Hôm nay,  

Lá Rụng Về Cội

18/08/201819:35:52(Xem: 8380)
BUI TIN 1_bui-tin-dinh doc lap-30 thang 4
Tổng Thống Dương Văn Minh ngày 30-4-1975 ở Dinh Độc Lập. Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu (thứ 2 từ trái) và nhà báo Bùi Tín (nón cối).

BUI TIN 2 va tuong CSBV Nam Long trua 30 thang 4 o Dinh Doc Lap
Nhà báo Bùi Tín và Tướng CSVB Nam Long trưa 30-4-1975 ở Dinh Độc Lập.

 
Nguyễn Thị Cỏ May

 
Ngày 11 tháng 8/2018, Việt nam có 2 nhà ly khai lớn ra đi: Ông Bùi Tín và Ông Tô Hải. Chỉ trước sau 15 giờ. Cả hai đều hưởng thọ 91 tuổi. Sanh và chết cùng năm.

Ông Tô Hải mất ở Sài gòn (Phú Nhuận), tang lễ ở Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu thế hôm 13 tháng 8. Ngoài gia đình, có hơn trăm người tham dự tang lễ vì lòng tiếc thương và kính trọng người nghệ sĩ đã can đảm vứt bỏ cái cộng sản để trở thành người Việt nam lương thiện.  Ông mất cũng không phải ở quê quán, sanh ở Hà nội, nguyên quán Thái Bình. Trong những ngày cuối đời, ông được bà vợ chăm sóc.

Ông Bùi Tín, nhà báo, cựu đại tá quân đội Bắc việt, sống lưu vong rồi tỵ nạn cộng sản tại Paris từ sau năm 1990. Xa hẳn gia đình cho tới ngày mất. Suốt thời gian nằm bịnh viện ở thành phố Sevran và sau cùng chuyển qua bịnh viện ở thành phố Montreuil (đều ở ngoại ô Đông-Bắc Paris) để chữa trị thận, ông được nhiều bạn bè, đủ lứa tuổi, đủ địa phương, thay phiên nhau tới thăm viếng ông mỗi ngày. Thấy bịnh tình của ông quá xấu, chị CD liên lạc với 2 người con của ông ở Hà nội và Vancouver, Canada, báo tin. Nhơn dịp này, ông có nói chuyện được với con. Ông mất ở đây.

Người ta thương nhạc sĩ Tô Hải vì ông là "Một Thằng hèn", khác với «Thằng thẻ đỏ, tim đen». Cũng như bạn bè thương quí ông Bùi Tín, từ một đảng viên cộng sản hơn 40 năm tuổi đảng, được đào tạo ở trường đảng cao cấp, nắm giữ Cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản, cựu đại tá, mà chỉ trong thời gian ngắn, trong vòng mươi năm, ông đã chuyển biến tư tưởng, trở lại một người Việt nam bình thường, thương nước, thương bạn kháng chiến, yêu tự do, dân chủ, trọng nhơn quyền. Từ tránh chào cờ Quốc gia, chỉ ít lâu sau, ông chào rất tự nhiên. Từ chỉ phê phán những đảng viên hư hỏng, ông phủ nhận cả vai trò độc tôn toàn trị của đảng cộng sản. Từ né tránh đụng chạm Hồ Chí Minh, ông thẳng thắng lên án Hồ Chí Minh vì đem cộng sản về Việt nam mà ngày nay đất nước mất vào tay Tàu,… Ông cởi bỏ hẳn cái bả cộng sản khỏi con người của ông để phục hồi trọn vẹn con người Việt nam theo truyền thống văn hóa nhơn bản Việt.

Một hiện tượng phi thường! Thật vậy vì chuyển biến tư tưởng vô cùng phức tạp. Nó đòi hỏi thời gian dài. Mà thời gian thay đổi tư tưởng ở Cụ Bùi Tín quá ngắn.

Nay Bùi Tín không còn nũa. Nhớ Bùi Tín chỉ nhắc lại những kỷ niệm.

