Hôm nay,  

BÁN SÁCH & ĐI TÂY

04/12/201816:27:00(Xem: 4834)

* BÁN SÁCH

Khoảng đầu năm, nhân một hôm ngồi nói chuyện, bà xã tôi gợi ý về việc vào mùa Thu năm nay (2012) chúng tôi kỷ niệm 25 năm ngày lấy nhau. Hỏi tôi có muốn tổ chức gì hay muốn đi chơi ở đâu trong dịp kỷ niệm này? Tôi ngỏ ý, nếu có thể được, thì nên đi Tây một chuyến! Vấn đề được đặt ra là tài chánh. Chúng tôi đã nghỉ hưu hơn năm nay, tiền hưu phải gói ghém để chi dùng hằng tháng hoặc chỉ dư chút đỉnh; như vậy tiền đâu để thực hiện chuyến Tây du? Suy tính và bàn bạc một lúc, bà xã tôi mới đưa ra đề nghị: tôi gom các truyện ngắn đã viết (gần 20 bài), chọn lựa lại, làm một tuyển tập truyện ngắn. Bán sách để kiếm tiền đi Tây! Một ý kiến hay, có thể làm được. Tôi đồng ý và bắt đầu lao vào việc thực hiện cuốn sách từ trung tuần tháng 2 năm 2012.

Anh Đinh Bá Tâm (nhà văn Đinh Trần) một người bạn tù với tôi, thời gian chúng tôi ở trại Thanh Cẩm (Thanh Hóa). Từ năm 2008, qua những lần gặp mặt hoặc qua điện thoại hoặc điện thư, anh Tâm đã khuyến khích tôi, còn hơn thế nữa, đã “thúc bách” tôi … ra sách. Anh đã gợi ý và hướng dẫn tôi từng chi tiết trong việc thực hiện một cuốn sách. Tôi đã ghi chép đầy đủ và có một “hồ sơ” khả tín về việc này!

Cái đích về thời gian là làm sao tập truyện ngắn của tôi phải hoàn tất để kịp ra mắt nhân dịp Đại Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Thanh Cẩm Kỳ II được tổ chức tại California vào hai ngày 26 và 27 tháng 5 năm 2012. Nhờ sự tiếp tay về mặt kỹ thuật trong việc “lay out” và làm bìa của cháu Tôn Thất Anh Khoa (mẹ cháu là em ruột bà xã tôi) nên việc thực hiện Tuyển tập Truyện ngắn “Vùng Trời Quê Bạn” của tôi đã hoàn thành vào cuối tháng 3/2012.

Vì tôi quen biết khá nhiều bà con, bạn bè ở Utah và một số ở các tiểu bang khác nên việc bán sách của tôi thật là trôi chảy (đã bán hết) và số tiền bà con, thân hữu mua ủng hộ mà tôi đạt được thật là bất ngờ! Tôi cho in 500 cuốn với giá bán là 14 Mỹ kim một cuốn. Chỉ có một số rất ít người trả với giá 14 hoặc 15 Mỹ kim/1 cuốn. Phần lớn người mua trả với giá ủng hộ mà tôi ghi nhận được: 20, 30, 40, 50, 100, 200, 300 và 500 Mỹ kim/1 cuốn. Đặc biệt nhất là một thân hữu tại Utah, dấu tên, chỉ ghi tên ngoài bì thư là “Người Ái Mộ” kèm một bức thư đánh máy (in từ computer) và Money Order một ngàn Mỹ kim với nội dung chúc chúng tôi có một chuyến Tây Du vui vẻ!

Nhân đây,chúng tôi xin gởi lời chân thành cám ơn đến tất cả bà con, bạn bè đã mua ủng hộ cuốn sách của chúng tôi, nhờ đó chúng tôi mới có đủ tài chánh để thực hiện chuyến Tây Du trong tháng 9/2012 vừa rồi. Đặc biệt, xin cám ơn và ghi nhận tấm lòng của người bạn ẩn danh qua tên “Người Ái Mộ” thêm một lần nữa!  

Như tôi đã hứa, đối với những tổ chức, cơ quan, hội đoàn, đơn vị (tại địa phương hay ở các nơi khác) cho phép tôi bán sách, tôi sẽ ủng hộ vào quỹ liên hệ trên căn bản: mỗi cuốn sách bán được sẽ ủng hộ 4 Mỹ kim. Sau khi đúc kết, chúng tôi ghi nhận là đã ủng hộ vào các quỹ liên hệ được 870 Mỹ kim, trong đó quỹ Yểm Trợ TPB/TQLC là 420 Mỹ kim. Số tiền này tuy không nhiều nhưng đó là sự đóng góp với tất cả tấm lòng của chúng tôi!


* ĐI TÂY

Sở dĩ tôi “muốn đi Tây một chuyến” ngoài lý do nước Pháp và

một vài nước kế cận có những thắng cảnh hay di tích lịch sử đáng được chiêm ngưỡng, tôi còn có lý do chính đáng và lôi cuốn hơn, đó là có những người bạn thân đang ngóng đợi:  

Đỗ Anh Hào, một người bạn thân của tôi thuở còn học tại các trường Trung học Phương Mai, Quang Trung, Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Là một cựu Thiếu Tá Không Quân, đi “học tập cải tạo” 12 năm 7 tháng; sang Pháp theo diện đoàn tụ gia đình và tị nạn chính trị từ năm 1988. Lần đầu tiên tôi gặp lại Hào vào năm 2009 tại Houston, Texas khi Hào qua thăm gia đình người em gái tại đây.

