Hôm nay,  

BIÊN GIỚI SÔNG SAI

23/12/201811:58:00(Xem: 4852)

biên giới sông Sai

 

 

Hồ Đắc Túc

 

 

Mae Sai là quận lỵ cực bắc của Thái Lan, thuộc tỉnh Chiang Rai, cách biên quận Tachileik của Miến Điện dòng sông Sai.

          Tôi từ Tam Giác Vàng thuê xe đến Mae Sai vào sáng sớm. Dọc đường có các chốt cảnh sát soát giấy, không phải để tìm cần sa vì thời đại Khun Sa đã chìm vào dĩ vãng, phần đất phía Thái cũng hết trồng cây anh túc. Họ kiểm tra di dân lậu từ Miến Điện trốn qua. Đường dài gần 50 cây số, xung quanh là núi, ruộng lúa, nhà rất thưa, mây sà xuống thật thấp. Đồi núi và cỏ cây yên bình.

Mae Sai không thấy hộp đêm.

          Mae Sai không thấy karaoke.

          Mae Sai không gặp em út đứng đường mời kéo vào coi múa cột.

          Ấn tượng đầu tiên đến Mae Sai trong một sáng mùa mưa, là con đường chính Phaholyothin thênh thang và náo nhiệt với các quầy hàng nối nhau hai bên đường, ngang dọc bày bàn hàng trang sức bằng đủ loại đá quý.

 

blank

Sông Tam Giác Vàng: ảnh tnt

          Con đường này là đoạn cuối của quốc lộ 1 nối hai miền nam bắc.

          Người đi lại hai bên lề đông mà im lặng. Đó là một bầu khi tương phản ít nơi nào của Á châu có. Người ta đi lên ngược xuống, nói năng nhỏ nhẹ, mời hàng dịu dàng. Dường như âm thanh của xe cộ trên đường cũng chìm xuống.

          Khung cảnh đông đúc và yên lặng xung quanh cổng biên giới Mae Sai-Tachileik. Nơi đây có một chiếc cầu xi măng nhỏ và ngắn một phút đi bộ từ bên này Thái qua bên kia Miến, bắt qua dòng sông Sai phát nguyên từ Miến Điện.

          Tôi ngồi trong một quán nước nhỏ phía bờ Thái, cạnh chân cầu. Mây đen vần vũ từ bờ Miến kéo qua. Cơn mưa không bất chợt kéo đến dào dạt. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông chưa đến đây bao giờ, nhưng nhạc phẩm của ông đến đúng khi ấy: Chiều mưa biên giới anh đi về đâu…

          Tôi đến đây nhiều lần nữa trong ba ngày. Bên chân cầu, bên bờ cầu phía Thái, trong quầy hàng phía Thái, sáng, trưa, chiều, tối. Và chỉ thấy một không khí không đổi, lạ lùng.

          Đó là sự nhộn nhịp trong yên lặng.

          Buổi sáng, những người lao động Miến trên đủ mọi phương tiện thô sơ, xe máy, xe lôi đạp, cuốc bộ, đội các thúng và thùng to từ phía Miến qua cầu vào đất Thái.

          Buổi sáng, những người đàn bà Miến gùi con sau lưng, lầm lũi qua cầu ngồi xin ăn rải rác quanh cửa khẩu.

          Những đứa trẻ lam lũ lếch thếch qua bên này nhặt nhạnh nhiều thứ trong thùng rác Thái, cho vào một bao tải trắng quẩy trên vai.

          Những bé gái Miến bồng em, đứa nhỏ quặt đầu trên vai chị, mỏi mệt hay ngất lịm, lang thang trên vỉa hè Mae Sai.

          Buổi xế trưa, những chiếc xe hơi mới từ Thái nối nhau vượt cầu về phía Miến.

          Người Thái giàu có qua bên kia chơi. Bên đó có kaoraoke, gái, sân golf.

          Chiều chưa sẫm, những người Miến đội và xách hàng hóa từ phía Thái trở về làng.

          Những người Thái lái xe ngược về phố họ.

          Hai luồng người ngược nhau, đi về khác nhau.

          Người Miến Điện, gọi chung thế chứ họ gồm nhiều sắc tộc, ở chỗ này là người Shan, nước da sẫm và khuôn mặt trầm ngâm, thao thức, từ bên này sáng choang chợ búa lầm lũi về quê hương tối mịt chờ lại sáng mai.

          Buổi tối, cửa biên giới đóng. Cả một bầu khí quê hai bờ trộn với núi rừng chìm trong tịch mịch.

          Buồn như đôi mắt của người thiểu số Akha ở quanh biên giới của hai nước.

Các thiếu nữ Akha đằm thắm, lông mày đậm, da sậm, sóng mũi cao thanh nhã. Khi đi lại trên phố chợ người Thái, tuy đã rủ bỏ trang phục rực rỡ truyền thống, nhưng làn da và ánh mắt của họ còn nguyên.