Chuyến đi tưởng gặp khó khăn

Nhắc lại chút lịch sử Việt nam liên hệ tới Tướng Leclerc. Giữa tháng 10/1945 và tháng 1/1946, lực lượng của Tướng Leclerc từng bước ổn định tình hình cựu Đông dương sau khi Nhựt đầu hàng. Miền Bắc và riêng Hà nội vẫn còn dưới sự kiểm soát của Việt minh. Ngày 6/3/1946, Hồ Chí Minh ký thỏa hiệp với ông Sainteny, Ủy viên Cộng hòa Pháp, để Việt nam được Pháp nhìn nhận là một nước tự do, tức không còn bị đô hộ như trước đây, nhưng nằm trong hệ thống Đế quốc Pháp. Nhờ thỏa hiệp này, tình hình Bắc việt được khai thông. Ngày 18/6/1946, quân viễn chinh của Leclerc tiến vào Hà nội. Ngày 26/3/1946, Leclerc gặp Hồ Chí Minh rất tốt đẹp. Ông ủng hộ một giải pháp chánh trị cho vấn đề Việt nam. Qua tháng 5/1946, lực lượng Leclerc kiểm soát toàn vùng Đông dương. Hội nghị Fontainebleau thất bại, Hồ chí Minh tuyên bố kháng chiến để có cớ chạy lên Việt Bắc lánh nạn.

Phía bên Việt minh có Tướng Giáp, người chống lại quân đội Pháp lúc đó. Năm 1990, gia đình Tướng Leclerc tổ chức lễ khai mạc Fondation Leclerc (Paris). Họ mời cựu đối thủ của tướng Leclerc tham dự. Giáp không đi được, vừa bị Lê Duẩn và Lê Đức Thọ không cho phép, vừa sợ qua Pháp sẽ bị cựu chiến binh Pháp tra hỏi ông về cựu tù binh Pháp. Bùi Tín là nhà báo nói được tiếng Pháp, cũng là quân nhơn dưới trướng của Tướng Giáp, được đề nghị thay mặt ông Giáp, cầm thư của ông Giáp qua tham dự.

Theo Bùi Tín kể, việc ông đi đã được chấp thuận nhưng chẳng còn mấy ngày nữa phải đi mà ông chưa nhận được giấy tờ gì hết. Sốt ruột, ông nói chuyện với Gs Vật lý Nguyễn Hoàng Phương. Ông này rủ ông Bùi Tín đi coi bói. Hai người ăn mặc xệch xoạc, cởi xe đạp đi ra khỏi Hà nội mươi km, tới nhà một cô gái nhỏ mười mấy tuổi nhờ coi dùm chừng nào ông đi Pháp được. Vừa dựng xe, bước vào nhà, cô gái nói ngay thắc mắc của ông Bùi Tín, xác nhận việc đi đã có rồi, chỉ nay mai là đi. Và đi xa, đi phương Tây, đi không trở lại. Cô gái nói cả tên, chức quyền của ông Tín đã làm cho ông hoang mang vô cùng.

Trong lòng, ông Tín muốn đi ra nước ngoài để có điều kiện vận động đưa cậu con trai và vợ chưa cưới của nó vượt biển, vừa tới Hồng kông, đi định cư vì chúng nó tới đúng vào lúc trại tiếp cư Hồng không đóng cửa, Ông đã thực hiện được điều quan trọng này nhờ người bạn, ký giả Mỹ, tới Hồng kông lãnh vợ chồng cậu con trai, xin cho đi định cư ở Canada.

Nhơn đây tưởng cũng nên nhắc lại vài dòng về Gs Hoàng Phương. Ông vốn dạy Vật lý ở Đại học Hà nội. Sau này, ông say mê vấn đề Tâm linh. Ông nghiên cúu và viết nhiều về thuyết Trường sinh học làm một khoa học mới. Lúc dẫn ông Tín đi coi bói  là lúc ông mê ngoại cảm. Và ông làm Hội trưởng Hội Ngoại cảm ở Hà nội khi những hoạt động ngại cảm được công khai. Ông muốn khai thác ngoại cảm để tìm những tài nguyên còn chưa biết của Việt nam. (Dường như về sau này, ông ở với bà Lệ, mẹ của Ls Lê thị Công Nhân).

Những ngày đầu tới Paris

Sau lễ ở Fondation Leclerc, Cụ Tín tới Hội chợ "Nhơn đạo" của đảng cộng sản Pháp tổ chức hàng năm tại thành phố La Courneuve. Ông Thị trưởng cũng là cộng sản. Trước khi mất, Cụ Tín cũng ở tại đây, trong một căn nhà khá khang trang gồm một phòng ngủ rộng, phòng khách và phòng ăn chung, nhà bếp, nhà tắm và vệ sinh riêng. Cửa vào khóa tự động 2 lớp, có interphone. Tiền nhà kể như không có vì an sinh xã hội phụ cấp. Với trợ cấp già hằng tháng 750€, trả chi phí nhà, điện thoại, điện nước, ông còn lại đủ ăn. Bịnh hoạn, thuốc men, nhà thương hoàn toàn miễn phí, cả xe cứu cấp.


