Hôm nay,  

hương vị đời

17/12/201809:40:00(Xem: 4821)

hương vị đời

Nguyễn Văn Sâm

Chút đăng đắng trong cuộc sống

cũng là chút hương vị đời. (NVS)

 

  1.  

Thằng Chà hí hửng cầm hai cuốn truyện Tàu bước qua ngạch cửa khi trời vừa hừng sáng. Bữa nay chúa nhựt ba nó ở nhà nhưng đã cho phép nó đi đổi truyện. Ngày thường ông đạp xe máy ra Trà quít làm việc tối mịt mới về, lợi dụng giờ giấc nó tự ý đi không cần phép tắc, nhưng khi ông ở nhà thì phải hỏi phải thưa.  Nó bước nhè nhẹ ngang qua chuồng gà tính mở cửa ngỏ thì con Ô nhảy ra chuồng hồi nào không biết lật đật chạy theo quấn quít bên chưn.  Con Ô thân thiện thiệt tình nhưng sáng nay sự thân thiện đó không làm cho thằng Chà khoái chí chút nào. Hai cuốn truyện Tàu được đưa ra quơ quơ làm  võ khí nhưng con Ô chỉ cần né đầu là tránh được dễ dàng rồi cứ lẩn quẩn theo cản chưn trở cẳng. Thằng Chà tức khí đứng lại tính ăn thua đủ thì con Ô cũng khựng lại, ngóng cao cổ đập cánh phành phạch rồi cất tiếng gáy. Không khí đương yên tĩnh bỗng sôi động lên, đàn gà mái nhao nhao vừa cục tác vừa gục gặc đầu đủng đỉnh đi tới đi lui trong chuồng hay chõ mỏ qua khe rào kêu réo. Thằng Chà thừa cơ hội, lận hai cuốn truyện vô bụng,  kéo áo phủ xuống, cuốn nào cũng đã được chủ nhơn đóng bằng giấy dầu nên nó không sợ mồ hôi làm ướt.  Mau chưn nó phóng ra ngoài. Con Ô sau một giây ngơ ngác, chạy đuổi theo chủ chừng 5, 7 thước thì bỏ cuộc, quay vô bay đậu lên hàng rào chuồng chừng một vài phút rồi nhảy xuống hăm hở rượt đuổi bầy thê thiếp, không còn tha thiết gì tới chủ nữa.

Đã tờ mờ sáng. Đằng xa kia, nơi chưn trời một chút ánh hồng bắt đầu ló dạng. Tiếng ếch nhái đã hết inh ỏi. Màn sương khuya và gió lạnh báo hiệu cho thằng Chà bằng một cơn nhảy mũi dài tiếp theo một cái rùng mình nổi ốc từ duới chưn cẳng lên tới tay chưn. Nó kéo hai vạt áo lại sát nhau, bẻ cao cổ áo rồi lấy tay đập nhè nhẹ lên đầu để cái nón nỉ cũ của cậu nó vạt ra cho được chắc hơn. Nó nhắm hướng cầu Ngang đi miết…

Con đường đê tháng Hè đất cứng, chủ ruộng đã xắn đất đắp nện tạo một chút phẳng phiu xe máy chạy được, nhưng với  đứa đi chưn không như nó một lúc thì thấy hơi nhói nhói dưới gót. Nó cảm thấy vậy thôi, không quan trọng lắm nên  vừa đi vừa suy nghĩ  tới lúc gặp mặt con Quyên đổi hai cuốn truyện nầy lấy hai cuốn truyện khác. Tùng dịp nói vài ba chuyện bâng quơ ngó mặt cho đở nhớ.

Nghĩ tới đây thằng Chà  cười hí hí một mình, nhảy chưn sáo vài ba cái trước khi đi lại như bình thường.

Mấy người đàn bà đi chợ sớm bước mau qua mặt nó. Một người quay lại hỏi chọc:

‘Chà,  Chà, mầy đi xóm sớm ha! Đi đổi truyện Tàu hay đi thăm nhỏ Quyên đó mậy?’

Một bà xồn xồn, bà con xa với phía ba nó, lên giọng răn đe của người trưởng thượng:

‘Coi chừng đó, nó lớn hơn mầy hai tuổi lận, lơ mơ nó đánh cho sặt máu mũi. Năm sau thì nó tới tuổi bẻ gảy sừng trâu, vật mầy như vật ếch, đừng có tưởng bở!’

Chị ta nói tới đây thì  như thích thú day qua phân bua với người đồng hành:

‘Chị coi, con nhỏ lớn sộ, thằng nầy có chút nhí mà tối ngày tò vè, xẩn quẩn. Muốn lắm nên kiếm chuyện tới lui hoài. Mà khổ, con nhỏ coi bộ chịu đèn mới chết một cửa tứ mấy thằng trang lứa lối xóm của nó.’

Chị ta coi bộ hứng chí với lời châm chọc của mình, bèn cười hô hố sau câu nói.