Anh Dương Văn Lợi, một người bạn tù (mà tôi coi như một ông anh), cùng chung trong trại tù Thanh Cẩm (Thanh Hóa). Anh Lợi được thả ra khỏi trại Thanh Cẩm vào tháng 4/1981. Đến tháng 10/1981, anh phối hợp với người em ruột và một số bạn của người em để tổ chức vụ cướp trực thăng tại phi trường Bạch Mai, Hà Nội để đào thoát qua Quảng Tây, Trung Cộng. Năm 1983, anh di chuyển qua Quảng Đông và từ đây anh lại vượt biên để đi đến trại Palawan (Phi Luật Tân). Từ tháng 12/1985 anh được định cư tại Pháp cho đến bây giờ. Trong tháng 6/1993, trên đường từ Pháp đi Canada, chuyến bay anh Lợi ghé phi trường Salt Lake City, Utah; nhờ vậy tôi lên phi trường chở anh ghé về nhà tôi chơi khoảng hơn tiếng đồng hồ. Đó là lần đầu tiên hai anh em mới gặp lại nhau kể từ ngày anh được thả ra khỏi trại Thanh Cẩm.

Chương trình “đi Tây” của chúng tôi:

- Ngày 5 tháng 9/2012: Rời Salt Lake City bay tới Atlanta, GA. Chuyển qua máy bay Air France để đi Pháp. Rời Atlanta lúc 06:20PM cùng ngày để bay qua phi trường Charles De Gaulle tại Paris. Tổng cộng giờ bay là 12 tiếng 20 phút với phi trình 4,380 miles.

- Ngày 6 tháng 9/2012: 08:20AM tới phi trường CDG. Hào đã lái xe ghé nhà anh Lợi để chở anh cùng ra phi trường đón chúng tôi về nhà anh Lợi. Vì không có chỗ đậu xe nên Hào phải lái xe về nhà sau khi drop chúng tôi. Tới tối, Hào đi Métro và xe buýt đến nhà anh Lợi; nhâm nhi tí “dziệu” để mừng cho ngày tái ngộ thật cảm động và đáng ghi nhớ!   

- Ngày 7 tháng 9/2012: lúc 1PM, Dũng (con trai anh Lợi) chở anh Lợi và vợ chồng tôi ra Avenue d’Ivry (Quận 13) để ngắm phố, uống cà phê và đổi tiền với thời giá một ngàn Mỹ kim được 780 Euro. Đến 4PM chúng tôi đáp Métro để đến nhà ga Lyon đón chị Germaine từ thành phố Lyon lên.

        blank

(Tôn Yến trưóc nhà ga Lyon, Paris)


Đã mấy chục năm rồi, biết bao nhiêu lần chúng tôi đã nghe bài hát “Tiễn Em” do Phạm Duy phổ nhạc qua bài thơ “Chưa bao giờ buồn thế” của Cung Trầm Tưởng. Cho mãi đến bây giờ, tôi mới có dịp đến đây! Dù không tận mắt nhìn thấy ngọn đèn vàng nào cả, nhưng lời thơ qua tiếng nhạc như đang trỗi dậy, đang réo rắt bên tai nghe rất thân thương, nhưng sao buồn quá! “Lên xe tiễn em đi. Chưa bao giờ buồn thế. Trời mùa Đông Paris. Suốt đời làm chia ly …”

… “Ga Lyon đèn vàng. Tuyết rơi buồn mênh mang. Cầm tay em muốn khóc. Nói chi cũng muộn màng …” Tôi cố gắng để hồn mình không chùng xuống vì lời ca buồn và ủy mị; vì cả ba người chúng tôi, thật sự sắp được vui đến nơi rồi! Chị Germaine vừa đến trên sân ga bằng TGV (Train à Grande Vitesse hay xe lửa tốc hành). Từ Lyon lên Paris 420km, đi TGV chỉ tốn 1giờ 45 phút. Tôi và bà xã tôi vẫn thường liên lạc với chị qua email và điện thoại, nhưng đây là lần đầu tiên chúng tôi mới gặp mặt nhau. Thật quá vui và quá cảm động! Sau khi bù khú và chụp hình với nhau, chúng tôi đón xe buýt trở về nhà anh Lợi. Anh Lợi sống chung với Dũng (con trai), Hằng (con dâu) và hai cháu nội Thúy Hồng, 11 tuổi và Hoàng Việt, 5 tuổi. Tối nay, vợ chồng Dũng/Hằng đãi ăn cua và bún riêu thật là ngon. Ăn xong, Dũng chở cả gia đình chạy một vòng để ngắm Kinh Đô Ánh Sáng về đêm; ghé chụp hình khu tháp Eiffel và dừng lại Restaurant Malakoff gần công trường Trocadéro (nơi thường tổ chức các cuộc biểu tình) để ăn uống lai rai trước khi về nhà chuẩn bị hành trang cho chuyến đi Tour vào ngày mai.



             blank

(Đi chơi đêm với gia đình anh Lợi)


Tour chúng tôi đi tất cả là bảy ngày. Bắt đầu từ Paris đi qua Thụy Sĩ, qua Ý (8 thành phố), tới Monaco, ghé Nice, Cannes rồi trở về Paris. Chi phí cho mỗi người là 476 Euro, khoảng 610.25 USD kể cả tiền khách sạn (4 sao) và ăn sáng tại khách sạn. Du khách tự túc trả tiền ăn trưa và ăn tối cho mình. Ngoài ra mỗi du khách phải đóng góp thêm (mỗi người 5 Euro/1 ngày) làm tiền “tip” cho Tài Xế và Tour Guide.


