Hôm nay,  

Tướng Giữ Thành

26/04/201900:10:00(Xem: 9451)

 

Tướng Giữ Thành

 

Hồ Thanh Nhã

 

Nhắc đến biến cố 30 tháng 4 năm 1975 thì hầu hết người Việt sống ở hải ngoại đều bùi ngùi thương cảm khi nhắc đến cái chết oai hùng của 5 vị tướng đã tự tử  trong thời gian kể trên. Nay tôi xin góp nhặt tin tức được kể lại từ nhiều người thân cận tướng Nguyễn Khoa Nam về cuộc sống đời thường của ông. Đầu tiên là anh Ngoan hồi trước là Trung úy tùy viên của tướng Nam kể lại trong những lần họp mặt anh em trong các cử cà phê sáng. Là tướng Nam thường hút thuốc lá Bastos đen nặng, mà lại hút nhiều mỗi khi chiến sự gia tăng. Chiếc gạt tàn bằng sành đến sáng là đầy ắp, anh Ngoan phải mang đi đổ.

 

Tướng Nam là người sùng đạo Phật, tối nào trước khi đi ngủ, ông đều tụng kinh. Trong phòng ngủ của ông có cuốn kinh và cái chuông nhỏ để gần đầu giường. Hằng năm anh Ngoan đều có mời tôi đến dự đám giỗ hai tướng Nam và Hai  tại tư gia của anh. Trong nhà anh Ngoan có bàn thờ hai ông tướng, hàng ngày anh chị đều đốt nhang. Đám giỗ thường tổ chức trước sau ngày 30 tháng 4 vào ngày cuối tuần để anh em đến dự được. Anh chị Ngoan tự bỏ tiền ra mua thức ăn và cũng tự nấu nướng có khi cũng được sự trợ giúp của vài chị ở gần nhà. Khách mời toàn là những người đồng đội cũ thuộc Sư đoàn 7 bộ binh và các đơn vị trực thuộc. Chừng đâu được vài ba chục người. Ai đến đều mang theo ít thức ăn hay bia rượu, đi tay không cũng không sao, miễn hàng năm anh em gặp nhau một lần cũng đủ lắm rồi.

 

Cách đây chừng 15 năm thì cũng khá đông, chừng bốn năm chục người. Nay thì khá lắm là ba chục, chết từ từ hết rồi, hoặc đau bịnh không đến được.Cũng làm lễ chào cờ, mặc niệm, anh Ngoan chủ nhà đứng lên nhắc vài kỹ niêm với hai ông tướng mà mọi người trìu mến gọi là 601, tức danh hiệu truyền tin của Tư lịnh Sư đoàn 7 bộ binh hồi trước. Cúng xong xúm nhau dọn xuống ăn, nhắc vài kỹ niệm cũ, tên vài địa  danh mà hồi còn trẻ họ đã chiến đấu, dưới quyền hai ông thầy cũ. Kỹ niệm cũ trùng trùng nhắc sao cho xiết , mà người còn ngồi tại đây mỗi ngày một già yếu ốm đau. Còn lại chăng là âm hưởng xa vời của tình huynh đệ chi binh còn đọng trong lòng nhiều nỗi xót xa của tuổi già bóng xế. Trên bàn thờ hai ông Tướng năm nào cũng cúng con cua luộc và ổ bánh mì thịt. Hỏi anh Ngoan thì được biết tướng Nam rất thích ăn cua luộc. Còn tướng Hai thì sáng nào cũng sai tài xế chạy ra mé ngoài cổng trại Đồng Tâm là bản doanh của Bộ Tư lịnh sư đoàn 7  bộ binh mua cho ông một ổ bánh mì thịt. Vì bận rộn biến cố 30 tháng 4 xảy ra dồn dập nên tướng Hai quên ăn. Sau khi Dương Văn Minh đầu hàng, mãi tới khuya thấy cửa phòng tướng Hai vẫn đóng kín, mọi người phá cửa mới hay ông đã tự tử chết bằng thuốc độc, khúc bánh mì mua buổi sáng vẫn còn trên bàn. Do đó mỗi năm đám giỗ thì trên bàn thờ hai ông Tướng lúc nào cũng có con cua luộc và ổ bánh mì.