Người đàn bà đầu tiên thấy vui vui, quay qua thằng Chà, dạy đời:

‘Chà mầy đừng có lớ ngớ đứng ngoài vàm nữa nha, không múm vô vàm thì thiên hạ ẳm mất tiêu giờ. Con nhỏ cũng ngộ đến chứ có sứt môi méo miệng gì đâu nà! Da nó lại trắng nữa, dân ruộng rẫy mà như vậy thì kiếm đâu được đứa thứ hai!’’

Được mợi cái người có bà con bước gần tới vò đầu nó:

‘Ối chà! Trước khi đi thăm mèo cậu đã hớt tóc tai đàng hoàng ha. Thầy hù nào mà hớt coi được đến. Con Quyên nó chết mê chết mệt còn gì!’

Thằng Chà cười cười trong họng mà ngượng ngịu ngang, không trả lời trả vốn gì hết, cắm đầu cắm cổ bước mau qua khỏi đám đàn bà nhiều chuyện. Họ quay qua nói với nhau rậm ran về đề tài trai gái bồ bịch tình tang trong xóm. Nó bối rối, ngó ngoái lại coi họ có nói gì về mình nữa không. Hình như đề tài đã được đổi quaq chuyện cá mắm, chồng con. Nhìn từng cái rổ tre, từng cái giỏ xách đong đưa theo mấy cánh tay đánh đồng xa của các bà, nó nghĩ ngợi bâng quơ về một hình ảnh ôm ấp trong trí.

Trời sáng lần, âm thanh và cảnh tuợng đêm tối đã được thay bằng giai điệu của hoạt cảnh ban mai. Tiếng gió nhẹ xào xạc qua kẻ lá tre hòa với tiếng nghiến răng của hai thân tre cọ vô nhau theo gió mạnh, tiếng chó sủa xa xa và tiếng lịch bịch của mấy con trâu bị chủ đánh ra đồng…

Bỗng nhiên thằng Chà xuýt xoa rồi cong một chưn lên, nhảy cò cò. Đổ cộc, nó rủa thầm:

‘Mắc dịch mấy thằng cha hút thuốc liệng tàn bậy bạ. Vái cho chết tiệt hết khỏi hại người khác. Tàn thuốc hút rồi cũng không biết liệng xuống ruộng, liệng bậy trên đường đê, con nít đạp nhằm một cái đau thấu mây xanh! Trời mới tưng bửng sáng đã làm tầm bậy rồi! ’

Nó giơ bàn chưn lên dòm dòm. Tuy đau nhưng cũng không tới nỗi nào. Nó sửa  sửa lại hai cuốn truyện Tàu cho yên vị rồi tiếp tục đi. Cây me keo làm ranh giới Xóm Me Keo cuối làng nó với xóm Mả Lạn đầu làng  của nhỏ Quyên đã được bỏ lại sau lưng. Mặt trời sau rặng cây bên kia sông đương hé dạng.

Nó lầm lũi đi tới, chỗ nầy đồng vắng nhưng đất đồng khô nứt nẻ không phải ruộng, mấy tháng trước đội banh hai xóm đá giao hữu được vài lần thì giải tán vì thường xảy ra xích mích, đánh lộn đánh lạo khiến mích lòng mích bề người lớn một thời gian. Nhớ tới chuyện đó thằng Chà xuýt xoa thầm tiếc. Nó thấy lời nói thầy Thìn là đúng: ‘Bây chơi thể thao mà không có tinh thần thể thao chút nào hết! Thường thì phải theo phong cách mã thượng: Ăn không kiêu ngạo hay hạ nhục địch thủ, thua không làm trận làm thượng rồi kiếm cớ gây sự. Điệu nghệ chơi bời là vậy… Ai đời tụi bây bị ôm mấy trái thì bữa sau chận đường đánh thằng đá vô gôn, còn đương đá thì đốn giò, chặt ống quyển mấy thằng giỏi của đội kia. Chơi vậy thì chơi với chó chớ chơi với ai! Cái mửng chơi xấu nầy lớn lên có nước nằm nhà, dầu đá hay cách mấy cũng không ai cho vô hội tuyển trung bình chớ đừng mong gì được vô hội danh tiếng như Ngôi Sao Gia Định hay AJS.’

Từ hình ảnh thầy Thìn nó nhớ tới hai má lúm đồng tiền của nhỏ Quyên và thấy  lòng mình mát rượi, xao xuyến. Nó vừa đi vừa đá một cục đất tròn theo từng bước chưn, tưởng tượng là trái banh mà nó đương lừa để kiếm cách giao cho bạn làm bàn.
 

2.

‘Bữa nay tía đi coi mạch bốc thuốc cho ông quản Hên ở làng bên.’ Nó mừng rơn khi nghe con Quyên báo tin đó. Con nhỏ hí hửng:

‘Chà ngồi chơi một lát nha, Quyên đi nấu chè táo xọn hai đứa mình ăn chờ tía về. Có cuốn Phong Kiếm Xuân Thu tía mới mua tháng trước, quí lắm, Chà coi sơ cho đỡ ghiền trong khi đợi chè.’

