Hôm nay,  

Về những mái chùa

05/03/201917:07:00(Xem: 5746)



MauLH.jpg


1.


Trong một tùy bút viết trước 75, nhà văn Võ Phiến có đưa ra nhận xét ngộ nghĩnh, vui vui về chuyện du lịch của đồng bào ta ở miệt Nam bộ. Sau khi đi tham quan vài ngọn núi ở tỉnh Châu Đốc, ông bảo những danh lam thắng cảnh, những chỗ non nước hữu tình, nếu muốn thu hút du khách cho đông đảo thì nên xây dựng nhiều . . . chùa. Nơi có cảnh đẹp mà không có chùa chiền thì cũng sẽ vắng bóng du khách như . . . chùa Bà Đanh thôi. Bằng chứng trước mắt, ông bảo tiếp, là núi Ba Thê và núi Sam. Cảnh sắc thiên nhiên bên núi Ba Thê cũng đẹp đẽ chẳng kém bất cứ nơi nào khác, gần đó lại có gò Óc Eo, một di tích lịch sử và khảo cổ quan trọng của miền đất này, nhưng hình như chẳng có mấy du khách cất công lên núi tham quan. Còn bên núi Sam? Trời! Ông bảo, người đâu mà vô số kể, nhất là vào những ngày rằm, hay lễ Tết. Núi Sam đông người lên thăm bởi nơi đấy có rất nhiều chùa, am, miếu. Liên tiếp san sát nhau trên đường từ chân lên đỉnh núi, cứ cách một quãng lại có một mái chùa hay cái miễu, cái am nho nhỏ nào đó.


Ngót nghét nửa thế kỉ trôi qua từ ngày Võ Phiến viết bài tùy bút. Tôi không rõ bây giờ núi Ba Thê ra sao, núi Sam ra sao, có còn như xưa không, tượng Bà Chúa Xứ vẫn uy nghi, sáng ngời, chung quanh vẫn khói hương nghi ngút, khách thập phương tấp nập ra vào lễ bái? Hay là . . .


Dân Nam bộ tìm núi non có chùa để du ngoạn, hay việc lễ bái mới là chuyện chính, cảnh đẹp xung quanh chỉ là bức phông thiên nhiên làm tăng thêm vẻ tiêu tao, trầm mặc của cảnh chùa? Tôi tự hỏi như thế. Nhưng dù sao chăng nữa đây cũng là điểm đáng chú ý cho các nhà kinh doanh có ý định thành lập, mở mang các khu du lịch.


Đi lễ chùa. Hình ảnh mang nhiều nét thơ mộng của thơ ca. Cụ Chu Mạnh Trinh sau khi lên thăm chùa Hương đã cảm khái thốt lên:


Bầu trời, cảnh bụt,

Thú Hương sơn, ao ước bấy lâu nay.


Hay, đi lễ chùa để mơ tưởng đến tâm hồn thơ ngây, ngọt ngào, chan chứa cảm xúc của cô gái thanh xuân, chân theo mẹ đi lễ chùa mà lòng thì không ngớt vương vấn mối tơ tình chớm nở với chàng thư sinh tuấn tú đi gần bên, trong thơ Nguyễn Nhược Pháp.


Hay, gần gũi với tôi hơn, lên chùa để bắt chước Phạm Thiên Thư tìm một Vết Chim Bay:


Ngày xưa anh đón em,

Nơi gác chuông chùa nọ.

Con chim nào qua đó,

Còn để dấu chân in . . .


Thơ mộng quá! “Phạm Thiên Thư” quá! Đi lễ chùa kiểu này, tôi có thể đi mỗi ngày.



2.


Sự thật là tôi ít khi đi chùa. Thuở tôi còn bé, nhà tôi ở Đà Lạt. Vào những ngày rằm mẹ tôi hay dẫn tôi lên chùa Linh Sơn lễ Phật. Bà dạy tôi cách quỳ lạy, chắp tay khấn vái. Vào đến chính điện, tìm được chỗ trống, bà bảo tôi, “Con quỳ xuống đây rồi chắp tay lạy Phật, xin Phật phù hộ độ trì cho gia đình mình tai qua nạn khỏi, chị em học hành thông minh tấn tới, bố mẹ buôn may bán đắt, con nhé.” Tôi làm theo lời bà, nét mặt đầy vẻ thành tâm, kính cẩn, lạy lấy lạy để. Nhưng chỉ được năm phút, đợi lúc bà bận xì xụp vái lạy, không để ý, tôi chạy tọt ra ngoài sân tìm lũ trẻ đồng trang lứa rồi cứ thế vừa chạy vừa la hét gọi nhau ầm ĩ giữa những cội thông già cao vút quanh chùa. Chạy chơi chán, chúng tôi đi bắt chim, lẻn vào am sau ăn cắp xôi oản trên bàn thờ. Hơn một lần tôi bị sư cô bắt quả tang, bị nhéo tai đau điếng. Đấy là những kỉ niệm đẹp của tuổi thơ tôi.


