Hôm nay,  

Con phà Bến Tre

16/05/201910:22:00(Xem: 8376)

                 Con phà Bến Tre


Tháng Tám qua phà sang Rạch Miễu

Một vùng mây nước nhớ bâng khuâng

Người xưa trở lại giòng sông cũ

Tìm cuối chân trời…những dấu chân


Cầu khởi công rồi , trơ cột sắt

Triều dâng con nước chảy bình yên

Mai kia ví nếu đường thông tuyến

Tủi phận con phà bị lãng quên


Ở đâu còn thấy bóng xà lan ?

Kéo một đoàn ghe khẳm cát vàng

Man mác chiều xanh sông nước đó

Bèo mây hờ hững gió mưa tan


Còn đâu thấp thoáng buồm no gió ?

Xuôi ngược trường giang những mảnh đời

Trọn kiếp thương hồ trăm bến đỗ

Mấy tầng mây nước mấy chia phôi


Từ độ sơn hà nghiêng ngửa đó

Gót giày mòn nhẳn bước quan san

Qua trăm sông lạ cây cầu lạ

Cát bụi nào phai nghĩa đá vàng


Vẫn nhớ giòng xưa bến nước xưa

Chao ôi ! Tình nặng mấy cho vừa

Ai qua bến ấy chiều ly biệt

Biết mấy người đi mấy kẻ đưa ?


Có những giòng sông chục chiếc cầu

Dập dìu xa lộ lướt qua mau

Đôi ba chiếc yacht buồn khua nước

Uể oải lưng trời cánh hải âu


Cho hay dù có đi ngàn dặm

Vẫn nhớ vô vàn bến nước trong

Vẫn nhớ con phà cao tuổi thọ

Miệt mài đưa rước khách sang sông


Tháng Tám qua phà sang Rạch Miễu

Triều dâng lai láng nước sông Tiền

Gió sông mát mặt người xa xứ

Còn nhớ…hay là mãi lãng quên ?


Mai kia chắc hẳn đường thông tuyến

Qua một giòng sông phút chốc vèo

Phà cũ trăm năm ai nhớ nữa

Gió trăng từ đó cũng buồn theo


Em mặc áo vàng đi chợ Tết

Dập dềnh con nước thủy triều lên

Qua sông để lại người trên bến

Một chút bình yên , chút nỗi niềm


Chúa nhật ra bờ sông giặt áo

Gió đùa tóc rối xõa bờ vai

Thương em thương cả cây cầu gỗ

Thương cả bờ xa vệt nắng dài


Chiều xưa đâu một chiều xưa nữa ?

Trái mận mời nhau góc cuối vườn

Ặn trái trên cây vừa mới chín

Còn nghe thoang thoảng một mùi hương


Ở đâu bàng bạc hương hoa mận ?

Đuôi tóc thơm từ ngọn gió xa

Trở lại mùa sau ăn trái chín

Nào hay ..mây chắn nẻo quan hà


Mùa mận , năm ba mùa mận nữa

Người đi góc núi chẳng tin về

Phà sang…đếm được bao nhiêu chuyến

Mấy cuộc sum vầy mấy cách ly ?


Mười năm gió cuốn hoa vông rụng

Biền biệt người đi chẳng trở về

Một sớm bên trời nghe thức dậy

Tình quê chan chứa nẻo biên thùy


Mười năm trở lại thăm vườn cũ

Mới biết người xưa đã lấy chồng

Mây nước quê hương thì vẫn thế

Mà người trong mộng đã sang sông


Một sớm anh về thăm Phước Thạnh

Vẫn hàng dừa nước cụm bần xanh

Hỏi thăm ..ai biết người năm cũ

Nền cũ hoang tàn lối cỏ quanh


Tháng Tám sông Tiền lai láng nước

Gió đùa nhô nhấp lục bình trôi

Mới hay mặt nước bao nhiêu sóng

Là bấy nhiêu tình kẻ ngược xuôi….


Hồ Thanh Nhã


Tháng 8 năm 2,000 , mẹ tôi mất ở Bến Tre . Tôi trở về Việt Nam , có dịp đi qua con phà Rạch Miễu , về thăm lại quê hương xứ dừa . Lúc đó cây cầu Rạch Miễu nối liền hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre đã khởi công , nhưng chưa xong . Con sông nầy , chuyến phà nầy , tôi đã đi qua lại nhiều lần từ khi còn bé . Những cảm xúc vui buồn lẫn lộn của tôi về cây cầu sắp được hoàn thành sẽ thay thế con phà trăm tuổi thọ nầy đã khiến tôi có ý định làm một bài thơ về chuyến thăm lại cố hương nầy . Đây là những cảm xúc có thật , trong một giai đoạn xây cất có thật của quê hương Bến Tre . Và hôm nay thì cây cầu Rạch Miễu nối liền hai tỉnh Tiền giang và Bến Tre đã thông tuyến , một biến chuyển kinh tế tốt đẹp cho quê hương . Và con phà Bến Tre từ nay cũng đi vào dĩ vãng , chắc ít người còn nhắc tới . Họa chăng chỉ có tác giả .

