Hôm nay,  

NHẬN DIỆN LICH SỬ

01/05/201909:42:00(Xem: 8250)
NHẬN DIỆN LICH SỬ
 
Đào Như

 

 

 blank

  

Ngày này tháng này năm 1975 Trung Tá bác Sỹ Hoàng Như Tùng, bệnh viện trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản-Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biệt Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sỹ quan bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sỹ Tùng nhận diện tướng Nguyễn Khoa Nam.

 

 Viên thiếu tá bộ đội cộng sản, cúi xuống, nghiêm chỉnh dỡ vành khăng trắng che mặt Tướng Nguyễn Khoa Nam. Gương mặt Tướng Nguyễn Khoa Nam hiện ra trông hiên ngang lạ thường: cầm dưới của ông ngẩng lên cao, Tướng Nam mặc nguyên bộ đồ trận còn thẳng nếp, với cầu vai mang đủ phù hiêu cấp tướng của Quân Đội Viêt Nam Công Hòa, trên ngưc trái vẫn giữ nguyên Bảo Quốc Huân Chương, Anh Dũng Bội Tinh, cùng nhiều huy chương Quân sự, Dân sự và nước ngoài. Hai chân của thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam vẫn nguyên đôi giầy trận .

 Bác sỹ Hoàng Như Tùng bậm môi, vai run khi cúi xuống ký biên bản nhân diện Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Tên Thiếu tá bộ đội cộng sản, trong tư thế nghiêm trang, đưa tay nhận bản nhận diện từ tay bác sỹ Hoàng Như Tùng.

Sau một hồi trao đổi rất ngắn với tên Thiếu Tá bộ đội cộng sản, bác sỹ Hoàng Như Tùng đưa ra lời yêu cầu: Xin chính phủ cách mạng mai táng Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam trong quan tài theo đúng nghi cách. Tên thiếu tá bộ đội cộng sản nghiêm túc đáp lại: chúng tôi xin ghi nhận lòi yêu cầu của bác sĩ và sẽ chuyển lên cấp trên. Hy vong lời yêu cầu của bác sĩ sẽ được chuẩn thuận.

Chợt một chiến binh công sản, trông chừng 17, 18 tuổi, đội nón tai bèo, mang súng AK, tiến đến đá vào đôi giầy trận của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam và nói to bằng giọng Băc Kỳ: tên ngụy quân này chỉ xứng đáng chôn truồng. Câu phát biểu của anh ta rơi vào khoảng không, không được một sĩ quan cách mang nào chú ý, vì họ đang bận quan tâm đến lời yêu cầu của bác sĩ Hoàng Như Tùng.

 

Vào khoảng mấy tháng sau, trong một buổi giao ban của khoa ngoại của binh viên Đa khoa Hâu Giang, Bác sĩ cách mạng Nguyễn Văn Ngôn, bác sĩ trưởng đầu ngành khoa ngoại của binh viện,  lên tiếng ca ngợi sự tuẫn tiết của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, người biết bảo vệ sinh mang các Chiến sĩ Viêt Nam và đồng bào. Đáp lại sự tuẫn tiết của ông, bác sĩ Nguyên văn Ngôn cho biết Nhà nước cách mạng đã mai táng ông trong quan tài rất chu đáo.

 

Lạ thay, sau lần phát biểu này, bác sĩ Nguyễn Văn Ngôn bị đảng ủy của bịnh viện yêu cầu viết bài tự phê  và kiểm điểm vì bác sĩ Ngôn đã tiết lộ môt điều cấm kị mà chinh phủ cách mạng không muốn cho dân chúng hay biết về việc Tướng Nguyễn Khoa Nam được chính phủ cách mạng mai táng trong quan tài. Việc đảng ủy của bịnh viện kiểm điểm bác sĩ Nguyễn Văn Ngôn phản ảnh bộ mặt thật của chuyên chính vô sản. Chế độ cộng sản luôn nắm giữ độc tài sự thật lịch sử, để sau đó họ có thể bóp méo sự thật, xuyên tạc lịch sử chỉ vì lợi ích của đảng cộng sản.