Con nhỏ lăn xăn chạy lên chạy xuống vừa lo nồi chè vừa tiếp bạn. Lửa củi nóng hắt làm má nó hồng hồng, thằng Chà ngó thiếu điều rớt cặp mắt. Con nhỏ bẽn lẽn lấy khăn lông lau mồ hôi mặt, ngồi xuống đối diện bạn chơi hỏi đố chuyện Tàu.

‘Chà đố trước đi.’

Cũng  cái mửng cũ, nó hỏi chuyện ai cũng biết để lấy lòng bạn:

‘Chuyện Tôn Tẩn giả điên trong bộ nào bà biết không?’ Nó dùng tiếng bà thay vì kêu bằng Quyên như mọi khi.

‘Dễ ợt! Xuân Thu Oanh Liệt!’

‘Lúc cuối cùng ông ta ra sao vậy kà?’

‘Ổng  vô núi Thạch Nhân tu luyện.’

‘Rồi sao nữa?’

‘Mất biệt, không ai biết gì hơn. Có lẽ theo thầy Quỷ Cốc tu luyện linh đơn rồi thành tiên.’

‘Hay ha! Bà rành sáu câu ha. Thiệt ra ông làm như vậy mới là có cốt tiên. Thành công giúp đời rồi thì lo tu dưỡng cho mình. Trần thế vốn nhiều bụi nhơ, người có cốt tiên không ai màng.’

Con Quyên đưa tay lên chồng sách nhón lấy bộ Xuân Thu Oanh Liệt cầm tay, hỏi:

‘Mà Chà còn nhớ bài thơ khen Tôn Tẩn  của người đời sau không?’

‘Ba năm luyện pháp núi Vân Mộng,

Một lúc đem ra giúp vạc Tề.’

Nhỏ Quyên  thấy thằng Chà thuộc nên cùng đọc với bạn hai câu sau:

‘Công toại danh thành lòng chẳng động,

Về non tu luyện lánh cơn mê.’

Hai đứa cười lớn khi hết câu. Con Quyên  vui quá,  giơ cao  bộ truyện đập xuống chồng truyện trên bàn. Ngực nó bật tung một cái nút bóp. Nó lật đật  đưa tay lên che. Thằng Chà lần đầu tiên thoáng thấy mãng trăng trắng  huyển ảo trước ngực bạn, lập lại mấy tiếng lánh nơi mê theo giọng hỏi làm cho Quyên mắc cở bỏ vô nhà trong một nước sau tiếng  nói lầm thầm: Đồ quỉ!

Ngồi đó hèn lâu mà con nhỏ không ra, buồn tình nó đứng dậy nói lớn:

‘Tui đi về nha bà!  Chè táo xọn đâu không thấy đợi hoài. Lại còn bị giận hờn.’

Tiếng con Quyên sau bếp vọng ra:

‘Hơi (mới) có! Bộ đói lắm sau mà hối vọng ngược vọng xuôi vậy?’

Nó mừng rơn khi con nhỏ hai tay bưng chén chè đầy ắp để trên dĩa đàng hoàng. Đưa tay đở, tùng dịp đụng vô mấy ngón tay ngà ngọc, nó nói theo kiểu ‘làm quen’ để địch thủ hết giận:

‘Chà thích cách nói thiệt là miền Hậu giang của Quyên: hơi (mới) có, tiếng mới được nuốt đi tạo một thổ ngơi đặc biệt dễ mến cách gì, cũng như nghe mấy thiếm bán hàng nói thồi lại, nói giùm làm, Chà thấy chơn chất gần gũi làm sao ấy!’

Cặp môi cắn chỉ mím nhẹ chịu đựng  chừng vài giây rồi mới hơi mỉm cười. Nó nói nhỏ giọng thủ thỉ êm đềm của người tình:

‘Đừng giận nha! Cho Chà xin lỗi nha.’

Con Quyên nhỏ nhẹ:

Bạn hữu thì ai chấp nhứt gì, nhưng xin đừng nói chơi, nó nhẹ thể con người mình đi!’

Hai đứa cúi đầu mạnh ai nấy ăn, không khí tuy đã không còn nặng chình chịch như hồi nảy nhưng lòng nó vẫn còn mặc cảm như đã làm một lỗi lầm rất lớn. Nó cố gắng không ôn lại trong trí cái mình vừa mới thấy mà nghĩ tới cách làm sao cho con Quyên hết giận.

Thầy Thìn về nhà coi như một sự cứu bồ đúng lúc, thằng Chà lật đật rút lui sau khi xin phép mượn lại bộ La Thông Tảo Bắc với bộ Phong Thần Diễn Nghĩa. Con nhỏ không thèm ngó nó từ giả.