Mình đã ôn cố rồi , thì bây giờ mình phải biết tri tân . Đó là hình ảnh cây cầu Rạch Miễu hôm nay . Cầu Rạch Miễu nằm trên quốc lộ 60 bắc qua sông Tiền, nối liền hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre .Đây là cây  cầu dây văng lớn do kỹ sư Việt Nam thiết kế và thi công theo công nghệ mới .Cầu khánh thành ngày 10 tháng 9 năm 2,007 , cách thành phố Bến Tre 10 cây số . Trước đó có 2 cây cầu dây văng là cầu Mỹ Thuận do Úc thiết kế và thi công và cầu Cần Thơ do Nhật thi công .

Chiều dài cầu Rạch Miễu là 8,331 mét , kể cả đường nối hai đầu cầu .Giữa cầu là cù Lao Thới Sơn . Hai đoạn đường nối hai đầu có tổng chiều dài là 5,463 mét và hai cầu chính có chiều dài là 2,868 mét , bắc qua hai nhánh sông Tiền và cồn Thới Sơn ..

Chiều cao thông thuyền là 37,5 mét , cho phép tàu 10 ngàn tấn có thể đi qua . Chiều rộng của cầu là 15 mét cho 2 làn xe ô tô và 2 làn xe máy . Có phần đường cho người đi bộ hai bên . Trọng tải cầu là 60 tấn .

Năm 2,011 , tôi lại về Việt Nam vì cha tôi mãn phần . Lần nầy tôi không đi phà nữa mà đi qua cầu Rạch Miễu . Mời quí vị xem bài thơ  : Qua cầu Rạch Miễu sau đây :


Qua cầu Rạch Miễu


Em nhắn anh về chơi xứ dừa

Cũng buồn cũng nhớ mảnh vườn xưa

Cũng nghe mỏi mệt đời phiêu bạt

Giờ muốn dừng chân bước hải hồ


Cây cầu Rạch Miễu qua sông cái

Nước thủy triều lên bát ngát bờ

Nhớ quá con phà đang lướt sóng

Chở ngàn lượt khách mỗi chiều mưa


Con phà qua hết đời xuôi ngược

Lặng lẻ đi vào nỗi lảng quên

Ai nhớ trăm năm hình bóng cũ

Phà sang trăm chuyến đón người quen


Là đây Rạch Miễu đường thông tuyến

Nối nhịp sông Tiền sóng  nhấp nhô

Mây nước mênh mông lòng lặng lặng

Làn xe đôi hướng khép đôi bờ


Nhớ xưa bến bắc chiều ly biệt

Người tiễn người đi trĩu nặng tình

Thoắt cũng hai mươi mùa trái chín

Lấy gì mà trả nợ ba sinh


Em về chợ Huyện đôi vai nặng

Gánh hết u trầm nỗi nhớ thương

Phà tách bến rồi khua nước đục

Cầu phao trơ trọi lớp sương buông


Xe qua nửa nhịp chia đôi tỉnh

Cồn Phụng từ lâu vắng bóng người

Cả tiếng chuông chùa theo gió sớm

Cũng vào quên lãng áng mây trôi


Cây bần gie nhánh che con nước

Xanh ngắt cồn xưa cuộc đổi đời

Người  khách quay về qua bến cũ

Trống không tâm sự ánh sương rơi


Nửa đời phiêu bạt non sông lạ

Nhìn lại quê hương lúa trổ đồng

Bát ngát sông Tiền qua mấy chốc

Mưa còn lất phất nửa con sông


Giọt mưa lấm tấm qua làn kính

Quạt nước chưa tròn nỗi nhớ xa

Cũng nghĩ cũng suy mà đứt quảng

Cũng vòng quay gạt giọt mưa sa


Ngã ba Tháp cũ không còn nữa

Thành một công viên đón gió chiều

Băng đá còn in đôi bóng cũ

Người xưa nghe nặng nỗi buồn theo …


Hồ Thanh Nhã

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.