 

Trung tá Ngô Đức Lâm Thiết đoàn trưởng Thiết đoàn 6 Ky binh thường kể cho chúng tôi nghe là năm 1974 lúc Thiết đoàn hành quân ở Long khốt gần biên giới Việt Miên thì tướng Nam thình lình xuống thăm. Mâm cơm trưa chưa kịp ăn, Trung tá Lâm đành mời ông tướng cho phải phép. Nào ngờ tướng Nam sà vào ngồi ăn luôn, lót mũ sắt ngồi ăn bữa cơm dã chiến của thiết giáp. Món ăn chỉ có tô cá rô kho khô, rau muống đồng luộc và chén cà pháo mấm nêm thôi. Thế mà tướng Nam khen rối rít, còn dặn lần sau tới nhớ cho ông ăn món cà pháo mắm nêm độc dáo của Thiết đoàn 6 Kỵ binh đãi tướng Tư lịnh Sư đoàn. Âu cũng là những giai thoại khó quên của vị anh hùng  Vị quốc vong thân Nguyễn Khoa Nam mà con cháu đời sau của dân tộc Việt Nam sẽ luôn nhắc đến.

  

..

  

                               Tướng giữ thành

 

                 Tưởng niệm anh linh Tướng Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết ngày 30 -4 -1975.

                  Đồng tôn kính anh linh 4 Tướng: Nguyễn Văn Phú, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ.

 

Đài Sài Gòn loan bản tin buổi sáng

Quân lịnh cuối cùng : Ngưng chiến – Bàn giao

Thế nước biến cả sơn hà xao xuyến

Lòng quân dân cuồn cuộn nổi ba đào

 

Tướng Tư lịnh buông bút chì xanh đỏ

Trung tâm hành quân chi chít bản đồ

Nhìn dãy giang sơn đồng bằng châu thổ

Còn dằng co theo thế trận răng cưa

 

Điếu Bastos trong gạt tàn đầy ắp

Dòng khói xanh còn lan tỏa triền miên

Tư lịnh nhíu mày lòng đau như cắt

Dấu chân chim hằn khuôn mặt chữ điền

 

Gió sông Hậu thổi qua giòng Bassac

Mang niềm đau về cửa biển sông Tiền

Tin chiến bại khiến lòng quân ngơ ngác

Lan xa dần qua biên giới Việt-Miên

 

Tướng Tư lịnh xuống bậc thềm tam cấp

Nhìn đăm đăm cờ tổ quốc đang bay

Gió lay động lá tướng kỳ dưới thấp

Nghĩa keo sơn ràng buộc nước non nầy

 

Thế trận biến lấy chi đền nợ nước

Tình non sông còn nặng chĩu bên lòng

“Đất nước còn, không còn anh cũng được

Đất nước không, anh có cũng là không “

 

Tư lịnh ghé thăm từng giường bịnh viện

Những thương binh vừa mới mổ chiều qua

Anh lính cụt chân nói không thành tiếng :

Đừng bỏ em ! trong nước mắt chan hòa

 

Tư lịnh vỗ vai thương binh sọ nảo

Băng trắng tinh còn quấn nửa bên đầu

Tiếng nói nghẹn ngào niềm đau thăm thẳm :

Không ! chẳng bao giờ anh bỏ em đâu

 

Một lời nói như khắc sâu vào đá

Nặng ngàn cân bia sử mãi lưu danh

Người ở lại với miền Nam châu thổ

Chín nhánh sông dài bát ngát đồng xanh

 

Người nằm xuống cùng hồn thiêng sông núi

Chết hiên ngang linh khí kết thành thần

Ân nghĩa nặng nề quê hương bờ cõi

Tiếng còn lưu : danh tướng chết theo thành

 

Người chết lâu rồi, người còn ở lại

Từ cuối chân mây đêm bấc lạnh lùng

Ngày hiển thánh cả giống nòi mong mỏi

Của những anh hồn hữu thủy hữu chung

 

                       Hồ Thanh Nhã

 

 

              Biển Đông

 

Người đi ra biển Đông

Trùng dương muôn lớp sóng

Chiếc thuyền sao bé bỏng

Chở bao niềm ước mong

 

Người vừa thoát cửa sông

Tàu biên phòng rượt đuổi

Tràng liên thanh đỏ chói

Chấm dứt đời long đong

 

Người đi về thiên thu

Tháng Ba mùa lặng gió

Biển dù không bão tố

Bỗng chốc dậy mây mù

 

Vừa thoát ách ngưu đầu

Gặp ngay loài mã diện

Chiếc thuyền con trên biển

Trăm oan hồn về đâu ?

 

Con tàu lạ đâm ngang

Chơi vơi bờ sinh tử

Bên kia bầy thú dữ

Rực đỏ mắt hung tàn

 

Người chết trên mạn thuyền

Máu loang vùng biển tối

Trẻ thơ chưa biết nói

Vật vờ làn nước đen

 

Những bào thai hải tặc

Chín tháng trời cưu mang

Chén cơm chan nước mắt

Não nề miệng thế gian

 

Con thuyền trong đêm tối

Sóng lớn dậy trùng dương

Điên cuồng cơn bão tới

Rước người về thủy cung

 

Lời đồng dao đây đó

Câu sấm truyền lan xa

Bao giờ Minh chúa hiện ?