 

Trong một buổi họp Điều Trị Tâm Thần Tâp Thể (Group Therapy) tai Chicago vào năm 1996, Trung tá Lâm Quang Bạch, Trưởng phòng Chiến Tranh Chính trị Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, Vùng 4, sĩ quan tham mưu của tướng Nguyễn Khoa Nam, đã miêu tả sự tuẫn tiết của tướng Nguyễn Khoa Nam qua một tư liệu của ông viết riêng về Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, một vị chỉ huy trưc tiếp của ông. Trung tá Lâm Quang Bạch kể như sau tại buổi họp điều trị tâm thần tâp thể hôm đó:

 

   “ Tình hình chiến sự thuộc lãnh thổ Quân Khu 4 vào những ngày cuối tháng Tư bảy lăm nói chung và thành phố Cần Thơ nơi đăt bản doanh Bộ Tư lệnh Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, Vùng 4, nói riêng tương đối yên tỉnh so với tình hình các tỉnh miền Đông thuộc Quân Khu 3 và Biệt khu Thủ đô, nơi đặt bản doanh  của Chính phủ Trung Ương Saigon. Nhất là sau vụ Tướng Nguyễn Khoa Nam đích thân chỉ huy các đơn vị thống thuộc đánh bại và vô hiệu hóa hoàn toàn hỏa lực của Trung Đoàn Chủ Lực Miền”Hậu Giang” của cộng sản khi Trung Đoàn này xâm nhập và tiến sát vào vòng đai phòng thủ của phi trường quân sự Trà Nóc-Cần Thơ

    Sáng ngày 29-4-75 Bộ Tư Lênh Quân Đoàn 4 triệu tập một cuộc họp quan trọng để duyêt xét lại tình hình và ra phương án phản công mới, dưới sự chủ tọa của của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân Đoàn 4, Quân Khu 4. Thành phần tham dự buổi họp gồm có: Tư Lệnh, Tư Lệnh Phó, Tham Mưu Trưởng, Tham Mưu Phó, các sĩ quan Trưởng Phòng trong bộ tham mưu của Quân Đoàn 4, ngoại trừ hai sỹ quan cao cấp của Quân Đoàn, một cấp Chuẩn Tướng Tham Mưu Trưởng và một cấp Đại Tá Trưởng Phòng 2-Quân Đội đã tẩu thoát ra nước ngoài là không tham dự phiên họp này. Cuộc họp tuy ngắn nhưng trang nghiêm và hết sức nghiêm trọng. Các Đơn vị trong Quân Đoàn 4 thề “Kiên quyết và đoàn kết sau lưng vị Tư Lệnh và chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, tử thủ Vùng 4 ”…

 

Sáng ngày 30-4-75 vào lúc 10:25  Tổng THống Dương Văn Minh lên đài phát thanh Saigon kêu gọi toàn thể quân đội và các tướng lãnh chỉ huy các Quân Đoàn, Sư Đoàn trên toàn lãnh thổ miền Nam, phải buông vũ khí, ngưng chiến đấu và chờ bàn giao cho chính quyền cách mạng. Thế là một quân đoàn hùng mạnh như Quân Đoàn 4, tới giờ phút này vẫn nắm vững tay súng, chủ động trên mọi tư thế chiến đấu  và phản công, đang giữ vững miền châu thổ sông Cửu Long, sắp phải tan rã.

 

Tướng Nguyễn Khoa Nam, một quân nhân chuyên nghiệp, ông phải tuân mệnh lệnh thượng cấp, nhất là vị thượng cấp này là Tổng thống Dương Văn Minh, Tổng Tư Lệnh  Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa., vị chỉ huy trực tiếp của ông.