- Ngày 8 tháng 9/2012: ngày đầu tiên đi Tour. Dũng chở vợ chồng anh Lợi và vợ chồng tôi ra tiệm Mc Donald’s trên Boulevard Vincent Auriol thuộc Quận 13 để đợi lên xe buýt. Đúng 09:15AM bắt đầu lên đường. Xe chạy xuôi về hướng Nam đến thành phố Orleans, sau đó đi về hướng Đông Nam qua các thành phố Auxerre, Dijon rồi đổi về hướng Đông, qua vùng đất của Đức trước khi đến tỉnh biên giới Basel (Thụy Sĩ) lúc 04:10PM. Tiếp tục xuôi Nam để đến thành phố Luzern (Thụy Sĩ) vào lúc 06:30PM. Đoàn du khách có 2 giờ để đi thăm thành phố và thắng cảnh ở đây. Chúng tôi đi thăm cầu Chapel, một cây cầu bằng gỗ có mái ngói dài 204 mét, bắc qua sông Reuss. Đây là một cây cầu cổ nhất Châu Âu, được xây từ năm 1333. Bên trong cầu là một loạt các bức tranh từ thế kỷ thứ 17. Tiếp giáp cầu là Tháp Nước Wasserturm hình bát giác cao 43 mét. Cầu Chapel và Tháp Wasserturm trở thành biểu tượng độc đáo của thành phố Luzern và là nơi thu hút khách du lịch chính của Thụy Sĩ. Đoàn chúng tôi ngủ đêm tại khách sạn Arcade, cách cầu Chapel khoảng nửa giờ lái xe.        blank

(Chị Germaine và Yến tại Lucerne, Thụy Sĩ)


  • Ngày 9 tháng 9/2012: ngày thứ 2. Bắt đầu rời Luzern (Thụy Sĩ) vào lúc 08:00AM để đi Milano (Ý). Thụy Sĩ là xứ có quá nhiều đồi núi, cảnh trí thật đẹp và nên thơ. Đặc biệt ở Thụy Sĩ, xe cộ không chạy qua các đèo mà họ làm đường hầm để đi. Chúng tôi phải đi qua hơn chục đường hầm dài ngắn khác nhau. Đặc biệt là đường hầm Loetschberg dài 34,7km (dài nhất thế giới) chạy xuyên qua dãy núi Alps theo trục Bắc-Nam. Lúc 11:00AM xe qua biên giới Thụy Sĩ – Ý. Đến 11:50AM, đoàn du lịch đi thăm Duomo di Milano (Nhà Thờ Chính Tòa Milano). Đây là ngôi Đại Thánh Đường lớn thứ tư trên thế giới, được xây vào đầu thế kỷ thứ 5. Lúc 03:00PM rời Milano để đi đến thành phố Verona. Ở đây du khách được đi xem một đấu trường rất lớn, Arena, cỡ đấu trường Colosseum ở thành phố Roma. Đặc biệt và thích thú nhất là tại thành phố Verona này, du khách được đến xem nhà nàng Juliet, một nhân vật trong truyện tình “Romeo and Juliet” của nhà đại văn hào William Shakespeare. Du khách đi vào sân trong, nhìn thấy balcony nơi phòng riêng của Juliet ngày xưa và dưới sân là tượng của Juliet. Không kể nam hay nữ, già hay trẻ; ai cũng muốn chụp hình chung với Juliet và đặc biệt là họ đều muốn sờ vào ngực nàng khi chụp hình … Khoảng 06:10PM, Đoàn rời Verona và đến khách sạn Albatros thuộc thành phố nhỏ Mestre vào lúc 8:20PM.


        blank

(Tôn Yến chụp ảnh với Juliet)


  • Ngày 10 tháng 9/2012: ngày thứ 3. Lúc 08:30AM rời Mestre để qua thành phố Venezia (Venice). Từ đất liền ra thành phố phải đi bằng tàu có sức chứa từ 30 đến 50 người. Thành phố Venezia nằm trên một vịnh biển xinh đẹp với hằng trăm đảo lớn nhỏ. Hằng ngày có trên dưới trăm chiếc tàu chạy như con thoi đưa khách ra thăm thành phố mộng mơ này. Đặc biệt, thành phố này không có xe hơi, chỉ dùng thuyền Gondola di chuyển trên mặt nước hoặc đi bộ. Thành phố có khoảng 150 kênh, được nối với nhau bằng 400 cây cầu bắc qua kênh. Sau khi tàu cập bến, chúng tôi được hướng dẫn đến Công Trường Thánh Mark (Piazza San Marco) và Nhà Thờ Thánh Mark (Basilica di San Marco) tại trung tâm thành phố. Các công trình vĩ đại này được xây dựng từ giữa những năm 1200 và 1600.  


