Hôm nay,  

NHẬN DIỆN LICH SỬ

01/05/201909:42:00(Xem: 8218)
NHẬN DIỆN LICH SỬ
 
Đào Như

 

 

 blank

  

Ngày này tháng này năm 1975 Trung Tá bác Sỹ Hoàng Như Tùng, bệnh viện trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản-Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biệt Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sỹ quan bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sỹ Tùng nhận diện tướng Nguyễn Khoa Nam.

 

 Viên thiếu tá bộ đội cộng sản, cúi xuống, nghiêm chỉnh dỡ vành khăng trắng che mặt Tướng Nguyễn Khoa Nam. Gương mặt Tướng Nguyễn Khoa Nam hiện ra trông hiên ngang lạ thường: cầm dưới của ông ngẩng lên cao, Tướng Nam mặc nguyên bộ đồ trận còn thẳng nếp, với cầu vai mang đủ phù hiêu cấp tướng của Quân Đội Viêt Nam Công Hòa, trên ngưc trái vẫn giữ nguyên Bảo Quốc Huân Chương, Anh Dũng Bội Tinh, cùng nhiều huy chương Quân sự, Dân sự và nước ngoài. Hai chân của thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam vẫn nguyên đôi giầy trận .

 Bác sỹ Hoàng Như Tùng bậm môi, vai run khi cúi xuống ký biên bản nhân diện Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Tên Thiếu tá bộ đội cộng sản, trong tư thế nghiêm trang, đưa tay nhận bản nhận diện từ tay bác sỹ Hoàng Như Tùng.

Sau một hồi trao đổi rất ngắn với tên Thiếu Tá bộ đội cộng sản, bác sỹ Hoàng Như Tùng đưa ra lời yêu cầu: Xin chính phủ cách mạng mai táng Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam trong quan tài theo đúng nghi cách. Tên thiếu tá bộ đội cộng sản nghiêm túc đáp lại: chúng tôi xin ghi nhận lòi yêu cầu của bác sĩ và sẽ chuyển lên cấp trên. Hy vong lời yêu cầu của bác sĩ sẽ được chuẩn thuận.

Chợt một chiến binh công sản, trông chừng 17, 18 tuổi, đội nón tai bèo, mang súng AK, tiến đến đá vào đôi giầy trận của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam và nói to bằng giọng Băc Kỳ: tên ngụy quân này chỉ xứng đáng chôn truồng. Câu phát biểu của anh ta rơi vào khoảng không, không được một sĩ quan cách mang nào chú ý, vì họ đang bận quan tâm đến lời yêu cầu của bác sĩ Hoàng Như Tùng.

 

Vào khoảng mấy tháng sau, trong một buổi giao ban của khoa ngoại của binh viên Đa khoa Hâu Giang, Bác sĩ cách mạng Nguyễn Văn Ngôn, bác sĩ trưởng đầu ngành khoa ngoại của binh viện,  lên tiếng ca ngợi sự tuẫn tiết của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, người biết bảo vệ sinh mang các Chiến sĩ Viêt Nam và đồng bào. Đáp lại sự tuẫn tiết của ông, bác sĩ Nguyên văn Ngôn cho biết Nhà nước cách mạng đã mai táng ông trong quan tài rất chu đáo.

 

Lạ thay, sau lần phát biểu này, bác sĩ Nguyễn Văn Ngôn bị đảng ủy của bịnh viện yêu cầu viết bài tự phê  và kiểm điểm vì bác sĩ Ngôn đã tiết lộ môt điều cấm kị mà chinh phủ cách mạng không muốn cho dân chúng hay biết về việc Tướng Nguyễn Khoa Nam được chính phủ cách mạng mai táng trong quan tài. Việc đảng ủy của bịnh viện kiểm điểm bác sĩ Nguyễn Văn Ngôn phản ảnh bộ mặt thật của chuyên chính vô sản. Chế độ cộng sản luôn nắm giữ độc tài sự thật lịch sử, để sau đó họ có thể bóp méo sự thật, xuyên tạc lịch sử chỉ vì lợi ích của đảng cộng sản.

 

Trong một buổi họp Điều Trị Tâm Thần Tâp Thể (Group Therapy) tai Chicago vào năm 1996, Trung tá Lâm Quang Bạch, Trưởng phòng Chiến Tranh Chính trị Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, Vùng 4, sĩ quan tham mưu của tướng Nguyễn Khoa Nam, đã miêu tả sự tuẫn tiết của tướng Nguyễn Khoa Nam qua một tư liệu của ông viết riêng về Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, một vị chỉ huy trưc tiếp của ông. Trung tá Lâm Quang Bạch kể như sau tại buổi họp điều trị tâm thần tâp thể hôm đó:

 

   “ Tình hình chiến sự thuộc lãnh thổ Quân Khu 4 vào những ngày cuối tháng Tư bảy lăm nói chung và thành phố Cần Thơ nơi đăt bản doanh Bộ Tư lệnh Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, Vùng 4, nói riêng tương đối yên tỉnh so với tình hình các tỉnh miền Đông thuộc Quân Khu 3 và Biệt khu Thủ đô, nơi đặt bản doanh  của Chính phủ Trung Ương Saigon. Nhất là sau vụ Tướng Nguyễn Khoa Nam đích thân chỉ huy các đơn vị thống thuộc đánh bại và vô hiệu hóa hoàn toàn hỏa lực của Trung Đoàn Chủ Lực Miền”Hậu Giang” của cộng sản khi Trung Đoàn này xâm nhập và tiến sát vào vòng đai phòng thủ của phi trường quân sự Trà Nóc-Cần Thơ