 Một số sỹ quan phục vụ trong Bộ Tham Mưu, của Quân Đoàn 4, kể cả tôi, quá chán nãn tự rời bỏ đơn vị , về sum họp với gia đình và chờ ngày vào tù. Một số khác tìm đường tẩu thoát ra nước ngoài, vì họ sợ công sản trả thù. Trong bối cảnh này chỉ còn lại một mình Thiếu Tướng Nguyễn KHoa Nam, Tư Lệnh và Thiếu Tướng Lê Văn Hưng Tư Lệnh Phó, và một số sĩ quan thân cận ở lại doanh trại của Bộ Tư Lệnh  của Quân Đoàn

 Tướng Nguyễn Khoa Nam, một tướng lãnh ưu tú, sống độc thân, ăn trường chay, thanh bạch, một đời ông cống hiến cho binh nghiệp, tận tụy với quân đội.

 

Chiều ngày 30 tháng Tư 75, cộng sản đưa người của họ là Tám Thạch, mang quân hàm thiếu tá trung đoàn trưởng, qua trung gian của Nguyễn Khoa Lai, em thúc bá của Tướng Nam, Thiếu tá bác sĩ Quân Đội Viêt Nam Công Hòa và đai úy bác sĩ Đoàn Văn Tựu, y sỹ trưởng Tiểu đoàn 40, Chiến Tranh Chính Trị, hiện trú đóng tại Bình Thủy, Cần Thơ, vào tiếp xúc với Tướng Nam tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4 đồn trú trên đai lộ Hòa Bình, thành phố Cần Thơ. Nội dung cuôc tiếp xúc cấp nhỏ như chúng tôi không ai được biết ngoai trừ Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lênh Phó được Tướng Tư Lệnh bàn bạc và thông báo riêng. Thiếu Tướng Hưng trở về tư dinh và tự sát sau đó.

Sau khi cân nhắc mọi hậu quả có thể xảy đến cho đồng bào và chiến sĩ trong vùng lãnh thổ, Tướng Hưng và Tướng Nguyễn Khoa Nam tuần tự đi đến quyết định tuẫn tiết.

Sự tuẫn tiết của hai vị Tương Lãnh, Tư Lênh và Tư Lệnh Phó của chúng ta, Tướng Nguyễn Khoa Nam và Tướng Lê Văn Hưng là những quyết định kiên cường và dũng cảm mãi mãi được tuyên dương và ghi công, đời đời được lịch sử soi sáng “ … (*)

 

Hôm nay ngày 1 tháng 5 năm 2019, đúng sau 44 năm Tướng Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, Vùng 4 Chiến Thuật, tại Cần Thơ, tôi mạo muội ghi lại những điểm son của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa trong giai đoạn lịch sử khốc liêt này, với hy vọng 100 năm, 200 năm sau sẽ có sử gia nào đó có đủ can đảm và khả năng nghiêng mình xuống tim hiểu viết lại trung thực những hồi bi tráng này của lich sử dân tôc ta./.

 

Đào Như

Bác sĩ Đào Trọng Thể

Chicago-Sáng ngày 1 tháng 5 năm 2019

Đúng 44 năm sau ngày Tướng Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết.

 

(*) Đây là nguyên văn bức thư  của Trung Tá Lâm Quang Bạch đưa cho tác giả sau buổi điều trị tâm thần tập thể (Group Therapy) hôm ấy.