blank

(Anh Lợi, chị Germaine và Yến tại Công Trường San Marco, Venice)


- Chúng tôi có dịp đi thăm Dinh Tổng Trấn (Doge’s Palace), Dinh này được xây năm 814 và được tái thiết từ thế kỷ thứ 12. Và chúng tôi cũng được đi thăm Cầu Than Thở (Bridge of Sighs), cầu được đặt tên như vậy vì cầu được nối với những nhà tù dính liền trong vùng Dinh Tổng Trấn. Mỗi lần tù nhân đi ngang qua đây, họ nhìn thế giới bên ngoài quá yêu kiều, ngược hẵn với cuộc sống ngục tù của họ nên họ đành … thở dài! Sau đó chúng tôi được hướng dẫn đi xem xưởng sản xuất thủy tinh Murano với phần biểu diễn của một thợ thủ công thật điêu luyện. Dịp này, các bà các cô tha hồ mua các loại nữ trang làm bằng thủy tinh thật tuyệt vời. Đến 01:00PM đoàn chúng tôi xuống tàu, đi khoảng nửa giờ, cập bến để lên xe buýt, tiếp tục cuộc hành trình để đi về Roma. Khoảng 09:00PM chúng tôi đến khách sạn Veio Park Hotel ở Roma.  

- Ngày 11 tháng 9/2012: ngày thứ 4. Rời Roma lúc 09:00AM, đến Vatican lúc 09:50AM. Chúng tôi được hướng dẫn đi thăm Tòa Thánh Vatican và Vương Cung Thánh Đường Thánh Phê Rô. Thánh Đường được xây từ năm 1506 và được hoàn thành vào năm 1626 (120 năm), được coi là một trong các nơi linh thiêng nhất của đạo Công Giáo. Thánh Đường có sức chứa hơn 60 ngàn người.

Riêng Tòa Thánh Vatican hay Thánh Quốc Vatican là một quốc gia có chủ quyền và độc lập nhỏ nhất trên thế giới (có diện tích xấp xỉ 0.44 km2). Quân Đội thành Vatican là đội quân chính quy nhỏ nhất và lâu đời nhất trên thế giới, được thành lập từ năm 1506. Quân số hiện nay vào khoảng hơn 100 người đồng thời kiêm luôn công tác cận vệ Đức Giáo Hoàng. Chỉ đàn ông Công Giáo Thụy Sĩ mới được nhận vào đội quân này.


blank

(Tôn Yến trước Vương Cung Thánh Đường Saint Peter, La Mã)


Sau khi rời Công trường Thánh Phê Rô (Saint Peter), chúng tôi đi xem đài phun nước Trévi (Trévi Fountain). Trévi được xây dựng vào năm 1723, dựa lưng vào một lâu đài có bốn bức tượng đại diện cho bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Nơi này là miệng một máng nước La Mã cổ xưa dẫn nước suối phục vụ dân chúng. Cho tới ngày nay, nước của Trévi vẫn là nguồn nước thiêng liêng xưa kia mà người ta gọi là Aqua Vergine (nước tinh khiết). Trévi là nơi gởi gấm ước mơ và hy vọng cho nhiều người. Người ta thường ném xuống đài phun nước hai đồng tiền với lời cầu ước. Để lời cầu ước được linh nghiệm, người ta quay lưng lại, ném đồng tiền xuống nước bằng tay phải qua bên vai trái của mình.

Sau Trévi, chúng tôi được xe buýt chở đi coi Đấu Trường La Mã (The Colosseum): một đấu trường có 50 ngàn chỗ ngồi, một công trình kiến trúc kỳ diệu với hai ngàn năm tuổi. Đây là nơi các ngôi sao chiến binh xuất hiện, là nơi những cuộc đời đẫm máu chấm dứt, là nơi vinh quang của thành Rome hiển lộ và cũng là nơi trái tim tàn bạo của nó hiện ra. Với chiều dày lịch sử, với đầy hào quang và bạo tàn qua hình ảnh với sự tham gia của cả ngàn con thú và hằng trăm đấu sĩ …

Tôi và bà xã tôi, cùng tham gia với một số lính La Mã thời cổ, chụp hình chung với họ và tôi cũng đóng vai một đấu sĩ bạo tàn, kề gươm cứa cổ một tình địch. Bù lại, tôi đã để cho các đấu sĩ thù địch này “cứa nhẹ” hầu bao mình 20 Euro!


blank

(Tôn Yến đang diễn kịch với các anh lính La Mã)


Chúng tôi rời Đấu Trường La Mã lúc 03:50PM mang theo trọn vẹn hình ảnh của đấu trường và các Gladiators oai dũng và hung bạo cùng về đến Hotel Ciliegi ở Firenze (Florence) lúc 07:30PM.