Sau này khi lớn khôn, nhớ lại những câu khấn mẹ tôi dạy trong chùa, tôi không khỏi bất giác mỉm cười. Giáo pháp đạo Phật, có lẽ tầm hiểu biết của tôi thuộc hạng tiền sơ cấp, nhưng đại khái tôi cũng biết những gì mẹ tôi dạy tôi khấn vái trong chùa đều đi ngược lại với giáo pháp ấy. Phật bảo đời là bể khổ, là sinh lão bệnh tử, thì mẹ tôi xin Phật cho “tai qua nạn khỏi”; Phật bảo muốn lên Niết Bàn, hãy diệt dục thì mẹ tôi xin Phật cho “làm nhiều tiền” và ngày Tết xin xăm thì van vái Phật Bà Quan Âm, xin Phật Bà cho “tài lộc dồi dào, tiền vào như nước.” Vân vân và vân vân.


Nhưng tại sao tôi lại mỉm cười mỗi khi nhớ đến những kỉ niệm ấy? Tôi mỉm cười bởi tôi thấy nó dễ thương hết sức và càng nghĩ tôi càng thấy thương mẹ tôi hơn.



3.


Trước khi biết đến đạo Phật, người Việt – hay đúng hơn, người Lạc – cổ thời có lẽ đã có ít nhiều khái niệm về tín ngưỡng.


Theo những phát hiện và nhận định mới trong ngành Khảo cổ học Việt Nam thì con người đã có mặt rải rác khắp các miền Hòa Bình, Lạng Sơn, Phú Thọ, Nghệ An, Thanh Hoá . . . từ thời Đá Mới, tức là cách nay hai, ba chục nghìn năm. Trong khi đó học giả Nguyễn Khắc Ngữ trong cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt Nam thì bảo dân tộc Việt Nam là từ giống dân Melanesia ở Nam Thái Bình Dương mà ra. Dân Melanesia là một trong những nhóm người ngành Khảo cổ có cái tên gọi chung là “tộc Lapita.” (Giống dân Polynesian là đa số, hiện sinh sống tại phần nhiều các đảo biển Thái Bình Dương, kể cả quần đảo Hawaii.) Họ cực kì tài giỏi trong nghề đi biển. Từ nhiều nghìn năm trước, họ đã chinh phục toàn vùng nam Thái Bình Dương, một hải vực mênh mông dài rộng cả triệu dặm vuông. Thậm chí họ còn sang tìm đất tận đảo Easter gần Nam Mỹ châu, và gần đây có giả thuyết họ đã đặt chân đến châu Mỹ La-tinh bằng thuyền trước Columbus nhiều nghìn năm. Với tài đi biển như thế, chẳng có gì ngăn cản một buổi sáng đẹp trời họ dong thuyền lừ lừ tiến vào vịnh Hạ Long hay một vùng duyên hải nào đó gần cửa bể sông Hồng rồi đổ bộ lên bờ thám hiểm đất đai, tìm thực phẩm, bởi lúc đó cụm từ “illegal aliens” chưa xuất hiện trong bộ từ vựng của loài người. Và tại nơi đó chắc chắn họ phải đụng đầu với những sắc dân đã có mặt từ trước. Với những cuộc gặp gỡ như thế, ban đầu phải có những vụ vác gậy gộc choảng nhau đến bưu đầu sứt trán. Nhưng đánh nhau mãi đến chán rồi mà vẫn không bên nào diệt hẳn được bên nào, hai bên đành gượng gạo nén giận tạm thời hòa hoãn với nhau để mạnh ai nấy sống. Thế rồi, nhiều thế hệ trôi qua, hận thù cũ dần dà nguôi ngoai phai nhạt, lòng kì thị ghét bỏ nhau cũng bớt đi, thấy kẻ địch cũng có nhiều điều hay ho, hữu ích, có thể cải thiện cuộc sống. “Cái gì? Thằng mọi xâm mình như con thuồng luồng suốt ngày lặn dưới biển bắt cá mà cũng biết đúc trống đồng à!” “Hử! Thằng mán cà răng căng tai đó mà cũng biết làm nỏ bắn nai sao?” Thế rồi, hai bên bèn đề nghị sống chung hòa bình, trao đổi hết văn hóa đá mới đến văn hóa đồng thau. Rồi trai bên này chẩu môi nhìn gái bên kia, gái bên kia liếc tình trai bên nọ, và một hôm ông Lạc Long Quân nào đó của phe đi biển trở thành chồng bà Âu Cơ của phe trên núi. Thế là dân Lạc ra đời. Ở vào cái thời hồng hoang đó, kẻ nào bảo không có ái tình, tôi sẽ cãi đến cùng. Dân Lạc ra đời là kết quả một cuộc tình có thể éo le chẳng kém gì chuyện tình Romeo và Juliet.


