẽ nghĩ tôi là phản động, mất gốc vì có những suy nghĩ chống lại chế độ hiện tại. Nhưng không phải trên tất cả những tờ tiền, giấy văn bản có dòng chữ: “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc”, vậy có thực sự là Tự Do hay không khi mà bạn không dám nói lên sự thật hoặc chỉ là một ý trái chiều nhằm đóng góp? Thậm chí Bố Mẹ tôi còn nói rằng lúc còn ở Việt Nam, không muốn nói nhiều về lịch sử năm xưa vì sợ chủ trương “Con tố Cha, Vợ tố Chồng” của một đất nước Tự Do như Việt Nam. Độc Lập? Hạnh Phúc? Những tin tức gần đây có cho thấy là đất nước Việt Nam sau bao nhiêu năm giải phóng đó có Độc Lập không? Có Hạnh Phúc không? Hay là đi lùi với thời đại vì những năm tháng bị che mắt, bịt tai? Thay vì lắng nghe và tìm hiểu thêm về sự thật, tại sao lại đi cắn lại những người muốn tốt hơn cho quê hương? À, tôi quên rằng ở Việt Nam không có cái gọi là Tự Do và Nhân Quyền. Mà cho dù người dân có biết cũng đâu làm được gì, đâu có quyền tự do ngôn luận và tự do súng đạn như bên Mỹ. Và giờ tôi cũng nhận ra là tại sao Luật Hiến Pháp Mỹ được viết gần 250 năm trước có 2 điều luật này đứng đầu tiên.
 

Tôi viết lên những điều này không phải vì tôi căm thù người dân miền Bắc, những người lính cộng sản vì họ cũng là con người, sinh ra và lớn lên như mọi người khác, cũng có Mẹ và Cha, cũng có một gia đình. Nhưng vì thiếu kiến thức, thông tin, và đặc biệt hơn nữa là họ bị ép buộc bởi những tham vọng của một số ít người nắm quyền nên họ phải làm theo. Tôi được dịp may đóng quân bên Nhật khi còn phục vụ Hải Quân Hoa Kỳ, và nhờ đó có cơ hội về thăm Việt Nam cũng không ít lần. Đã bao nhiêu lần Tôi gặp những người xích lô, honda ôm, bơm bánh xe là cựu chiến binh VNCH và kể cả thương binh liệt sỹ lính Cộng Sản? Đã bao nhiêu lần tôi nghe về chuyện những Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng bị chính quyền phớt lờ? Bạn tôi học Đại Học ra với ngành kiến trúc xây dựng, có kinh nghiệm vài năm vì đã từng làm trong một công ty xây dựng nho nhỏ, nhưng vì không quen biết, làm lương trung bình cũng chỉ vài triệu, sống tàn tàn. Khi bạn tôi đi xin ở những nơi khác cho dù với kinh nghiệm và bằng cấp cũng không thể kiếm được một nơi tốt hơn. Ở đất Sài Gòn, nhiêu đó không ăn nhằm gì hết chỉ đủ tiền cho chi tiêu, không dư bao nhiêu. Quan tham thì có tiền xây biệt thự, cho con cái đi du học rồi tới già cũng kiếm đường đi nước ngoài hưởng trên đồng tiền xương máu của dân. Trong khi đó thì tỉ lệ người nghèo rất đông, sống trong khu ổ chuột của vùng ven Sài Gòn. Nếu như ai đó nói với tôi là Việt Nam đâu phải như vậy, tân tiến, đã đổi mới và sạch sẽ nhiều hơn xưa. Xin trả lời là những cái bạn thấy, đã đến tận hưởng là dành cho những người có tiền và dân du lịch. Tôi đã đi qua những nơi sang trọng đó và tôi cũng đã đến những nơi sống của 80-90% dân số còn lại và cũng biết phần nào về cuộc sống của họ. Biết bao nhiêu người ăn xin ở trên những con đường của Sài Gòn? Biết bao nhiêu cô làm gái đứng đường, hoặc gái cao cấp vì xã hội và nhân phẩm càng ngày càng xuống cấp? Biết bao nhiêu đứa trẻ lang thang bán vé số dạo, ăn xin có tổ chức vì không ai lo cho ăn cho học đến nơi đến chốn? Đừng thấy những đoạn phim, mẩu thông tin được chỉnh sửa với nội dung được sắp đặt sẵn mà đánh giá một điều gì. Tự mình tìm câu trả lời cho mình, đừng để người khác truyền nhiễm. Mình có thể yêu quê hương, yêu đồng bào nhưng không nhất thiết đồng ý với chính quyền khi họ sai. Đừng bao giờ nhầm lẫn hai điều này, đó mới gọi là yêu tổ quốc và dân tộc.

Và tất cả làm Tôi suy nghĩ, nếu như, chỉ là nếu như thôi... Bây giờ còn một chế độ VNCH thì mọi chuyện sẽ như thế nào? Bây giờ Việt Nam đã rất tồi tệ rồi, chẳng lẽ nó có thể tồi tệ hơn được nữa? Tôi cũng không biết nữa, và tôi sẽ vĩnh viễn không bao giờ biết được. Nhưng mỗi khi nghe Bố và Mẹ tôi kể về cuộc sống VNCH hơn 40 năm về trước, Tôi luôn luôn cảm nhận được một niềm kiêu hãnh qua ánh mắt và giọng nói của họ.

Và trong bài hát, đây là điệp khúc riêng tôi thấy hay nhất:
”Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu.
Nằm nghe tiếng hát đu đưa.
Dìu anh trong giấc ngủ.
Ôi tiếng ru ru ngọt ngào.
Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời.“

Những lời thơ như những tiếng ru đưa người nghe vào một giấc mơ được trở về quê hương thật sự của mình, có tình yêu của Mẹ, trên mảnh đất quê cha đất tổ của những người con xa xứ.
Tất cả mọi chuyện đã xảy ra, đang xảy ra ở Việt Nam làm tôi nhớ đến câu chuyện tôi học qua trong college “Allegory of the Cave” hoặc “Plato’s Cave” tạm dịch là Câu Chuyện Của Cái Hang được viết bởi nhà triết lý học nổi tiếng Plato hơn 2000 năm trước. Hai chữ Tự Do nghe rất đơn giản, nhưng không phải dễ dàng để có.

“Knowledge is power. To divide and conquer, take away people’s knowledge.”

Lê Minh Nguyên
07/08/2018.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.