 

 


 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi thì trộm nghĩ hơi khác FB Đoan Trang chút xíu: Việt Nam có hàng ngàn Tiên Lãng, Đồng Tâm, Dương Nội. Những thôn ổ này luôn là nơi sản sinh ra những nông dân (“vài ngàn năm đứng trên đất nghèo”) Lê Đình Kình, Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Qúy, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Thị Tâm, Nguyễn Thùy Dương, Trịnh Bá Khiêm, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư ... Hàng hàng/lớp lớp, họ sẵn sàng nối tiếp tiền nhân – không bao giờ dứt – để gìn giữ và bảo vệ quê hương. Quyết định đối đầu với sức mạnh của cả một dân tộc là một lỗi lầm chí tử của những kẻ đang nắm giữ quyền bính hiện nay.
Người Pháp gặp nhau, bắt tay, hoặc ôm hun ở má, tay vừa vỗ lưng vài cái nếu thân mật lắm, buông ra, nhìn nhau và hỏi «Mạnh giỏi thế nào?». Người Pháp mang tâm lý sợ sệt, nhứt là sợ chết sau nhiều trận đại dịch, từ dịch Tây-ban-nha giết chết gần phân nửa dân số âu châu. Người Tàu, gặp nhau, chào và hỏi ngay «Ăn cơm chưa?». Ăn cơm rồi là hôm đó sống hạnh phúc vì phần đông người Tàu đói triền miên. Trốn nạn đói, chạy qua Việt nam tỵ nạn, vẫn còn mang nỗi ám ảnh nạn đói. Còn người Việt nam xứ Nam kỳ chào nhau và hỏi thăm «Mần ăn ra sao?». Gốc nghèo khó ở ngoài Bắc, ngoài Trung, đơn thân độc mã, vào Nam sanh sống giữa cảnh trời nước mênh mông, đồng hoang lau sậy, thoát cái nghèo là niềm mong ước từ lúc rời người làng, kẻ nước.
Thiệt đọc mà muốn ứa nước mắt luôn. Sao mà xui xẻo dữ vậy Trời? Tôi sống theo kiểu check by check, có đồng nào xào đồng đó, chưa bao giờ dư ra được một xu. Hai tháng trước, vì (hay nhờ) dịch Vũ Hán, nhà nước Hoa Kỳ thương tình gửi phụ thêm cho 1,200.00 USD. Trộm nghĩ mình cũng đã đến lúc gần đất xa trời rồi nên lật đật bỏ số tiền này vô ngân hàng, dành vào việc hoả táng. Vụ này tui đã dọ giá rồi, tốn đâu cỡ gần ngàn. Vài trăm còn lại để con cháu mua chút đỉnh hương hoa, cho nó giống với người ta, ngó cũng phần nào đỡ tủi.
Có vẻ như con người thời nay càng lúc càng trở nên lười biếng, thụ động; nhất là từ khi nhân loại bước vào kỷ nguyên tin học, truyền thông liên mạng. Tin học đã đem con người khắp hành tinh gần lại với nhau, nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn, chính nó bị con người lạm dụng để bóp méo, biến dạng sự thực cho những mục tiêu bất chính của cá nhân, bè phái.
Sau 95 năm gào cùng một giọng nền Báo chí gọi là “cách mạng” của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) vẫn trơn tru uốn lưỡi phóng ra câu giả dối rằng:”Tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người đã được Việt Nam cam kết thực hiện theo những nguyên tắc chung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền.” (báo Quân đội Nhân dân (QĐND), ngày 15/6/2020). Điều không thật này đã được Ban Tuyên giáo, tổ chức tuyên truyền và chỉ huy báo chí-truyền thông sử dụng từ lâu, nay được lập lại để kỷ niệm 95 năm ngày gọi là “Báo chí cách mạng Việt Nam” (21/6/1925-21/6/2020).