Các di chỉ và di cốt khai quật được cho thấy dân Lạc, dân Lapita cũng như các nhóm dân khác ở vùng Đông Á châu, từ thời tiền sử tối cổ đại đã có đời sống tinh thần khá cao. Các nhà Khảo cổ học bảo thế. Họ cũng bảo các dân tộc này có tục thờ cúng tổ tiên. Người chết được chôn cất kĩ lưỡng, xác bó chặt, xương sọ và nhiều khúc xương khác được chăm chút tô điểm bằng một loại phẩm màu đỏ như màu thổ hoàng. Phong tục thờ cúng ông bà, cha mẹ là tín ngưỡng của dân Lạc vào thời ấy, truyền đến tận ngày nay và không có dấu hiệu gì chứng tỏ nó phai mờ trong tâm tư người Việt, dẫu đấy là người li hương sống lang bạt kì hồ tận chân trời góc bể. Thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng, một tín ngưỡng sinh tồn, tiêu biểu cho quan niệm phồn thực rất điển hình trong cuộc sống các sắc dân tiền sử. Bởi thờ cúng ông bà là cầu xin vong linh ông bà phù hộ trong cuộc sống bình nhật để con cháu sinh tồn trong những điều kiện ngặt nghèo. (Nghề đi biển, thậm chí ngày nay, vẫn là một trong những lao động nguy hiểm, dễ chết nhất). Tín ngưỡng đó thấm đẫm vào tâm hồn người Việt, nói theo thuật ngữ phân tâm học là “vô thức tập thể”, và mẹ tôi, một cách rất vô tư và thành kính, chắp tay xin Đức Phật cho bà “buôn may bán đắt để có tiền nuôi con.”


Tôi biết Đức Phật từ bi ngồi tĩnh toạ trên tòa sen, miệng khẽ mỉm cười, hiểu bà hơn ai hết.



4.


Người Việt không có óc kì thị tôn giáo. Phật-Lão-Nho, “tam giáo đồng nguyên”, là cụm từ tôi thường nghe. Xin lưu ý từ “nguyên” ở đây có nghĩa là nguồn nước. Hương Hải thiền sư (1631-1718) đời Hậu Lê có câu thơ, “Nguyên lai tam giáo đồng nhất thể.” Và như thế các cụ ngày xưa đã xem tam giáo đều có chung một bản thể, chung một nguồn cội phát sinh. Các cụ là nhà Nho xuất thế hành đạo theo tôn chỉ đức Khổng Phu Tử, nhưng với tinh thần phóng khoáng các cụ vẫn tôn kính Phật giáo và Lão giáo. Từ thời nhà Lý, quan niệm cả ba tôn giáo đều được tôn trọng như nhau đã phổ cập. Về sau thêm đạo Thiên Chúa vào nữa thành “tứ giáo đồng nguyên” không chừng. Suốt chiều dài lịch sử Việt Nam người ta có thể chém giết nhau tàn bạo vì tranh giành quyền lực, đất đai, hoặc nhân danh lí tưởng chính trị này nọ, chứ không có thánh chiến nhân danh tôn giáo. Càng nhiều tôn giáo càng tốt đối với người Việt, thêm một đạo thì có thêm một ông Chúa hay ông Bụt cho người dân phụng tự, thờ cúng, khấn khứa, cầu xin. Chẳng có chi phiền hà cả. Cùng nhìn ra Hồ Tây Hà Nội, chùa Trấn Quốc thờ Phật và đền Quan Thánh thờ Lão chỉ cách nhau một thôi đường ngắn mà lúc nào cũng đề huề, hòa hoãn, chẳng hề xảy ra một vụ xích mích lớn nhỏ nào bao giờ, khác hẳn bên Trung Đông hay Ấn Độ, nơi người khác tôn giáo, thậm chí cùng tôn giáo nhưng khác hệ giáo, tìm đủ mọi cách hãm hại nhau, xem kẻ không cùng tôn chỉ, đức tin với mình là tà đạo, cần diệt trừ bằng được. Nhân danh tôn giáo, diệt trừ kẻ khác niềm tin với mình là tính cách bệnh hoạn, vô luân nhất nơi con người.