Trong đôi mắt dài xênh xếch sáng lên phiền muộn. Họ ở giữa người nhưng như đang ở một thế giới khác. Họ nhìn mà như không, ngơ ngác, không hiểu, lạc lõng, âm thầm.

Vẻ núi rừng của họ có một sức hút thật lạ lùng, vừa nguyên sơ cô độc, vừa chưng hửng.

Một chiều thứ bảy, tôi gặp một nhóm trẻ em dưới và trên 10 tuổi, mặc áo quần đen đứng giữa các quầy hàng bán đá quý. Các thiếu nữ sáng và đẹp như trăng sớm, có đứa ranh mảnh lõi đời. Chúng múa và hát, phía trước có một thùng quyên tiền.

          Nhóm trẻ phần đông là người Akha từ Miến Điện hay từ các làng Akha trong đất Thái, mồ côi, vong gia thất thổ, có đứa từng vào tù vì đem ma túy qua Thái, đứa ăn xin hay được giải thoát từ nhà thổ. Nếu sinh trong đất Thái thì vẫn là di dân bất hợp pháp do chính phủ Thái không cấp giấy tờ tùy thân cho người thiểu số, nên sống lang thang trên đường phố, ăn xin, nhặt rác, hay làm mọi thứ để có tiền. Tổ chức thiện nguyện chidlifemaesan (chidlifemaesan.org) gom chúng về một nơi cách biên giới bảy cây số.

Dol, nhân viên xã hội người Thái đang chăm sóc đám trẻ gây quỹ, nói mong muốn tổ chức cho chúng đi dã ngoại một chuyến lên Doi Tung. Bây giờ trung tâm chăm nuôi trên một trăm đứa, đưa đi ngần ấy thật khó.

          Doi Tung, tiếng bắc Thái nghĩa là Kỳ Sơn (núi cờ), cách trung tâm biên quận Mae Sai 40 cây số, cũng thuộc tỉnh Chiang Rai. Một rặng núi gồm nhiều đỉnh nối nhau, mây giăng qua đường đi, cây xanh ngút tầm mắt. Trên các nương xanh rải rác các cụm làng người Thượng giữa các chim sóc. Cây cỏ được bàn tay người chăm sóc nên không hoang dã. Rặng núi toát lên vẻ sang trọng nhưng vẫn tự nhiên, không luộm thuộm giả tạo như người ta gắn thang máy cạnh thác Damri ở Lâm Đồng, kéo cáp treo lên núi hay băng qua biển Nha Trang.

          Nhóm trẻ Akha đứng hát tập thể giữa phố đông người, cách dòng Mae Sai chừng vài trăm thước. Đi gần về phía sông, một giọng ca nam đơn độc khác, hòa trong tiếng guitar điện, vang lên trong chiều tà. Đó là một thanh niên cao lớn vạm vỡ, ôm đàn đứng giữa chợ, quần đen, áo cổ tròn đen, đeo một chuổi đá đen quanh cổ, tóc dài quá cổ, khuôn mặt sám đen cương nghị cúi xuống, duy đôi mắt mù ngước lên trời cố trông. Tiếng hát của anh quyến rũ lạ kỳ, điệu nhạc nhanh và mạnh nhưng thảm thiết, rồi anh ta chuyển qua một bản slow rock mượt mà, chùng xuống kể lể. Chiều biên giới buồn hơn, lẻ loi hơn với tiếng hát của người nghệ sĩ mù.

          Thứ bảy, sau khi các quầy hàng bán ngọc vàng đóng cửa lúc sáu giờ chiều, các quầy ăn đêm dọn ra. Tiếng hát của đám trẻ, của nghệ sĩ mù vang rất rõ trong một khu chợ yên tĩnh dù đông người. Cửa biên giới đã đóng nhưng quán nước bên dưới cầu biên giới vẫn mở cửa. Suốt con đường nhỏ cong theo bờ sông bên dưới cầu chỉ có cái quán này nằm sát sông nhìn qua Miến Điện. Bàn gỗ chữ nhật, ghế nhựa kê sát lan can gỗ, bếp nấu trong tầm mắt, dãy hành lang dài dọc theo sông vắng ngắt. Quán nghèo nhưng ngăn nắp. Bóng đèn trắng bên hiên quán le lói chiếu trên dòng sông nhỏ bên này không đủ soi sáng phía bên kia bờ Miến. Hai cô bé Miến Điện giúp việc cho bà chủ quán ngồi thù lu một góc, đối diện nhau nhưng không nói chuyện. Một trong hai đứa là người Akha, mặc áo ca rô xanh đậm, khuôn mặt sậm có một vẻ đẹp núi rừng mờ trong bóng tối, duy đôi mắt xếch và to phản chiếu ánh đèn hay màu nước sông thỉnh thoảng lóe lên.