    Sáng ngày 29-4-75 Bộ Tư Lênh Quân Đoàn 4 triệu tập một cuộc họp quan trọng để duyêt xét lại tình hình và ra phương án phản công mới, dưới sự chủ tọa của của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân Đoàn 4, Quân Khu 4. Thành phần tham dự buổi họp gồm có: Tư Lệnh, Tư Lệnh Phó, Tham Mưu Trưởng, Tham Mưu Phó, các sĩ quan Trưởng Phòng trong bộ tham mưu của Quân Đoàn 4, ngoại trừ hai sỹ quan cao cấp của Quân Đoàn, một cấp Chuẩn Tướng Tham Mưu Trưởng và một cấp Đại Tá Trưởng Phòng 2-Quân Đội đã tẩu thoát ra nước ngoài là không tham dự phiên họp này. Cuộc họp tuy ngắn nhưng trang nghiêm và hết sức nghiêm trọng. Các Đơn vị trong Quân Đoàn 4 thề “Kiên quyết và đoàn kết sau lưng vị Tư Lệnh và chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, tử thủ Vùng 4 ”…

 

Sáng ngày 30-4-75 vào lúc 10:25  Tổng THống Dương Văn Minh lên đài phát thanh Saigon kêu gọi toàn thể quân đội và các tướng lãnh chỉ huy các Quân Đoàn, Sư Đoàn trên toàn lãnh thổ miền Nam, phải buông vũ khí, ngưng chiến đấu và chờ bàn giao cho chính quyền cách mạng. Thế là một quân đoàn hùng mạnh như Quân Đoàn 4, tới giờ phút này vẫn nắm vững tay súng, chủ động trên mọi tư thế chiến đấu  và phản công, đang giữ vững miền châu thổ sông Cửu Long, sắp phải tan rã.

 

Tướng Nguyễn Khoa Nam, một quân nhân chuyên nghiệp, ông phải tuân mệnh lệnh thượng cấp, nhất là vị thượng cấp này là Tổng thống Dương Văn Minh, Tổng Tư Lệnh  Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa., vị chỉ huy trực tiếp của ông.

 Một số sỹ quan phục vụ trong Bộ Tham Mưu, của Quân Đoàn 4, kể cả tôi, quá chán nãn tự rời bỏ đơn vị , về sum họp với gia đình và chờ ngày vào tù. Một số khác tìm đường tẩu thoát ra nước ngoài, vì họ sợ công sản trả thù. Trong bối cảnh này chỉ còn lại một mình Thiếu Tướng Nguyễn KHoa Nam, Tư Lệnh và Thiếu Tướng Lê Văn Hưng Tư Lệnh Phó, và một số sĩ quan thân cận ở lại doanh trại của Bộ Tư Lệnh  của Quân Đoàn

 Tướng Nguyễn Khoa Nam, một tướng lãnh ưu tú, sống độc thân, ăn trường chay, thanh bạch, một đời ông cống hiến cho binh nghiệp, tận tụy với quân đội.

 

Chiều ngày 30 tháng Tư 75, cộng sản đưa người của họ là Tám Thạch, mang quân hàm thiếu tá trung đoàn trưởng, qua trung gian của Nguyễn Khoa Lai, em thúc bá của Tướng Nam, Thiếu tá bác sĩ Quân Đội Viêt Nam Công Hòa và đai úy bác sĩ Đoàn Văn Tựu, y sỹ trưởng Tiểu đoàn 40, Chiến Tranh Chính Trị, hiện trú đóng tại Bình Thủy, Cần Thơ, vào tiếp xúc với Tướng Nam tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4 đồn trú trên đai lộ Hòa Bình, thành phố Cần Thơ. Nội dung cuôc tiếp xúc cấp nhỏ như chúng tôi không ai được biết ngoai trừ Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lênh Phó được Tướng Tư Lệnh bàn bạc và thông báo riêng. Thiếu Tướng Hưng trở về tư dinh và tự sát sau đó.

Sau khi cân nhắc mọi hậu quả có thể xảy đến cho đồng bào và chiến sĩ trong vùng lãnh thổ, Tướng Hưng và Tướng Nguyễn Khoa Nam tuần tự đi đến quyết định tuẫn tiết.

Sự tuẫn tiết của hai vị Tương Lãnh, Tư Lênh và Tư Lệnh Phó của chúng ta, Tướng Nguyễn Khoa Nam và Tướng Lê Văn Hưng là những quyết định kiên cường và dũng cảm mãi mãi được tuyên dương và ghi công, đời đời được lịch sử soi sáng “ … (*)

 

Hôm nay ngày 1 tháng 5 năm 2019, đúng sau 44 năm Tướng Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, Vùng 4 Chiến Thuật, tại Cần Thơ, tôi mạo muội ghi lại những điểm son của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa trong giai đoạn lịch sử khốc liêt này, với hy vọng 100 năm, 200 năm sau sẽ có sử gia nào đó có đủ can đảm và khả năng nghiêng mình xuống tim hiểu viết lại trung thực những hồi bi tráng này của lich sử dân tôc ta./.

 

Đào Như

Bác sĩ Đào Trọng Thể

Chicago-Sáng ngày 1 tháng 5 năm 2019

Đúng 44 năm sau ngày Tướng Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết.

 

(*) Đây là nguyên văn bức thư  của Trung Tá Lâm Quang Bạch đưa cho tác giả sau buổi điều trị tâm thần tập thể (Group Therapy) hôm ấy.

 

 


 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.