- Ngày 12 tháng 9/2012: ngày thứ 5. Rời khách sạn lúc 08:30AM, Đoàn được xe chở lên vùng đồi từ đó ngắm trọn vẹn thành phố Florence bên dưới. Trên đồi này có “phó bản” bức tượng khỏa thân của David, mô tả chàng trai David trong Kinh Thánh trước khi đi đánh người khổng lồ Goliath. Thật ra, bức tượng điêu khắc David, một kiệt tác bằng cẩm thạch, cao 4,34m của nhà điêu khắc và danh họa Michelangelo được hoàn tất vào năm 1504 đang được đặt tại Viện Hàn Lâm Nghệ Thuật (Accademia Gallery) dưới phố Florence.     

Florence là thành phố nằm bên bờ sông Arno, một thành phố ngàn năm tuổi với thành tựu rực rỡ về hội họa và kiến trúc. Được một số tạp chí du lịch Châu Âu chọn là “Thành phố du lịch tốt nhất thế giới”.

Khi trở xuống phố, chúng tôi đi xem cây cầu Ponte Vecchio (tiếng Ý có nghĩa là Cầu Cũ), được xây từ thời La Mã (năm 996) bắc qua sông Arno. Sau đó đi xem Nhà Thờ Santa Maria del Fiore được xây từ năm 1296, một nhà thờ cổ kính nhất thế giới và xem Viện Bảo Tàng Uffizi Gallery (Uffizi tiếng Ý có nghĩa là Văn Phòng).



        blank

(Dưới chân Tượng David, Florence, Ý. Tôn, anh Lợi, chị Germaine và Yến)


Đến 03:00PM chúng tôi lên xe buýt để đi thăm Tháp Nghiêng Pisa (Leaning Tower of Pisa). Chúng tôi náo nức và trông chờ được nhìn tận mắt cái tháp độc đáo và nổi tiếng này. Tháp Pisa được xây dựng vào năm 1173, đỉnh cao nhất 56,70m, bên trong có 294 bậc tam cấp, trọng lượng ước tính 14,500 tấn. Trong khi xây dựng đã phát hiện tòa tháp bị nghiêng (với độ nghiêng 3,97 độ). Đã có nhiều biện pháp cứu chữa để tháp khỏi bị nghiêng thêm hoặc bị sụp đổ. Từ năm 2008, các kỹ sư tuyên bố Tháp đã có tình trạng an toàn trong ít nhất 300 năm nữa.


           blank

                              (Tôn và Tháp Nghiêng Pisa, Ý)


Chúng tôi rời Pisa lúc 04:45PM và đến thành phố Genova lúc 08:00PM. Ở tại Grand Hotel Méditerranée, một khách sạn sát bờ biển, khách sạn đẹp và sang nhất từ hôm đi Tour đến nay. Dọc theo bờ biển có nhiều nhà hàng ăn rất lịch sự, đa số đều có nhạc sống. Trong khi ăn uống, tôi cũng ra “giựt” vài bản Bebop, Cha Cha với bà xã và chị Germaine cho giãn gân cốt và cho khỏi bị … nghiêng như Tháp Pisa!

        blank

                    (Chị Germaine và Yến cạnh bờ biển Genova, Ý)


    blank

                       (Anh Lợi và Tôn tại Vương Quốc Monaco)


- Ngày 13 tháng 9/2012: ngày thứ 6. Chúng tôi rời Genova lúc 09:00AM đi dọc theo bờ biển Địa Trung Hải với cảnh trí đẹp tuyệt vời để hướng về Monaco. Tiểu Vương Quốc Monaco là một quốc gia nhỏ thứ 2 trên thế giới, diện tích 1,98km2 (so với Thánh Quốc Vatican diện tích chỉ có 0,44km2). Ông Hoàng Monaco là Albert II trị vì vương quốc này từ ngày 6 tháng 4 năm 2005. Cung điện Hoàng gia tọa lạc trên một núi đá vươn ra biển, được xây từ năm 1191 và được tân tạo nhiều lần. Monaco có sòng bài Grand Casino de Monte Carlo nổi tiếng nhất thế giới, được xây từ năm 1861. Monaco là xứ bảo hộ của Tây Ban Nha rồi Pháp từ Thế kỷ 16. Mãi đến năm 1861 Monaco mới được độc lập khỏi Pháp. Chúng tôi đi thăm khu Hoàng Cung từ 10:30AM cho đến 12:30PM, sau đó đi thăm Nhà máy sản xuất nước hoa “Fragonard Perfume Factory” trong thị trấn Grasse (Kinh Đô Nước Hoa của Pháp) thuộc tỉnh Provence, cách Nice 9Km. Chúng tôi đến Nice lúc 02:00PM và ăn trưa tại đây, sau đó tiếp tục đi đến Cannes lúc 04:45PM.