Trong thời gian chờ ngày về Hà nội, ông tình cờ gặp một bà Việt Nam (bà B.), chồng người Pháp, đảng viên đảng cộng sản Pháp, nhà ở ngoại ô phía Tây-Nam Paris. Đây là gia đình sanh sống ở Pháp lâu năm, có công ăn việc làm, nhà cửa đàng hoàng. Dĩ nhiên bà là "Việt kiều yêu nước" nên gặp Bùi Tín, mừng rỡ, rước về nhà giúp ông nơi ăn ở trong thời gian còn ở Paris.

Có chỗ ở đầy đủ tiện nghi, con trai được đi định cư, Cụ Bùi Tín thanh thảng tâm thần nên nghĩ phải làm gì thay đổi Việt nam như các nước Đông Âu sau khi Liên-xô sụp đổ. Ông viết "Kiến nghị của một công dân", gởi cho BBC công bố.

Sau khi Kiến nghị được BBC công bố, Cụ Tìn rất hài lòng, bèn đem bản Kiến nghị đưa cho bà B., chủ nhà đọc để chia sẻ quan điểm của ông. Không ngờ bà này đọc xong, nổi giận đùng đùng, mắng ông là người phản đảng, phản đường lối bác Hồ. Bà đuổi ngay ông ra khỏi nhà.

Thế là Cụ Bùi Tín ôm gói ra đi.

Sau này, nói chuyện mới biết lúc đó ông tin tưởng ở ông Gíáp là người có đủ điều kiện đứng lên, phất cờ dân chủ. Chắc chắn sẽ có đông đảo quân nhơn, cả cựu quân nhơn theo ông. Một cuộc cách mạng dân chủ thật sự và ôn hòa. Nhưng về sau, qua nhiều lần ông viết thư riêng, kín đáo gởi về cho bà Bích Hà, vợ ông Giáp, để đưa lại ông Giáp. Nhưng ông Giáp không dám có một lời nói cho dân chủ. Ông quá sợ. Sợ bị mất cái đang có và cả cái sẽ được. Thế là ông Tín không nghĩ tới ông Tướng Giáp nữa. Ông trở về với chính ông. Ông tận lực. Lòng người muốn, nhưng ông Trời chưa chịu. Thế là Cụ đành ở lại xứ Tây cho tới ngày mất.

Duyên gặp gỡ

Lúc ông Bùi Tín tới Paris, thay mặt Tướng Giáp, dự lễ Fondation Leclerc, cụ Nguyễn Mạnh Hà có cho biết tin và có ý bảo nên gặp ông Tín để biết về ông Giáp vì Cụ Hà có suy nghĩ ông Gíáp có thể có vai trò như tướng Jaruzelsky của Ba-lan.

Tới khi Cụ Hà mất. Tại tang lễ ở nhà thờ Ivry, mới có dịp gặp ông Tín. Tang lễ xong, có thì giờ nói chuyện với ông về vai trò ông Gíap và Việt nam thay đổi dân chủ theo mô hình đông Âu. Ông rất đồng ý. Từ đây, thường gặp nhau. Và gặp thêm nhiều người. Tất cả trở thành bạn với nhau.

Rời khỏi nhà bà B., ông gặp một người cộng sản cũ đang xin tỵ nạn ở Paris và đang chờ đón gia đình qua đoàn tụ nên đã xin được căn nhà khá rộng, đồng ý cho ông ở tạm.

Một hôm cuối năm, hai người làm tiệc mừng năm mới, khui Champagne, chúc nhau những điều tốt đẹp trong năm mới. Khi ngà ngà hơi men, tay chủ nhà không biết vì bị «ông ứng bà hành» hay sao, bổng hét lên, đuổi ông Tín đi ngay. Nếu không, anh ta ném hết đồ đạt, giấy tờ của ông ra ngoài, trong lúc trời đang đổ tuyết và mưa lất phất. Ông Tín chỉ sợ giấy tờ, tài liệu báo chí của ông bị ướt. Ông giận quá làm máu lên cao. Ông bèn điện thoại ông bạn (ông H.) ở Le Blancmesnil báo tin. Ông này cho mình biết, nhờ báo cảnh sát can thiệp. Phần ông, ông kêu Pompiers (lính cúu hỏa). Cụ Tín được đưa ngay tới nhà thương ở Vaujours nằm điều trị tim mạch mất gần 20 ngày.