          Chính phủ Miến không trực tiếp xuất khẩu lao động, nhưng ngó lơ để dân trốn sang nước làng giềng giàu có làm đủ thứ nghề. Chế độ có hai món hàng trời cho là người và mỏ. Người thì không phải lo nuôi, tự lớn và tự tìm đường trốn qua Thái làm nghề nào cũng được, gửi tiền về nuôi nhà và lợi nước. Các mỏ đá quý ở tiểu bang Shan, sát biên giới, cũng nhờ trời cho, cứ khai lên và chở qua Thái (và qua Tàu). Cây rừng cũng không thiếu, chở qua biên giới Trung Quốc. Quý nhất là người thiểu số. Miến Điện có trên 130 sắc dân, ngôn ngữ bất đồng, thất học, nghèo. “Đầu ra” của những thôn nữ thiểu số có sẵn ở Thái Lan là các khách và khứa săn tìm thanh thiếu niên vị thành niên.

          Bang Shan, giáp biên giới Trung Quốc, Lào và Thái, có các nhóm vũ trang sắc tộc chống quân đội chính quyền để đòi độc lập hoặc vùng tự trị. Chính quyền đàn áp tàn bạo. Quân đội cư xử như đạo quân xâm lăng chứ không phải để bảo vệ đất nước. Lính tráng vào làng trộm cắp gà vịt, bắt dân đi xây dựng công sự, làm đường, rà mìn, nếu chỗ nào nghi có mìn họ lùa dân đi trước mở đường. Quân đội đuổi người sắc tộc, phần lớn là người Shan, để lấy đất. Phụ nữ và trẻ em là nạn nhân trực tiếp của quân đội. Theo rất nhiều phúc trình của các tổ chức phi chính phủ, lính Miến vào từng nhà hiếp dâm phụ nữ theo lịnh của chỉ huy. Phụ nữ thiểu số chỉ có hai con đường: một là bị lính hiếp dâm, hai là tìm đường qua Thái Lan bán thân.

          Qua Thái Lan, dù cuộc sống không còn là người nữa trong thế kỷ 21, vẫn đỡ tồi tệ hơn ở lại quê nhà.

 

  

blank

Cầu sông Sai. Ảnh:tnt

          Họ vượt biên bằng nhiều cách. Ngoài con đường hợp pháp là băng qua cầu xin chiếu khán có giá trị một ngày hay một tuần, họ bơi hay chèo qua sông, hay đi từng nhóm nhỏ trên các phao nổi bằng ruột xe hơi. Không có con số chính xác bao nhiêu người Miến qua Thái vì rất nhiều di dân lậu, nhưng ước tính có hơn hai triệu người Miến sống hợp lệ hay ngoài vòng pháp luật ở Thái Lan.

          Cô bé Akha bán quán là một trường hợp may mắn hiếm hoi. Bà chủ quán tử tế, không thấy sai bảo quát tháo gì, cô bé chỉ việc bưng nước cho khách hay lau chùi bàn ghế. Ngoài ra cô chỉ việc ngồi nhìn nước sông Sai chảy, lặng lẽ.

          Bên kia bờ Sai, chỉ cách non mười thước, là quê hương Miến Điện.

          Cô có thể về lại quê, chỉ việc lội qua dòng nước sâu không tới đầu gối. Nhưng bên đó là lao tù. Một loạt ‘trung tâm’ dựng rải rác trong tiểu bang Shan, nhốt những người Shan chống đối, hay bị Thái trục xuất theo giao kèo giữa hai chính phủ.

          Cô còn một người cha đang làm ruộng bên đó, một người mẹ và chị gái đang dệt các hàng thủ công để tuồn qua chợ Mae Sai bán.

          Mỗi tháng, cô bé tiếp viện cho gia đình 500 baht, chừng 16 đô Mỹ.

          Nếu muốn có nhiều tiền hơn, cô phải rời cái quán này, đi sâu vào đất Thái. Nhưng muốn lọt vào các thành phố lớn như Chiang Mai hay Bangkok, cô phải chung tiền cho cò mới thoát rất nhiều trạm kiểm soát di dân trên mọi cửa ngõ ra vào Chiang Rai.

          Buổi tối, ánh đèn từ quê nhà lay lắt đây đó. Sau lưng, ánh sáng trên đường cái rừng rực. Quốc lộ 1 chạy từ thủ đô Bangkok, đến chỗ cô là điểm cuối, đánh mốc cây số 891.

          Phía sau lưng rất nhiều tiền và cạm bẫy.

          Trước mắt quê hương mờ mờ.

          Cô gái ngồi nhìn quê hương trong tầm mắt. Cách một dòng sông nhỏ, rất nhỏ. Nước sông xuất phát từ núi rừng bên nhà, chảy âm thầm và chia cắt.

          Ấn tượng cuối cùng của tôi về Mae Sai không còn là khu chợ nhộn nhịp im lặng nữa.

          Bây giờ chỉ còn một dòng sông rất nhỏ.

Sông Sai.

Và người ngồi yên nhìn quê hương bên kia.

Rất yên.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.