Nice và Cannes là hai thành phố lớn nhất nằm trên bãi biển ven Địa Trung Hải. Cannes là Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật, nơi diễn ra nhiều lễ hội tầm cỡ quốc tế, trong đó quan trọng nhất là “The Cannes Film Festival” được tổ chức vào tháng 5 hằng năm. Chúng tôi đi một vòng xem thành phố và khu tòa nhà “Le Palais des Festivals”, tòa nhà được xây năm 1949. Đến năm 1999 cấu trúc được nới rộng với tổng số 25 ngàn mét vuông làm nơi trình diễn. Khoảng 07:00PM chúng tôi rời Cannes để đi về hướng thành phố Orange (vài km phía Bắc thành phố Avignon và Avignon ở về phía Bắc của Marseille khoảng 105km), mãi đến 10:30PM chúng tôi mới đến thị trấn Orange và ngủ tại khách sạn Campanile. Khách sạn này rất tệ, nhà hàng ăn đã đóng cửa, không có thang máy. Đói bụng, xách va li lên lầu nghe sao … anh ách! Anh Tour Guide phải chạy ra phố mua dùm cho số du khách một ít sandwiches dằn bụng qua đêm …

- Ngày 14 tháng 9/2012: ngày thứ 7, ngày cuối của Tour. Rời Orange lúc 09:30AM để trở về Paris. Xe buýt chúng tôi đi về hướng Bắc, sau gần 2 giờ lái xe, chúng tôi đến Lyon (nơi chị Germaine đang ở). Lyon là thành phố lớn thứ 2 của Pháp (sau Paris), với dân số 1.2 triệu người, là thành phố hợp lưu của hai con sông Rhône và Saône. Khi đi ngang vùng rượu nho Beaujolais nổi tiếng của Pháp (phía Bắc của Lyon), chị Germaine giải thích cho chúng tôi biết thêm về vùng này: Beaujolais là một tỉnh rất xưa của Pháp (thủ đô lịch sử của nó là Beaujeu). Rượu nho sản xuất trong tỉnh này cũng được gọi là Beaujolais. Thủ đô hiện tại là Villefranche-sur-Saône.      

Xe tiếp tục đi lại những thành phố đã đi qua hôm khởi hành như Dijon, Auxerre, Orleans để trở về “bến cũ” tại Paris lúc 06:15PM.

Cháu Dũng lái xe ra đón chúng tôi về nhà. Coi như cuộc đi Tour bảy ngày của chúng tôi được kết thúc.


Ngày hôm sau, chúng tôi đi phố Paris, đi chơi vùng Place Trocadéro (Công trường Nhân Quyền), đi Bateaux Mouches trên Sông Seine, ăn trưa ở các quán ven bờ sông.


    blank

                      (Yến Tôn tại Công Trường Trocadéro, Paris)



                      blank

                  (Dưới chân Tháp Eiffel, Paris. Tôn, anh Lợi và Yến)


Ngày 16 tháng 9/2012: Cậu Cung (cậu của bà xã tôi) gọi hẹn gặp chúng tôi ở Tang Frères, Quận 13, đưa đi ăn ở nhà hàng Olympiades (Trung Quốc Thành). Sau đó đi xe buýt và Tramway về nhà cậu ở Boulogne để thăm Mợ. Cậu mợ Cung sang Pháp sống từ năm 1959 cho đến bây giờ. Đến chiều, cậu Cung dùng xe nhà chở vợ chồng tôi đi thăm Điện Versailles. Cung điện Versailles được Vua Mặt Trời Louis XIV xây thêm từ năm 1661. Cung điện gồm 67 ngàn m2, có trên hai ngàn phòng và một công viên có diện tích 815 hecta.


                         blank

                          (Cậu Cung và Yến tại Điện Versailles)

               blank

                         (Đi Bateau Mouche trên Sông Seine)


Những ngày còn lại tại Paris, anh Lợi đưa chúng tôi đi thăm thêm một vài nơi trong thành phố, một trong những thành phố tráng lệ nhất trên thế giới nhưng đồng thời cũng còn giữ được những nét cổ kính và nguy nga qua những công trình để lại từ thời xa xưa.


Ngày 19 tháng 9/2012: Vợ chồng Dũng/Hằng và hai con chở anh Lợi và vợ chồng tôi lên phi trường Charles de Gaulle để tiễn chúng tôi trở về Mỹ, chấm dứt chuyến … Đi Tây đầy kỷ niệm và những kỷ niệm này sẽ nhớ mãi một đời!


Chúng tôi muốn ghi lại nơi đây những điều được lưu ý trước chuyến đi cũng như vắn tắt ghi lại trung thực vài chuyện buồn vui mà chúng tôi đã có và thấy được trong suốt chuyến Tây Du vừa rồi để hầu bạn đọc:


* Qua mấy năm trở lại đây, nhiều bạn mới đi Tây về cảnh cáo:

- Bên Tây bây giờ nhiều bọn “rệp” lắm, phải cẩn thận kẻo bị móc túi! Tôi phải đi mua 6 cái T-shirts, nhờ tiệm may may vào mỗi áo (phần trước ngực) một cái túi lớn hình chữ nhật có fermeture để đựng bóp tiền và hai cái passports. Để vào, thấy trước ngực cồm cộm, hơi “khó coi” một chút, nhưng như vậy cho chắc ăn! Nhưng khi về đến Utah, có một anh bạn cũng vừa đi Tour bốn nước Hòa Lan, Bỉ, Pháp, Anh mới về trước tôi mấy hôm. Anh kể là khi đến Paris, anh bị móc túi. Bị mất bóp và giấy tờ. Trong bóp có 700 Mỹ kim và hơn 200 Euro. Bà con đi chung Tour, đóng góp biếu anh vài trăm dằn túi để tiếp tục chuyến Âu du!