Tuy vậy, Tam giáo đồng nguyên là chuyện của giới sĩ phu có học, còn đối với tuyệt đại đa số dân chúng trong nước thì ngàn triệu giáo cũng “đồng nguyên” tuốt luốt!


Người phương Tây, như linh mục thừa sai Léopold Cadière (1869-1955), khi mới đặt chân đến đất nước Việt Nam thời cận đại tìm hiểu, nghiên cứu tôn giáo địa phương thường tỏ ra ngạc nhiên về nhu cầu tâm linh của dân Việt, bởi bên cạnh những đỉnh cao vươn lên tới các tôn giáo thượng đẳng vẫn tồn tại những hình thái tín ngưỡng nguyên thủy của các dân tộc sơ khai sống nơi núi rừng hoang dã, và chính phần này mới có trọng lượng thật sự trong đời sống bình nhật của dân gian. Trong mắt họ, tôn giáo người Việt là tôn giáo thờ quỷ thần. Tôn giáo này không có lịch sử, nó xuất hiện từ khi có nòi giống Việt, hiện hữu ở mọi giai tầng xã hội. Niềm tin sâu sắc trong cảm thức dân Việt là thần thánh ma quỷ có mặt khắp nơi. Một hòn đá dị dạng nằm bên vệ đường, một cây cổ thụ vươn mình oằn oài lơ lửng trên triền đồi, một ghềnh nước oàm oạp tiếng sóng vỗ, một bờ vực sâu thẳm mờ mịt khói sương… Tất cả đều có thần linh hiện diện. Thần đá, thần cây, thần sông, thần núi, v.v… Thần thánh người Việt thờ đông vô số, chỗ nào cũng có thần, không biết cơ man nào nói cho xiết, thần từ người mà thành, thần biểu tượng các sức mạnh siêu nhiên, rồi vương thần đủ mọi đẳng cấp, và không thể quên các thần dữ mà ta phải tìm cách khắc phục để ngăn ngừa tai họa. Ngôi nhà khang trang nhất trong bất cứ thôn xã miền quê nào cũng là cái đình, nơi thờ thần Thành Hoàng của làng. Trong lòng người dân, từ vua quan cho đến cùng đinh, ai nấy đều tin tưởng một cách chắc nịch và thành kính những lực lượng siêu nhiên ấy trực tiếp ảnh hưởng, chi phối lên toàn bộ nếp sống thường ngày của mình. Niềm tin ấy được công bố trên bình diện quốc gia khi nhà vua thay mặt toàn dân ba năm một lần bước lên đàn Nam Giao trịnh trọng trước mặt toàn thể bá quan văn võ và các vị bô lão về tụ tập, làm lễ cúng tế long trọng với mọi nghi thức xin Trời Đất ban mưa thuận gió hòa, mùa màng trù phú, đất nước thanh bình. Đó là loại tín ngưỡng mang nặng tính phồn thực, bởi mục đích của sự cúng tế là cầu xin các quyền năng siêu nhiên ban phát ân huệ nhằm thỏa mãn những nhu cầu thực tế trong cuộc sống.