Vậy mà con Quyên hết hờn sau đó không lâu. Những lần tới đổi truyện tiếp theo hai đứa vẫn thân mật như thường. Có lần con nhỏ nói giọng người lớn không ngờ:

‘Truyện Tàu tức là truyện của người Tàu, truyện bên Tàu. Nước người ta có nhiều tuồng tích hay ho như vậy người nước mình thì mạt rệp từ đường, đi cày đi cấy cực khổ đã không đủ ăn thì chớ lại còn bày đặt rượu chè be bét như hủ hèm. Lúc say xỉn thì lè nhè rồi đánh đập vợ con hay gây sự đâm chém thiên hạ. Còn lúc bình thường bị làng xã ức hiếp, bị phú lít mã tà đá đít bộp tai thì ôm đầu máu chịu, im re chẳng dám phản kháng.’

Thằng Chà không nói gì. Những chuyện nầy nhan nhãn đầy trời nên trở thành thường sự. Hèn lâu nó mới nói một câu lãng xẹt:

‘Bà biết hảo hớn là gì không? Là anh hùng đó!’

Con Quyên chép miệng:

‘Người Tàu họ tinh quái lắm. Họ không nói dũng nhơn, hão dũng, anh kiệt hay gì gì đó mà nói hão hớn có nghĩa là người Tàu tốt, người Tàu giỏi, hay người Tàu anh hùng. Làm như thiên hạ không ai là anh hùng như người Tàu, người Hán.’

Thằng Chà lại ngồi im, há hốc miệng nghe nhỏ Quyên lý thuyết. Nó thấy Quyên hơn mình về mặt nầy. Con nhỏ thoát ra khỏi mấy cuốn truyện Tàu còn nó thí dính cứng vô đó. Thuộc lòng La Thông, La Côn, La Xán lúc nhỏ lúc lớn lúc già, thuộc lòng tên và hành trạng mấy chục anh hùng hão hớn Lương Sơn Bạc nhưng không có cái nhìn về thực tế cuộc đời trước mặt như con Quyên.

Nó ngó bạn không nháy mắt, thầm thán phục lẫn ước mơ. Ôi cặp má lúm hai đồng tiền nho nhỏ, hồng hồng với vài sợi gân đỏ lờ mờ dưới lớp da mịn màng, khiến nhỏ ta đỏ mặt quay đi chỗ khác.
 

3.

Cửa nhà thầy Thìn đã mở.  Ông đương ngồi tréo ngoảy bên cái bàn giữa nhà. Bình trà trước mặt. Một tay cầm cuốn sách đóng bằng giấy manh (main), tay kia cầm tách nước đưa tới gần miệng nhưng đã ngừng lại ở đó. Ông đọc chậm rãi từng câu:

Ta chay trường khinh mạn lục thân,

Bạn bè tới thăm chẳng rần rần.

Nhắp chén trà thơm không rượu uống,

Dọn dĩa rau dưa chẳng thịt mần.

Hạ nhẹ tay cầm sách xuống, Thầy Thìn đưa tay cầm tách nước lên chút xíu nữa, chầm chậm nhắp một ngụm. Thoáng thấy cảnh  đó Thằng Chà  hơi khựng lại khi bước tới hàng rào mồng tơi. Trong cửa buồng con Quyên nảy giờ đứng im lặng kính cẩn ngó cha mình ngâm thơ, thấy dạng thằng Chà bèn nháy mắt hất hàm ra dấu biểu đừng bước tới nữa.

Thầy Thìn hạ tách nước xuống, đưa sách lên cao ngang tầm mắt, ngâm tiếp, giọng nho nhỏ vừa đủ nghe:

Bằng hữu lạ ta sao ăn chay,

Chỉ bởi Thiên Đường - Địa Ngục hai.

Ăn chay rau giá vậy mà tốt,

Dẫn tới Linh Sơn khoái thích thay!

 

Thiều quang thấp thoáng lẹ lắm mà,

Mỗi ngày tâm niệm Phật Di Đà.

Hiểu lẽ Tử - Sinh, chuyện phải có,

Chốn cố hương về lòng hoan ca.

Con Mực nằm dưới đất cuộn mình ngoan ngoản lim dim nhưng đưa mõm gác lên một bàn chưn chủ, thầy Thìn lấy chưn kia xoa xoa lên mình con vật, nó cựa cựa uốn éo như thưởng thức tình thương, như tỏ lòng biết ơn. Người chủ ngó xuống con vật cưng của mình rồi cầm sách lên ngâm nga tiếp:

 

Thời gian trần thế có mấy hồi,

Đời người ngày tháng thoáng như thoi.

Nam choắc thành ông, nữ thành bà,

Bao người nhận thấy dung nhan đổi!

 

Con Mực thình lình phóng ra hực hực chào người quen. Tách nước trên bàn được Thầy Thìn uống cạn sau khi chậm rãi để sách xuống, ngó ra sân. Con Quyên bước thụt vô buồng. Thằng Chà lật đật buớc vô, chào thưa bác nói mình đem đổi truyện.