Mười phần chết còn ba

 

Đêm nhìn sao Bắc đẩu

Đối chiếu hướng hải đồ

La bàn kim bất động

Mặt kính mờ nước mưa

 

Con thuyền không bánh lái

Sóng nước đùa nhấp nhô

Mười ngày đêm chịu đói

Thủy táng mồ trẻ thơ

 

Oan hồn từ muôn phương

Kết tụ vầng mây xám

Bao cuộc đời ảm đạm

Nằm dưới đáy trùng dương

 

Mênh mông bờ vô định

Nghiệp báo chín tầng sâu

Giống nòi còn nhận lãnh

Quả báo đến khi nào ?

 

Người đi về biển Đông

Thấy chết từ trên bến

Ba phần trôi trên biển

Bảy phần cõi mông lung…

 

Trong tận cùng tuyệt vọng

Niệm hồng danh Quan âm

Ánh mắt mờ trông ngóng

Lời cầu kinh  âm thầm

 

Con thuyền vô khẳm nước

Tàu kéo về Bidong..

Thuyền nhân oà tiếng khóc

Thấy mái nhà Galang

 

Oan hồn trôi lênh đênh

Nhấp nhô đầu ngọn sóng

Nghĩa địa buồn không tên

Bờ quạnh hiu quên lãng…

 

Một hôm đoàn người về

Nén nhang bờ hải đảo

Lời cầu kinh siêu độ

Về thế giới bên kia

 

Hồn về từ chân mây

Hồn nương theo ngọn sóng

Hồn bay theo gió lộng

Về chứng giám hôm nay…

 

Lời cầu kinh giải oan

Lan xa đầu ngọn gió

Hồn nương ánh sương tan

Ngàn thu miền tịnh độ…

 

               Hồ Thanh Nhã

 

 

         Tàu đêm

 

Một con đường sắt dài vô tận

Nối lại tình thương ở cuối trời

Tôi ngẩn ngơ nhìn ga xép lạnh

Muôn đời…chỉ đứng một mình thôi

 

Tàu sang chở hết buồn xa xứ

Còn lại trăm năm mấy nhịp cầu

Ai thấy tình ai rơi rớt lại

Bên đường và mãi đến ngàn sau ?

 

Còi xé đêm dài buồn nửa đêm

Toa tàu thấm lạnh gió rừng êm

Ngoài kia sương muối rơi nhiều lắm

Lòng cũng mênh mông mấy nỗi niềm

 

Tàu qua Mương Mán qua Sông Phan

Tiễn biệt ngưòi đi biết mấy lần

Ánh lửa rừng đêm ga vắng cháy

Mang buồn muôn dặm. .nặng hành trang

 

          Hồ Thanh Nhã

 

  

           Viễn Tây

 

Muốn đến thăm em phải đi về hướng biển

Về bên kia dãy núi mờ xa

Bỏ lại sau lưng mặt trời vừa mọc

Bông tuyết đầy thành phố Oklahoma

 

Đường ngàn dặm đo tấc lòng viễn khách

Nhớ tiếng mẹ ru từ thuở nằm nôi

Thương sao quá võng trưa Hè kẽo kịt

Đường sao dài như xa lộ 40 ?

 

Bỏ lại sau lưng vầng đông vừa mọc

Đồng cỏ giếng dầu cây phủ tuyết đêm qua

Chiếc Greyhoud mang tâm tình mới lạ

Khách đường xa ngao ngán bước quan hà

 

Amarillo ! Thị trấn còn yên giấc

Ánh đèn đêm mờ nhạt trong màn sương

Người khách Mễ dụi mắt nhìn quanh quất

Còn bao xa tới trạm nghỉ bên đường ?

 

Đồng cỏ ngút ngàn đàn bò đen ngơ ngác

Địa danh gì gợi nhớ thuở hoang sơ ?

Tuccumcari ! nghe như tiếng chim rừng ca hót

Lùi về xa …thuở vó ngựa chinh Tây xây dựng cơ đồ

 

New Mexico trải dài qua cửa kính

Du khách buồn hướng mắt chân trời xa

Người da đỏ lên xe rồi xuống bến

Đồng cỏ dài vẫn nối tiếp đi qua

 

Ôi ! Hiu quạnh rừng thông và tuyết trắng

Arizona mờ mịt màn sương đêm

Ngủ nửa giấc cứ ngỡ về Đà Lạt

Nhớ quê hương sao bàng bạc nỗi niềm ?