Có người cho rằng đa số người Việt theo đạo Phật. Điều đó chính xác không? Đạo Phật là một nguồn sống tôn giáo đưa ra một hệ thống giáo pháp uyên áo, thâm sâu nhằm giúp ta tìm kiếm một cuộc sống an lạc thân tâm. Bởi thế, có thể xem đạo Phật như là một triết lí, một nhân sinh quan, một vũ trụ quan. Thế nhưng, ngoại trừ các bậc chân tu, các cư sĩ tắm gội trong giáo pháp, phần nhiều những người tự nhận là Phật tử – trong đó có tôi – lên chùa thắp hương chỉ để van vái cầu xin chư Phật ban cho mình lợi lộc và sự an lành (sau đó còn được ăn cơm chay ngon miệng và nhìn ngắm các bóng hồng bay phất phới trong nắng đẹp sân chùa) chứ có mấy ai thể hiện cái sống và cả cái chết theo đúng những hành vi tôn giáo cảm thụ từ đạo Phật đâu.



5.


MauLH_Trangtho.jpg


Xem ra tín ngưỡng dân Việt là tín ngưỡng cầu xin. Và nơi để người ta đến dâng lễ vật van vái cầu xin điều gì thường không phải mái chùa mà là đền, như đền Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Tây Hồ Hà Nội, hay đền Mẫu Đông Cuông gần thành phố Nam Định. Thốt nhiên tôi nhớ hôm ở Hà Nội, tôi đi chơi lang thang thế nào mà lạc vào phủ Tây Hồ. (Đúng ra tôi bí chỗ đi chơi bèn bảo anh tài xế tắc xi chở tôi đến bất cứ nơi nào có cảnh non nước hữu tình.) Bước xuống xe, tôi bị một dòng người như nước lũ cuốn về phía doi đất nơi đền Mẫu Liễu Hạnh tọa lạc. Không biết người ở đâu ra mà đông thế, toàn những cặp vợ chồng trẻ hoặc trai thanh gái lịch, hai tay bưng mâm hoa quả và nhang đèn, mặt mày nghiêm trang kính cẩn, chen chúc nối đuôi nhau đi từng bước chậm chạp về phía đền. A, hóa ra hôm đó là ngày rằm, họ vào đền cúng xin điều gì đó. Điều gì đó, dù chẳng ai hé môi thổ lộ nửa lời nhưng tôi cũng đoán biết là gì. Cầu đẻ con trai, cầu doanh nghiệp thành công tốt đẹp trong thương trường, cầu ngày mai trúng cá độ, cầu kì thi này thi đỗ, vân vân, nhiều lắm, mỗi người một nỗi niềm mơ ước, mỗi người một nhu cầu khát khao, tất cả trông chờ vào ân huệ của Mẫu, ân sủng của Đất Trời, tất cả như đắm chìm trong niềm thương yêu chân phước. Chắc là được, con xin Mẫu ban cho con… Anh chị cứ thành tâm mà khấn nhé, chỉ cần thành tâm là Mẫu sẽ cho ngay đấy mà.


Thế là, không hẹn mà gặp, tôi chứng kiến ground zero của tín ngưỡng phồn thực dân gian Việt Nam.


Mẫu Liễu Hạnh, dĩ nhiên, là một huyền thoại. Tương truyền Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan một hôm trời đẹp bèn cùng hai người bạn thơ văn thả thuyền ngoạn cảnh Hồ Tây. Đang lênh đênh trên mặt gương hồ thì bỗng đâu xuất hiện một cô gái xinh đẹp. Hai bên đối đáp thơ văn tương đắc lắm. Sau một lúc đàm đạo chuyện văn chương thơ phú, Trạng Bùng ướm hỏi tính danh cô gái, nhưng cô chỉ mỉm cười đọc một bài thơ rồi biến mất. Chẳng biết cụ Trạng về nhà có tương tư cô gái hay không (nếu tôi là cụ thì chắc tôi tương tư đến chết mất thôi), cụ đọc kĩ bài thơ và nhất định bảo cô gái ấy chính là Mẫu Liễu Hạnh. Dân làng nhân thế lập miếu thờ. Người ta bảo tôi đền Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Tây Hồ này linh thiêng lắm, cầu gì được nấy. Thảo nào…



6.