Nó trịnh trọng để hai cuốn truyện lên bàn, lí nhí:

‘Dạ, cháu thấy kẹp trong hai cuốn nầy, mỗi cuốn có một tờ giấy oảnh. Chắc bác để lâu rồi quên. Xin nhắc bác hổng thôi rớt mất uổng.’

Thầy Thìn lật ra chỗ có tiền, lấy bỏ túi. Thầy ngó ngoái lại cố ý kiếm đứa con gái rượu để thầm trao đổi gì đó, nhưng không thấy. Một lúc sau con Quyên mới bưng ra một chồng truyện Tàu và một xấp Sách Bạn Trẻ của nhà xuất bản Nam Việt để lên bàn.

‘Lần nầy tía cho Chà mượn hai loại luôn nha! Coi chuyện Tàu hoài cũng nhàm. Loại Sách Bạn Trẻ nầy tốt hơn, thực tế hơn.’                                                                                                                                                                                                               

Thầy Thìn cười lớn:

‘Con biết ý tía đa! Đọc cho mở mắt ra với người. Mà sao con cho nó mượn nhiều như vậy? Chắc sợ nó đổ đường tới đây mất công chứ gì! Chà nó có lý do để đi một tuần hai ba lần. Xá gì đường xa!’

Đứa con gái hơi xẻng lẻng, cười mím chi nói tía chọc con hoài, tụi con chỉ là bạn hữu cùng xóm cùng làng. Chà mất công đổ đường thì ăn nhập gì tới con!’

‘Để nói cho hai đứa nghe. ’ Thầy Thìn sửa lại bộ ngồi. ‘Đọc truyện Tàu thì phải biết là cái tụi Tàu nó viết toàn là khoe dân tộc nó anh hùng, nào là người Tàu có sức mạnh cử đỉnh ngàn cân, nào là người Tàu giỏi thập bát ban võ nghệ. Họ kêu những người đó là tướng, là người Trời, là thái tử con Ngọc Hoàng đầu thai, là một ngôi sao trên trời bị đọa. Họ kêu dân mình là Nam man, mấy dân tộc chung quanh là Đông di là Bắc dịch là Thổ Phồn…, kêu người Âu Mỹ là Bạch quỷ. Tóm lại ai không phải người Tàu đều là kẻ xấu, người dở, dã man, hèn mọn…’

‘Mà thôi!’ Tách nước lại được thổi, húp. Sau cái chép miệng, thầy Thìn tiếp: ‘Tại người mình không chịu viết  truyện là do làm biếng suy nghĩ với làm biếng tưởng tượng, có viết thì ăn cắp ý, có khi còn cọp-py nguyên con. Để cho thiên hạ viết thay mình thì phải bị như vậy thôi. Tía nói cho hai đứa nghe nè: Đọc thì đọc, mê thì mê nhưng phải biết cái tốt để theo cái dỡ để tránh, đừng có lậm mấy cái pháp thuật  bày đặt của họ mà quên thực tế  ngoài đời… Cuộc sống bên ngoài không dễ như trong sách đâu nà. Kẻ xấu tràn đầy như giòi đục thịt sình, như ruồi bu xác chết.  Nhưng học trung hiếu tiết nghĩa trong truyện thì được, bắt chước làm anh hùng thì không nên. Chết như không đó!’

Con Quyên liếc liếc thằng Chà như ngầm  bảo rằng tía nói thì rán nghe để tía vừa lòng. Thằng Chà đứng im rơ, chăm chú như nuốt  từng lời vàng ngọc của thầy Thìn. Ngó vô miệng thầy nhưng trong lòng tưởng tượng về đôi môi cắn chỉ, về má lúm đồng tiền, về cặp mắt hột nhãn của con Quyên…

‘…Tía thấy thằng Chà thẳng ngay. Lớn lên sẽ là người tốt, không phải là tụi ‘cầu điền vấn xá’, tụi ‘ái bất thích thủ’ như thiên hạ nhan nhãn thời nay!…’

‘Dạ ‘cầu điền vấn xá’ là gì hả tía, ‘ái bất thích thủ’ cũng vậy. Tía nói chữ mắc quá con không hiểu. Không biết Chà có hiểu không.’

Ánh mắt thầy Thìn rọi vô mặt nó, thằng Chà nhè nhẹ lắc đầu.

‘Là bọn đêm ngày cầu mong có được ruộng vườn chim bay gảy cánh chó chạy cong đuôi, gạt đầu nầy cướp đầu nọ để được nhà sang cửa rộng ấy mà! Bọn ham cái gì thì ôm cứng không chịu buông tay ra. Cầu biệt thự thênh thang ở Ô Cấp, ở Đà Lạt, ở Nha Trang, Phú quốc…, kéo vô, kéo vô cho tràn họng, cho ngập mặt thì hỏi làm sao có lòng với người nghèo khổ, với tổ quốc được. Khi lòng tham muốn quơ quào quá lớn thì lòng thiện còn đâu chỗ trú? Chà nó có tấm lòng thành thật. Sẽ là người tốt. Tía nói vậy đó, bây tính sao thì tính. Làm sao coi được thì thôi.’