 

Đất khách rộng dù trăm sông ngàn suối

Vẫn thương hoài dãy đất hẹp quê hương

Miếng Pizza buồn nhai mà miệng đắng

Nhớ vô cùng tô hủ tiếu Trung Lương

 

Đây Phoenix với thông xanh đường phố

Rừng thông xanh nối tiếp rừng thông xanh

Từng ngọn núi…kéo dài thêm dãy núi

Nhớ quá Trường sơn, xa vắng Ngũ hành

 

Xa lộ 10 tiếp đèo cao núi thẳm

Đường ngược chiều tách đồi trọc chênh vênh

Đất xuống thấp bỏ dãy đèo ở lại

Thung lũng dài núi đá dựng hai bên

 

Muốn đến thăm em phải băng qua sa mạc

Ranh giới Ca Li buồn như thuở sơ khai

Hai giờ xe…cây gai và núi trọc

Có gió hú lưng trời bàng bạc mây trắng bay

 

Lặng trong gió hàng cây Palms rủ lá

Thiếu vắng màu xanh..nhàn nhạt lá vàng Thu

Phố xá Palm Springs phủ cát vàng sa mạc

Đường về nhà em..thăm thẳm sương mù

 

Viễn Tây đó ! bãi cát vàng Long Beach

Thái Bình Dương.. đau tấc dạ tha hương

Phía bên kia, đằng sau muôn lớp sóng

Là quê hương mòn mỏi bóng thiên đường

 

Giờ gặp lại em giữa thủ đô tị nạn

Không có quà gì mang tặng em đâu !

Chỉ có nỗi xót xa hằn lên ánh mắt

Đếm đắng cay…từng sợi bạc trên đầu

 

                    Hồ Thanh Nhã

 

 

 