“Muốn chỉ một cá nhân nào đó, tùy theo giai cấp, tín ngưỡng, tùy theo lúc sống hay chết, tùy theo già hay trẻ, người Việt Nam có rất nhiều tên để gọi. Ngôn ngữ Việt có những từ sau đây chỉ các loại tên: bí danh, bút hiệu, nhũ danh, nghệ danh, pháp danh, pháp tự, pháp hiệu, tên, tên cái, tên đệm, tên họ, tên gọi, tên chữ, tên cúng cơm, tên hèm, tên hiệu, tên húy, tên riêng, tên thánh, tên thụy, tên tục, tên tự, thương hiệu.” (Ngưng trích: Nguyễn Long Thao- DANH XƯNG ĐẶC BIỆT CỦA THƯỜNG DÂN VIỆT NAM)
Các cuộc khủng hoảng lớn lao có các hậu quả trầm trọng, thường không tiên đoán được. Cuộc Đại Khủng hoảng trong thập niên 1930 đã thúc đẩy trào lưu cô lập, tinh thần dân tộc, chủ nghĩa phát xít và Đệ nhị Thế chiến, nhưng cũng dẫn đến biện pháp hồi phục kinh tế New Deal, sự trỗi dậy của Hoa Kỳ như một siêu cường toàn cầu, và cuối cùng là tiến trình xoá bỏ thực dân. Các cuộc tấn công trong ngày 11 tháng 9 đã tạo ra cho Mỹ hai sự can thiệp thất bại, sự trỗi dậy của Iran và các hình thức mới của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã tạo ra một sự đột biến trong trào lưu dân tuý chống các định chế chính trị lâu đời để thay thế cho các nhà lãnh đạo trên toàn cầu. Các nhà sử học trong tương lai sẽ theo dõi và so sánh những ảnh hưởng lan rộng đến cơn đại dịch virus corona hiện nay; thách thức cho họ là hình dung ra trước được các ảnh hưởng.
Bác sỹ Tom Dooley qua đời năm 1961. Mãi đến vài chục năm sau, tôi mới biết đến tác phẩm đầu tay của ông (Deliver Us from Evil) do Farrar, Straus & Cudahy xuất bản từ 1956. Đây là một tập bút ký, có hình ảnh minh hoạ đính kèm, về cuộc di cư ồ ạt (vào giữa thế kỷ trước) của hằng triệu người dân Việt. Họ ra đi chỉ với hành trang duy nhất là niềm tin vào tình người, và không khí tự do, ở bên kia vỹ tuyến. Rồi họ đã được tiếp đón, hoà nhập và sinh sống ra sao nơi miền đất mới? Câu trả lời có thể tìm được – phần nào – qua một tác phẩm khác (Sài Gòn – Chuyện Đời Của Phố) của Phạm Công Luận, do Hội Nhà Văn xuất bản năm 2013.
Học về Việt Sử trong chương trình của Trung Học Đệ Nhất Cấp, không học sinh nào không biết đến giai thoại Nguyễn Trãi tiễn biệt phụ thân là Nguyễn Phi Khanh tại Ải Nam Quan. Đó là tháng 6, năm Đinh Hợi 1407 Sau khi nhà Minh xua quân sang xâm chiếm nước Nam thì Trương Phụ sai Liễu Thăng lùng bắt thành phần trí thức, để ngăn ngừa sự kêu gọi dân chúng nổi dậy đòi lại quyền tự trị. Trong số những người bị bắt để giải về Tầu, có Nguyễn Phi Khanh.
Trung Tâm quan sát, nghiên cứu Sóng Hấp Lực (gravitational waves) bằng tia Laser “Laser Interferometer Gravitational-Wave Observatory” (viết tắt LIGO) xây dựng cách đây hơn 30 năm, tốn 600 triệu. Hoạt động từ ngày ấy, tốn thêm khoảng năm trăm triệu nữa, không phát giác được cái gì. Nhưng lúc sắp sập tiệm, LIGO thình lình công bố đã bắt được “Sóng Hấp Lực” lan tỏa ra khi hai Hố Đen sát nhập thành một. Chuyện “nhập một” này, cũng theo LIGO, xảy ra cách Trái Đất hơn một tỉ năm ánh sáng. Thế giới khoa học chấn động. LIGO thắng lớn, lãnh nhiều giải cao quý, và cuối cùng đoạt luôn Nobel 2017.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.