Người cha  quay mặt ngó thẳng vô khách hèn lâu rồi quay qua đứa con gái:

‘Chim chóc có cái hay mà loài người không biết bắt chước. Chim mẹ đi kiếm mồi cho chim con lúc con còn nhỏ. Khi chim con tới độ ra ràng thì giúp đẩy cho bay. Một hai lần khi chim con bay được thì thôi không xía vô nữa. Tía cũng vậy, chuyện tình cảm của con cái tía để con cái quyết định, không cản trở cũng không khuyến khích.’

Con Quyên bỏ chạy vô buồng. Thầy Thìn lắc đầu cười. Thằng Chà không hiểu hết ý nghĩa câu nói của thầy Thìn nhưng lờ mờ thấy rằng mình không bị ghét bỏ. Nó nghĩ rằng rồi đây nó sẽ được tới căn nhà nầy thường xuyên hơn. Và nó đưa mắt vô nhà trong, tay nắm chặt như một người chiến thắng.
 

4.

Ông già mơ màng ngó ra vườn. Khu vườn đẹp theo kiểu Việt Nam với vài thứ cây ăn trái và một vuông đất nhỏ cho mấy bà còn mạnh mạnh xới đất trồng rau. Không ăn uống gì ba cái thứ đó nhưng ‘tưới  nước ngắt lá’ để nhớ ‘thời chưa bịnh, lúc còn sởn sơ’ là câu cửa miệng của một số ông bà còn đi lại được. Ông già còn đủ sức để điều khiển xe lăn ra hưởng khung cảnh khu vườn. Tôi vài lần đi thăm người bác cùng lứa tuổi ông cũng ở trong nursing home nhiều người Việt Nam nầy từ đó quen ông và được nghe kể về chuyện hơn bảy mươi năm trước…

‘Chúng tôi thân thiết với nhau như vậy tới ba bốn năm, tôi nhổ giò bể tiếng, đứng nhĩnh hơn Quyên nửa trán khi thi đậu bằng Thành Chung rồi đậu luôn kỳ thi còm-mi làm việc ở tòa bố tỉnh Sốc Trăng. Hai đứa không thề thốt gì nhưng trong lòng coi nhau như đã cặp bồ, không còn là bạn hữu nữa. Những lần tới nhà Quyên tự nhiên hơn và cũng chẳng cần đổi truyện. Được cho uống nước đá chanh muối, được trách cứ nhẹ nhàng sao không chịu đội nón dang đầu trần ra đường coi chừng cảm nắng… Nhiều lần còn được ngồi ăn chung với thầy Thìn để nghe thầy giảng chữ nghĩa thánh hiền. Những khi thầy đi bắt mạch xa, chúng tôi ngồi đối diện nói chuyện tự nhiên hơn. Cũng chỉ là chuyện trời trăng mây nước, chuyện Tề Thiên Đại thánh đánh quỷ trừ yêu. Nhiều lắm là một hai cái nắm tay. Rồi thôi. Trong sáng.

Vậy mà… Bỗng nhiên tôi mất tung tích  Quyên. Tôi lúc đó như người chết đuối trôi sông. Đâu chừng là đầu năm 1950. Quyên đi đâu thầy Thìn cũng không biết,  chỉ để lại bức thư tạ lỗi bất hiếu đại ý là thấy cảnh nước nhà tang thương, người nghèo khổ bị bóc lột, kẻ cô thế bị ức oan, Tây tà nạt nộ chưởi bới dân… Lòng quặn đau không chịu nổi. Quyên không nói mình đi với phe phái nào. Quân lưu động trong đầm lầy, trên sông cùng rạch cạn của tướng Lê Quang Vinh, tướng Trần Văn Soái, quân đóng ngay tại Sàigòn hoa lệ của tướng Lê Văn Viễn Bình Xuyên… hay gì gì nữa!’

Ông già ngừng một lúc hèn lâu, mắt mơ ngàng ngó vô mấy con chim nhảy nhót  trên bãi cỏ, vài ba con sóc vui đùa leo lên leo xuống mấy gốc cây cao. Tôi ngó vô con người sức mõn chỉ còn lại chút trí nhớ le lói ánh chiều tàn mà nghĩ tới mai hậu mình… Cuộc sống một người sau cùng rồi cũng như vậy sao? Tưởng ông đã quên những gì đã nói bỗng ông tiếp, không cần ngó tôi, như là để nói với chính mình, hợp lý như nảy giờ không có lúc ngừng nghỉ:

‘Quyên vô bưng làm nữ cứu thương sống đời nguy hiễm rày đây mai đó hay theo phe quốc gia làm nữ quân nhân như một nghề, sống an lành với chồng con xa chiến trường… Tôi biệt biết.  Cha Quyên cũng biệt biết. Chúng tôi hai người đàn ông liên kết nhờ tình yêu đối với một người nữ đã biền biệt tăm hơi, thường ngó nhau buồn thảm. Những cuốn sách của ông đóng bụi trong tủ chẳng còn mời gọi tôi như ngày xưa. Thầy Thìn từ đó lặng lẽ như cái bóng, chuyện coi mạch hốt thuốc ai năn nỉ lắm mới chịu đi, còn thì ngồi trên cái ghế năm xửa năm xưa với bình trà mọi thuở, nhiều khi đến lần sau cách lần trước cả tháng cũng thấy ông trong vị trí đó, trong dáng điệu đó, khiến tôi có cảm tưởng ông ngồi một chỗ, uống trà để cầm hơi, bỏ ăn bỏ ngủ. Ông lắm khi lãm nhãm về những thang thuốc hay như Tứ Quân thang, Ngũ Vật thang, Bổ Trung Ích Khí thang …. rồi chép miệng thở dài. ‘Cũng bởi những nữ tướng kiểu Đào Tam Xuân, kiểu Phàn Lê Huê, những Thập Nhị Quả Phụ, những Sở Vân,  những Mạnh Lệ Quân… chuyện sách vở không dễ như chuyện đời. Nó bồng bột quá, nó tưởng mình là con nhà tướng, nó tưởng đâu là súng đạn cũng như cung tên có thể né tránh được.’

Cái xe lăn được điều khiển để ra chỗ có chút ánh nắng sớm. Gương mặt ông già có chút rạng rỡ hơn.

‘Nói về thầy thuốc Thìn ai ghét thì ghét chứ tôi thương đứt ruột. Ông ngâm nga thơ phú làm mình mất thời giờ, ông tuông điển tích nầy nọ chẳng ăn nhập gì tới cuộc sống chung quanh làm mình khó chịu nhưng đó là những kiến thức quí dàng trời.’

Ông già hom hem lục túi lấy chai Dầu Xanh Con Ó ra xức vài quẹt trên nhơn trung, trên yết hầu, trên chớn thủy:

‘Khổ thiệt! Muốn xức dầu  phải trốn ra đây! Xức trong đó y tá họ rầy, nói nhiều người chịu không được mùi dầu.  Nhứt là thằng y tá người Mễ. Nó nhăn nhăn mũi như là dầu nầy thúi không bằng. Hồi xưa đi hành quân tôi thủ theo mấy chai Nhị Thiên Đường đề phòng trường hợp… Hồi còn má tôi, mỗi khi tôi đi đâu xa má tôi cắt củm mua cho mấy chai….’

Tôi làm thân, đưa tay mượn chai dầu của ông, quẹt trên mũi mình mấy cái.

‘Tôi còn nhớ thầy Thìn cắt nghĩa  chữ Nhị Thiên Đường mà chắc trên đời nầy không mấy người Việt Nam nào biết: Nhị Thiên Đường là nhà thuốc cứu người. Dầu Nhị Thiên là dầu cứu người. Nó như ông Trời thứ hai đã cứu mạng ta, ông trời thứ nhứt là cha mẹ đã sanh ra ta…’

Thấy ông già vừa nói vừa ngó những chùm hoa hồng trắng vương giả, tôi liếc mau về phía cửa sổ rồi day qua bứt lẹ cho ông hai cái hoa thiệt đẹp. Đưa bàn tay run rẫy khô cằn đầy gân xanh ra nhận, ông gật gật đầu mà con mắt đã ươn ướt:

‘Ngày trước đâu có tiền để mà tặng hoa tặng quà. Bây giờ muốn tặng bao nhiêu cũng được thì đã không còn người để tặng.’

Tôi được dịp đi sâu hơn chút nữa vào đời tư ông:

‘Bác có bao giờ gặp lại bà Quyên không?’

‘Có mà không, không mà có. Chẳng biết sao mà nói cho đúng!’

‘?????’

‘Cuối năm 58, đại đội tôi đi tiếp ứng, bị phục kích, tan nát. Tôi bị thương nặng ở hai chưn, thằng hiệu thính viên cố kéo ra khỏi trận địa chừng 100 thước,  đẩy vô một lùm bụi, lấy cây lá đậy điếm cẩn thận rồi chạy đi vì tiếng nói lào xào của họ đã tới gần. Họ đến kéo xác đồng đội và thu dọn chiến trường. Nằm trong bụi tôi thấy một cái ót quen thuộc, một dáng đi điệu đứng quen quen. Người xưa nói nếu chẳng quen lung đố nhìn nhau cho đặng mà! Chỉ có cặp mắt thôi, cô ta quấn khăn rằn ngang mũi che kín mặt, chỉ chừa có bao nhiêu đó. Tôi định chừng hết 80%  là Quyên của tôi. Tôi nín thở, không biết nên im lặng hay kêu lên tên em. Để bảo tồn sanh mạng, tôi quyết định nằm im. Cô ta đi về phía tôi, hơi khựng lại một chút khi nhìn thấy cặp mắt của tôi qua kẻ lá rồi quay về, kéo theo hai người đồng đội nam, mặt đằng đằng sát khí vừa bước tới…

Ngày ấy  tới nay đã bốn chục năm rồi tôi chưa giải được bài toán đó. Có thể là Quyên, có thể không. Có thể người ấy thấy tôi, có thể không. Đời mà! Thiệt thiệt hư hư, tỉnh tỉnh mê mê. Phải phải quấy quấy, như sự ra đi của Quyên. Để yên lòng, tôi đồ chừng lúc đó mình bị thương nên mê man và hình ảnh cái cô bận bà ba đen bịt mặt bằng khăn rằn kia là không có thiệt. Mê mà!’