 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tưởng tượng một khu vườn xinh đẹp như vườn thượng uyển của vua chúa ngày trước với hoa lá muôn màu lung linh trong gió hiền và nắng ấm. Rồi bỗng dưng một cơn mưa đá đổ xuống. Cây, lá, cành, nụ… đủ sắc màu quằn quại dưới những cục đá thả xuống từ không gian. Tàn cơn mưa, những nụ, những hoa, những cánh lá xanh non tan nát. Những cục nước đá tan đi. Bạn không còn tìm ra dấu vết thủ phạm, bạn chỉ thấy những thứ bạn phải gánh chịu: ấy là những tổn thất bất ngờ. Ở một nơi mà vô số các sắc tộc sống chung với nhau như Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, mỗi ngôn ngữ là một loài hoa đầy hương sắc trong khu vườn muôn sắc màu ấy. Nhưng rồi trong trận thiên tai, mỗi sắc lệnh của chính phủ là một hòn đá ném xuống, hoa lá cành tan nát theo nhau. Bạn không biết những cơn mưa đá còn bao lâu. Bạn cũng không thể nào đoán trước được những tổn thất chúng đổ xuống cho khu vườn yêu quý mà bạn dày công gầy dựng.
Elon Musk đang có một vị trí vô cùng quan trọng trong chính quyền mới của Trump. Là người đứng đầu Bộ Cải Tổ Chính phủ (Department of Government Efficiency – DOGE), Musk có quyền lực gần như vô hạn trong việc cắt giảm hoặc tái cơ cấu lại chính phủ liên bang theo ý mình. Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, Musk còn có ảnh hưởng đến tổng thống trong nhiều vấn đề chiến lược quan trọng. Một trong những vấn đề nổi bật chính là TQ. Trong khi phần lớn nội các của Trump đang theo đuổi chính sách cứng rắn đối đầu với Bắc Kinh, Musk lại là một ngoại lệ rõ rệt. Là một chuyên gia về quan hệ Mỹ - Trung, Linggong Kong (nghiên cứu sinh của trường Auburn University) không hề ngạc nhiên trước những phát biểu ủng hộ Bắc Kinh của Musk trong suốt nhiều năm qua. Bởi lẽ, từ trước đến nay, ông luôn tìm cách mở rộng hoạt động kinh doanh tại TQ.
Một nữ nhà văn sống ở Pháp, bày tỏ trên Facebook của bà rằng: “Xin tiền, rất khổ! Zelenski không chỉ khẩu chiến với Trump mà cả... Biden. Hai tổng thống đã cãi nhau trong một cuộc điện đàm tháng 6/2022, khi Biden nói với Zelensky rằng ông vừa phê duyệt thêm $1 tỷ viện trợ quân sự cho Ukraine, Zelenski lập tức liệt kê tất cả các khoản viện trợ bổ sung mà ông ấy cần. Sự không biết điều này đã khiến Biden mất bình tĩnh, ông liền nhắc nhở Zelenski rằng người Mỹ đã rất hào phóng với ông ấy và đất nước Ukraine, rằng ông ấy nên thể hiện lòng biết ơn nhiều hơn.”
“Nếu tôi muốn nói chuyện với Âu Châu, tôi phải gọi cho ai?” Câu hỏi nổi tiếng này, được cho là của cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger, ám chỉ sự thiếu thống nhất của Âu Châu trong việc thể hiện một lập trường chung trên trường quốc tế. Dù đã trải qua nhiều thập niên hội nhập dưới mái nhà Liên Âu (EU), câu hỏi ai là đại diện cho Âu Châu – hoặc Âu Châu muốn trở thành gì trong tương lai – hiện nay có lẽ còn khó trả lời hơn bao giờ hết.
Bài phát biểu dài 1giờ 40 phút của Tổng thống Donald Trump trước Quốc hội đã nêu cao nhiều sáng kiến ​​của ông, từ việc trấn áp nhập cư đến thuế quan và chính sách năng lượng trong sáu tuần bắt đầu nhiệm kỳ của mình, nhưng nhiều bình luận của ông bao gồm thông tin sai lệch và gây hiểu lầm.
Khoa học gia người Mỹ da đen nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20 George Washington Carver (1864-1943) đã từng nói rằng, “Giáo dục là chìa khóa mở cánh cửa vàng của tự do.” Đúng vậy! Chính vì vai trò quan trọng của giáo dục đối với tự do mà các nhà cách mạng Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 như Phan Chu Trinh (1872-1926), Phan Bội Châu (1867-1940) đã tận lực vận động cho việc nâng cao dân trí để canh tân đất nước hầu có thể giải phóng dân tộc thoát khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp. Đất nước Hoa Kỳ nhờ có tự do, dân chủ và dân trí cao mà trở thành đại cường quốc trên thế giới. Nền giáo dục của Mỹ đã trở thành kiểu mẫu được nhiều nước ngưỡng mộ, cho nên số lượng sinh viên ngoại quốc du học tại Mỹ là cao nhất trên toàn cầu, với 1,126,690 người vào năm 2024, theo https://opendoorsdata.org.
Tổng thống Donald Trump vẫn luôn có sở thích tự đặt biệt danh cho chính mình: từ “thiên tài vững chãi,” “Don Trung Thực,” và giờ thì lên hẳn ngôi “vua.” Nhưng lần này, danh xưng vua chúa mà ông tự phong đã khiến nhiều người phải giật mình suy nghĩ. Hôm thứ Tư tuần qua, Trump tuyên bố “đánh bại” kế hoạch thu phí giao thông của New York dành cho Manhattan để giảm kẹt xe. Ông hớn hở đăng trên Truth Social: “KẾ HOẠCH THU PHÍ GIAO THÔNG ĐI TOONG RỒI. Manhattan và toàn bộ New York đã ĐƯỢC CỨU. HOÀNG ĐẾ VẠN TUẾ!”
Chúng ta thử nhắm mắt hình dung một ngày nọ, tất cả những cơ quan đầu não chiếm vị trí hàng đầu trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia nằm dưới sự lãnh đạo của các nhân vật có số năm kinh nghiệm là số 0. Chưa hết, Hoa Kỳ nay đứng về phía Nga và các quốc gia phi dân chủ, bỏ phiếu chống nghị quyết của Liên Hiệp Quốc lên án cuộc xâm lược Ukraine.
Nhà văn Võ Hồng ví von: “Bụng to như bụng xe đò.” Nhận xét của ông, rõ ràng (và hoàn toàn) không… trật! Xe đò thường đầy khách mới chịu rời bến nhưng trên đường đi tài xế vẫn luôn dừng bánh “hốt” thêm mấy con nhạn là đà để kiếm thêm chút đỉnh. Khách lên sau thì ngồi ghế súp.
Gần ba năm sau khi Nga tấn công xâm lược Ukraine, Mỹ và Nga đang bắt đầu xúc tiến công cuộc đàm phán, nhưng Mỹ tuyên bố là châu Âu không được tham gia diễn biến này. Do đó, nhiều tranh chấp cố hữu giữa châu Âu và Mỹ về Ukraine mang lại một sắc thái nghiêm trọng hơn, trong khi chiến tranh vẫn còn tiếp diễn. Hiện nay, châu Âu có những phản ứng quyết liệt vì muốn trực tiếp tham gia vào tiến trình đàm phán.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.