Cầu xin thánh thần là tốt, nhưng tốt nhất vẫn là cầu xin tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Dù sao chăng nữa, ông bà là người trong nhà, họ tộc. Có người cho rằng tôn giáo chính của người Việt không phải Phật giáo mà là đạo ông bà. Nhưng cũng có lập luận cho rằng thờ cúng ông bà, cha mẹ chẳng qua chỉ là hình thái biểu hiện lòng tôn kính của người Việt đối với tổ tiên và các bậc sinh thành đã khuất bóng, không phải tôn giáo. Tôi e lập luận như vậy có phần không ổn. Chẳng lẽ những dân tộc không có truyền thống thờ cúng ông bà, như dân Mỹ, họ đều không biết tôn kính tổ tiên sao? Thật ra, ông bà tổ tiên chỉ là một phần nhỏ trong tổng thể thần thánh mênh mông, và việc thờ cúng ông bà chỉ là một trong trăm nghìn khía cạnh tôn giáo đa dạng của người Việt.


Người Việt tin rằng con người, ngoài phần thân xác, còn có hồn và vía. Tất cả xác hồn vía là những nguyên lí làm nên sự sống. Hồn thì có sinh hồn, giác hồn và thần hồn. Vía thì đàn ông có bảy, đàn bà chín. (Ba hồn bảy vía.) Họ tin là sau khi chết, hồn vía người chết không hề tan biến mà tồn tại muôn đời sau. Căn cứ vào những nghi lễ tống táng người chết, phần hồn vía ấy được thầy cúng làm phép cho nhập vào bài vị để con cháu đem về đặt lên bàn thờ. Từ đó trở đi, vong linh người chết vẫn chung sống trà trộn trong thế giới người sống, vẫn tác động và ảnh hưởng lên sinh hoạt con cháu trong gia đình. Hồn người chết sau khi thoát ra khỏi thân xác vẫn có những nhu cầu y như lúc còn kết hợp với thân xác hồi còn sống. Thờ cúng ông bà tức là vẫn làm tròn đạo hiếu làm con: phụng dưỡng, săn sóc, chăm lo, tức là phải cung cấp đồ dùng, tiền bạc cho ông bà tiêu xài ở thế giới bên kia. Thế là mỗi năm có 5 ngàn tỉ VND vàng mã được đem ra đốt – theo thống kê mới nhất năm 2019 – để ông bà không bị đói rét. Trong mắt người duy vật thì 5 ngàn tỉ đồng này là sự phí phạm cực kì phi lí, nhưng cái-gọi-là “mê tín dị đoan” đó đã ăn sâu trong vô thức tập thể người Việt từ nhiều nghìn năm, tôi không tin người duy vật có thể dẹp bỏ niềm tin ấy trong một sớm một chiều. (Sự thật là nền móng của việc thờ cúng ông bà thường bị ngập chìm trong những ý tưởng mê tín dị đoan.)


Người chết vì có hồn vía nên chẳng những không tan biến mà còn sở hữu một năng lực siêu nhiên, y như thánh thần. Ngày giỗ, ngày Tết, người ta bày lên bàn thờ những món ngon vật lạ mời ông bà xơi và gia đình xì xụp quỳ lạy, khấn khứa cầu xin ông bà ban ân phước, chẳng khác gì lúc lên chùa, vào đền, thắp hương thờ cúng. Sự trường tồn của tổ tiên, sự hiện diện của ông bà ngay giữa gia đình không phải là một món hàng thời trang, một cách nói thi vị, mà là một thực tại sâu xa, ai ai cũng thừa nhận.


Ngày nay sự tôn kính, sùng bái thần vật giảm thiểu nhiều lắm nhất là ở dân đô thị. Trong lúc lái chiếc ô tô đời mới bóng loáng hay phóng chiếc xe máy nhiều phân khối qua cầu Cần Thơ, chẳng mấy ai lẩm nhẩm khấn thầm trong đầu xin “Hà Bá đừng kéo chưn tui xuống sông nhe,” nhưng về nhà thì hầu như ai cũng kính cẩn thắp ba nén nhang trên bàn thờ tổ tiên, thành kính vái lạy.


Tôi thấy hành vi đó quả là đẹp và nhân bản xiết bao.


– Trịnh Y Thư (2019)


  • Phần đầu bài viết xuất hiện trong tập tạp bút Chỉ là đồ chơi, xb 2012. Phần sau viết nhân đám giỗ năm thứ ba họa sĩ Đinh Cường tại tư gia họa sĩ Nguyễn Đình Thuần hôm 7/1/2019.

  • Cảm ơn giáo sư Trần Huy Bích đã giải thích thêm về cụm từ “Tam giáo đồng nguyên.”

  • Hình ảnh trong bài viết do tác giả chụp.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.