Ra nhà thương nhận hóa đơn hơn 80 000 quan (francs). Làm sao Cụ Tín thanh toán được. Nhờ có cảnh sát để ý an ninh cho ông trong thời gian ông nằm ở nhà thương, ông trình bày với cảnh sát trường hợp của ông. Sau đó, ông Pasqua, Tổng trưởng Nội vụ cắt một ngân khoản của ngân sách hợp tác khoa học kỹ thuật giửa Pháp và Việt nam, từ thời VNCH mà sau này Hà nội tiếp tục thừa hưởng, để chi trả cho nhà thương. Bị mất số tiền lớn, Tòa Đại sứ Hà nội ở Paris không tiếc lời nguyền rủa ông Tín.

Ông Pasqua nói cho Bùi Tín biết việc này, ông chỉ làm được một lần mà thôi. Nay hết bịnh, ông Tín phải về Hà nội hoặc xin tỵ nạn cộng sản để ở lại.

Thế là ông Tín xin tỵ nạn chánh trị. Hồ sơ của ông được giải quyết rất mau. Được giấy tỵ nạn, ông vứt thông hành CHXHCN và ông thoải mái đi Mỹ, đi Canada, đi các nước Âu châu. Với tư cách tỵ nạn cộng sản, ông hưởng đầy đủ quyền lợi về mặt an sinh xã hội của Pháp.

Tang lễ Cụ Bùi Tín

Suốt thời gian sanh sống ở La Courneuve, cụ Tín tuy xa gia đình nhưng bù lại, cụ có nhiều bạn bè, đủ lứa tuổi, thương quí Cụ. Thường lui tới thăm viếng Cụ.

Cách nay mười năm, trong nhóm bạn ở một thành phố ngoại ô Paris, có 4 Cụ tới tuổi 80. Anh em họp nhau tổ chức lễ chúc Thọ cho các Cụ. Cụ Bùi Tín nói lời cảm ơn làm cho hơn mươi người có mặt hôm ấy đều chảy nước mắt. Cụ cũng không cầm được nước mắt. Cụ nói ở tuổi này mà sống một mình xa quê hương, xa gia đình, đau buồn vô cùng. Nhưng nghĩ lại, Cụ cảm thấy vẫn còn hạnh phúc bởi Cụ có nhiều bạn ở khắp nơi. Ai cũng thật lòng thương Cụ. Dĩ nhiên trong số bạn này, không có người cộng sản, cả Việt kiều yêu nước.

Cuối năm rồi, một nhóm bạn ở Pontoise nghe Cỏ May tôi nhắc lại ý muốn tổ chức chúc Thọ cho 3 Cụ còn lại: Cụ Tín, Cụ Hiệp và Cụ Trí. Chưa kịp làm thì nay Cụ Tín đã từ giã mọi người thân.

Tang lễ của Cụ Bùi Tín cũng sẽ do bạn bè lo liệu giúp gia đình vì đều ở xa. Sẽ có người con gái và con trai của Cụ tới để tang cho bố.

Ngày tang lễ dự liệu là 27/8, hỏa táng, theo nghi lễ Phật giáo. Cụ đã soạn sẵn Cáo phó cho Cụ, cả hợp đồng với nhà mai táng. Trong Cáo phó, Cụ ghi Pháp danh là Thành Tín. Cũng là bút danh của Cụ. Năm 1995, Cụ qua Sydney tham dự Hội thảo về sự nghiệp Hồ Chí Minh do Tập Họp đồng Tâm tổ chức. Tại nhà trọ, Cụ đưa cho coi thư của cô cháu ngoại hơn mươi tuổi viết thăm Cụ gọi Cụ là "Ông Thất Tín" để nhái giọng báo chí ở Hà nội chửi rủa Cụ.

Nay Cụ Bùi Tín từ giã gia đình mà từ 28 năm qua Cụ sống xa. Từ gĩa "gia đình thứ hai" của Cụ là bạn bè khắp nơi. Nhưng chắc chắn Cụ sẽ về lại quê hương, gặp lại người thân mà Cụ đã mất do tuổi già, bịnh tật, do chiến tranh.

Cụ như chiếc lá, vàng đúng độ, rồi rơi rụng. Chiếc lá đã sống đủ đời sống của chiếc lá. Cụ Bùi Tín cũng đã sống trọn vẹn đời một người. Cụ ra đi chớ không phải chết!

Trong Cáo phó, Cụ ghi Pháp danh để xác định nơi Cụ có nguyện vọng tới. Sống, Cụ sống đúng là người Việt nam vì cụ yêu nước nên đã vứt bỏ thẻ đảng, vứt bỏ 9 huy chương, huân chương của cộng sản. Khi chết, Cụ vẫn giữ nếp sống tốt đẹp truyền thống của người Việt nam, trong dòng văn hóa dân tộc.

Nguyễn thị Cỏ May

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.