- Bên Tây, ngay cả nhà giàu, ở nhà chỉ có máy giặt chứ không có máy sấy! Chúng tôi đành phải mang theo va li lớn, mang quần áo đủ bận trong hai tuần. Quần áo dơ sẽ mang về Mỹ giặt!

- Bên Tây, khi ra đường phải nhìn cẩn thận, nếu không sẽ bị đạp cứt chó! Cũng may, những con đường chúng tôi đi bộ qua, bây giờ rất sạch sẽ, không thấy gì!

- Bên Tây, nhất là ở Paris, nhà ở thường ở trên các lầu cao (như các apartments trên các buildings bên Mỹ), diện tích nhà ở cũng chật chội. Tốt nhất là đừng mang quá nhiều quần áo và va li! Điều này “chõi” với những cái chúng tôi chuẩn bị: phải mang nhiều quần áo để khỏi phải giặt. Do đó, dù được nhường một phòng ngủ riêng, chúng tôi phải để hai va li lớn ngoài hành lang đi vào phòng tắm! Trong phòng ngủ, phải gói ghém lắm mới dựng đứng được hai cái carry-on!

- Bên Tây, toilette công cộng rất hiếm, phải xử dụng các toilettes phải trả tiền! Qua bảy ngày đi Tour, chúng tôi không gặp khó khăn trong “vấn nạn” này. Vì mỗi hai giờ xe buýt chở du khách được ngừng lại tại các địa điểm có tiệm buôn bán hoặc nhà hàng ăn v.v… toilette được xử dụng miễn phí. (Có lẽ công ty du lịch đã có “sự qua lại” với các khu thương mại này). Trong suốt bảy ngày đi Tour, chỉ có hai nơi duy nhất, bên Ý, du khách phải sắp hàng để đi toilette phải trả tiền.

Thời gian ở Paris, chúng tôi cũng không gặp khó khăn vì đã canh giờ và chuẩn bị trước cho nhu cầu nhà vệ sinh. Có một trục trặc kỹ thuật cần biết để rút kinh nghiệm: hôm đi bộ trên phố, khu gần Khải Hoàn Môn. Đi ngang một toilette công cộng hình khối tròn, một người đàn ông vừa bước ra, thấy cửa đang mở, bà xã tôi bước vào. Đứng đợi hoài, cửa vẫn không đóng lại. Một lúc sau, đọc bảng chỉ dẫn mới biết. Khi một người trong toilette bước ra, phải đợi cho cửa đóng lại, bên trong cầu phải được “lavage” (giật nước) xong. Đèn trước cửa lên màu xanh, người xử dụng kế tiếp mới bấm nút “mở”, lúc đó cửa mới mở để người kế tiếp vào xử dụng và cửa sẽ tự động đóng lại.  

- Không phải như bên Mỹ (trừ New York), ra nhà xe, leo lên xe rồi lái đi. Ở Paris phải đi xe buýt, tramway và métro. Phải cuốc bộ khùng luôn mỗi lần chuyển, đổi trạm … Dù đã được cảnh cáo trước, nhưng khi qua đến nơi, vẫn thấy bị “chới với”. Từ nhà phải cuốc bộ ba bốn trăm thước mới ra bến xe buýt gần nhất, buýt chạy trên mặt đường, thường bị kẹt xe. Đi Métro, viết tắt của Métropolitain –xe điện ngầm- (Subway bên Mỹ) chạy dưới đường hầm, không bị kẹt xe nên rất đúng giờ. Chỉ có một điều “ngán ngược” là phải đi bộ lên xuống các bậc thang, có nơi khoảng 50, 60 bậc tam cấp; có nơi hơn 80 bậc. Có khi phải đổi trạm; xuống trạm này xong, phải đi bộ leo lên khoảng 20 bậc, băng qua phía bên kia; đi bộ xuống 20 bậc để đón chuyến khác đi ngược chiều, v.v…

Nói tóm lại, dù đi bằng phương tiện gì, cũng phải cuốc bộ dài dài hoặc leo lên, xuống các bậc tam cấp. Lúc bấy giờ mới thấm thía chữ và nghĩa của cái gọi là … “ngất ngư con tàu đi”! Và từ đó mình mới rút ra được một nhận xét: vì (được hay bị) đi bộ nhiều, cho nên hầu như đa số các bà đầm đều ốm, gọn, thon thả. Chúng tôi chưa có dịp thấy mấy bà đầm “xồ” như “mấy bà Mỹ mập” bên xứ Cờ Hoa!

- Bãi đậu xe là một vấn nạn cho những người có xe ở Paris! Nhiều gia đình có xe riêng nhưng ít xử dụng xe vì xăng rất mắc và cái khổ tâm là không có bãi đậu xe. Nhìn những dãy xe đậu trên phố thấy mà “phát khiếp”! Người ta đậu nửa trên, nửa dưới. Có khi cả trên lề. Xe đậu rất sát nhau, đa số khoảng cách giữa xe trước và xe sau chỉ khoảng một gang tay. Tôi cứ thắc mắc: làm sao họ lái ra khỏi chỗ đậu?!