Tôi nói vuốt đuôi và đưa tay đẩy cái xe lăn vài ba thước cho ông vui.

‘Có thể là mê đó bác, chuyện nầy người ta kêu là sảng, không có thiệt đâu. Nhứt là khi mình bị thương quá đau đớn, quá cận kề  lằn mứt tử sanh.’

‘Sau trận đó tôi thường nằm chiêm bao thấy Quyên, rõ ràng, nhưng mặt buồn dười dượi mà vía tôi trong chiêm bao cũng buồn, cái buồn lạ lắm, kéo dài tới thức dậy hồi lâu  vẫn còn. Vía tôi hỏi gì Quyên cũng lắc đầu không nói rồi đi xuyên qua người tôi, mất biệt. Tôi đồ chừng Quyên đã….’

Ông già Chà bật khóc nức nở. Tôi để tay lên vai ông an ủi.

Một luồng gió lạnh thổi qua hơi lâu. Tôi rùng mình. Ông già hắt hơi hai ba cái thiệt mạnh như muốn văng ra khỏi cái xe lăn rồi im trong vị thế ngồi không được thoải mái với cái đầu nghẻo xuống, cằm chấm ngực. Tôi đợi một lúc lâu mới đưa tay lên mũi ông để nghe hơi thở.

Êm re.

Tránh qua một bên để nhân viên nursing home làm việc, ngó gương mặt buồn man mác nhưng đượm chút thanh thản của người  chết, tôi nghĩ rằng Trời đất đã ban cho ông một hương vị đời, tuy thật tế có chua cay đắng chát nhưng hương thơm của tình yêu trai gái thuở thiếu thời còn đọng hoài trong trái tim, cứ thoang thoảng dịu êm làm ông mang cảm giác buồn buồn dễ chịu.

Ông già Chà ra đi mang theo cuộc tình không trọn. Tôi biết chắc tình yêu của ông với bà Quyên nào đó là mối tình trọn vẹn trong lòng ông nếu không nói là đẹp đẽ vô song. Không đẹp sao ông ôm ấp nâng niu tới hơi thở chót, không đẹp sao ông mang vác từ quê hương tới xứ người?

Trên đường lái xe về, tôi lại muốn nghĩ rằng người nữ mà ông già Chà thấy không phải là bà Quyên. Và người đó cũng không thấy ông đương nằm vái Trời trong bụi rậm. Mà Trời Đất Quỷ Thần ơi! Tại sao tôi lại bận trí về chuyện tình thời xa xưa của một ông già chẳng thân tộc gì với mình! Biết đâu lúc hắt hơi cuối đời là lúc ông nhìn thấy cái má lúm đồng tiền của người con gái năm xưa trong khói sương mờ ảo của Vô Thức. Biết đâu người tình của ông chờ đợi bao nhiêu năm nay mà ông cứ nấn níu hoài trên cái cõi trần tạm bợ để mong có ngày gặp lại cố nhân “lai vô ảnh khứ vô tung …”

  

Nguyễn Văn Sâm

(Khởi bút, Sàigòn đầu tháng 3, 2018. Kết bút, California cuối tháng 5.)

Lời người viết truyện: Quí bạn. Truyện hơi dài dòng há! Tôi vừa viết vừa nhớ lại vài ba chuyện của Nguyễn Tuân ấy mà: Nét Bút Người Tử Tù. Đố chữ (?)… Mấy câu thơ ông thầy đông y Thìn ngâm nga, thấy trong kinh ‘Bách Tuế Tu Hành Kinh’ của Vân Thê đại sư百歲修行經﹣雲棲大師戒殺修行勸世文, kinh Phật bình dân của Tàu phổ biến ở VN vào cuối thế kỷ 19. Dịch thoát mấy đoạn đầu: 我吃長齌慢六親  親朋來到冷淨靜  只有茶來沒有酒  只有素菜沒有葷…. Cũng nên nhắc lại  vài ba từ ngữ thời của truyện này, cuối 40 đầu 50, nay đã đổi thay hay đã mất, xe máy: xe đạp; giấy oảnh: tờ giấy hai chục đồng Đông dương. Tiền nầy có giá trị rất lớn thời đó, có thể bằng 20 triệu tiền hồ bây giờ. Xin lỗi nếu truyện làm bạn chán đọc. Hình như tôi viết cho những người ở tuổi thất thập cổ lai… (NVS)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.