- Bên Tây người ăn xin nhiều lắm, nhất là người từ vùng Trung Đông sang. Chúng tôi chưa có dịp gặp những người này tại Paris. Nhưng khi qua Ý, ở những thành phố lớn có nhiều du khách thì chúng tôi có thấy nhiều, rất nhiều người “xin tiền” theo kiểu rất “nghệ thuật”: những người đàn ông (tôi đoán là vậy) họ ăn bận theo trang phục thời cổ, trùm kín cả người chỉ trừ cái mặt trát bột phấn trắng xóa, hoặc đen thui, hoặc vàng kim nhũ … Họ đứng bất động như một pho tượng, trước mặt họ là một cái thau để đựng tiền. Khi có du khách đi ngang cho tiền (bỏ vào thau đựng tiền), hoặc khi một số du khách dừng lại chụp hình với họ rồi cho tiền. Lúc đó mới thấy pho tượng này chầm chậm gập người như tỏ lời cám ơn, sau đó pho tượng này lại đứng yên,

bất động…  


                 blank

                        (Một kiểu xin tiền hiện đại tại Vérona, Ý)


- Tour chúng tôi do Cathay Pacific tổ chức nên đa số du khách (trong số 46 người) là người Trung Hoa (từ Lục Địa, từ Taiwan, từ Canada, v.v...) Chỉ có một cặp vợ chồng người Lào ở Atlanta, GA và bốn người Việt Nam chúng tôi; do đó anh Tour Guide (gốc người Lào, ở Pháp) chỉ hướng dẫn, giới thiệu bằng tiếng Tàu và tiếng Pháp.


- Phải lưu ý và mua sẵn các “converter” chốt tròn để nối vào các chốt dẹp thì mới charge được các máy chụp hình, máy quay phim, cell phone v.v…, vì bên Châu Âu tất cả các “outlet” đều có lỗ tròn.

Vì không được hướng dẫn trước về việc này nên chúng tôi bị mất ba ngày không chụp hình được (vì hết pin). May mà có máy của anh Lợi “cứu giá”!


- Ở những nước đoàn du lịch đi qua -và ngay tại Paris- những tiệm, sạp hàng bán đồ kỷ niệm, người bán hàng thường nói thách dữ lắm. Phải trả giá mới khỏi bị hớ và mua lầm.


- Tại những thành phố lớn bên Ý, có rất nhiều người bán hàng rong cho du khách (nón, bóp xách tay, khăn quàng cổ, tranh ảnh, giây nịt, v.v…). Những người này thuộc loại buôn bán bất hợp pháp, do đó mỗi khi có nhân viên an ninh hay cảnh sát xuất hiện thì họ chạy mất biến. Khi an ninh/cảnh sát đi qua rồi họ lại tái xuất hiện, đi tò tò theo du khách mời mua hàng (cảnh này giống y chang như bên Việt Nam).


- Người Việt mình, cho dù sống ở phương trời nào, cái tính hiếu khách, mời mọc tiệc tùng để có dịp bù khú với nhau; đặc biệt là đối với bạn thân lâu ngày và hiếm hoi lắm mới có dịp gặp lại. Qua những lần gặp nhau tại nhà anh Lợi và nhà anh bạn Hào đã để lại trong lòng chúng tôi những giây phút ấm áp, quây quần, thân ái như những kỷ niệm khó quên trong đời mình!

Có một chi tiết nho nhỏ nhưng cũng coi đó như một kỷ niệm rất đặc biệt: hôm tại nhà anh Lợi, ảnh đem khui chai rượu XO Hennessy 60 năm tuổi để chào mừng chúng tôi qua Paris…

               blank

                              (Bửa tiệc tại nhà anh chị Hào)


- Đặc biệt là những ngày sống tại nhà Dũng (con trai anh Lợi), chúng tôi được Hằng (vợ Dũng) hầu tiếp thật chu đáo. Hằng có khoa nấu nướng rất đặc biệt, đãi những món ăn ba miền Nam Trung Bắc, món nào cũng thật là ngon. Về lại Mỹ mấy tuần rồi, cứ nhắc hoài mấy món ăn đặc biệt do Hằng nấu!

Cái điều không thể nào quên nỗi là hai cháu Thúy Hồng và Hoàng Việt. Thúy Hồng, 11 tuổi, rất ngoan, lễ phép, nói chuyện nhỏ nhẹ dễ thương. Trong khi đó Hoàng Việt, 5 tuổi, “quậy” theo kiểu trẻ con, rất dễ thương; cháu rất thích choàng vai bá cổ chúng tôi và rất khoái được hôn nựng.

Chúng tôi được kể lại, hôm đưa chúng tôi ra phi trường trở về Mỹ, trên đường về Hoàng Việt đã khóc thút thít một hồi thật lâu.

Mỗi lần gọi qua thăm anh Lợi hay cháu Hằng; lúc nào Hoàng Việt cũng xen vào, giành nói chuyện. Qua cái giọng ngọng nghịu, đớt đát của một “ông Tây con” nói tiếng Việt thật là dễ thương, gợi biết bao nỗi nhớ …

Những điều này làm chúng tôi thêm nôn nao và lại mơ ước tới một ngày nào đó, được … Đi Tây thêm một lần nữa!

Phan Công Tôn

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.