Hôm nay,  

Chúng Ta Sẽ Hồi Sinh

07/06/201912:11:00(Xem: 4104)

Tôi thích cái khái niệm “black friday” với ý niệm “vất bỏ cái cũ” trong các cuộc tổng biểu tình vào ngày thứ sáu của người dân Algeria. Tại Hoa Kỳ, “black friday” là tên gọi của ngày thứ Sáu theo ngay sau ngày lễ Tạ Ơn (Thanksgiving). Đây là dịp đại hạ giá lớn nhất trong năm của các cửa hàng ở Hoa Kỳ, nhằm để bán tống, bán tháo một loạt những hàng hóa cũ. Với cái khái niệm vất bỏ cái cũ, cái già cỗi, cái lỗi thời, người dân Algeria đã chống lại cái quyết định tiếp tục ra tranh cử của vị Tổng Thống 82 tuổi của họ, người đã bị tê liệt vì đột quỵ từ năm 2013.

Bắt đầu từ thứ sáu ngày 22/2/2019, tuổi trẻ và người dân Algeria đã ùa xuống đường. Con số người tham gia các cuộc biểu tình không chỉ hàng trăm, hàng ngàn, mà đã lên đến hàng triệu người. Có những khẩu hiệu của người dân Algeria mà người VN nào khi đọc, cũng thấy chạm vào nỗi xốn xang của riêng mình: “Bọn họ là lũ cướp, chúng cướp đất nước này”, “Chúng tôi thức tỉnh rồi, các ông phải trả giá”, “Chúng tôi đã quyết, Algeria sẽ hồi sinh”, … Và cùng với khẩu hiệu “Hãy cút đi” trên tay, dân Algeria nói với đám lãnh đạo già nua rằng họ muốn thay đổi. Hãy cút đi những tập đoàn mafia, hãy cút đi những kẻ tham nhũng, bất tài, tham quyền cố vị.

Hòa trong đoàn biểu tình là tuổi trẻ Algeria - lớp người vẫn bị xem thường là những kẻ đứng dựa tường, vô tích sự, thờ ơ và vô cảm. Có nhìn thấy khí thế của cuộc biểu tình, người ta mới cảm nhận hết được sức mạnh của mỗi cá nhân. Vâng! ngày hôm nay tuổi trẻ Algeria không im lặng nữa, họ đã xuống đường, họ đang góp mặt. Nhìn nét rạng rỡ của họ, tôi chạnh nhớ đến tuổi trẻ Nhân Văn Giai Phẩm; tôi nhớ những Trần Dần, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang và nỗi khát khao trong những câu thơ của Lê Đạt:

Tôi đã sống rất nhiều ngày thảm hại

khôn ngoan không dám làm người

 

Chưa biết cuộc cách mạng Algeria sẽ ra sao, nhưng những khẩu hiệu của họ nói với chúng ta rằng ngày hôm nay họ xuống đường vì nhân phẩm của chính họ. Và với tôi, như thế đã đủ cho chúng ta nhìn thấy tương lai của Algeria.

Sự vĩ đại của một dân tộc không chỉ được đánh giá bằng những mặt nổi của thành công về kinh tế hay những chiến thắng lẫy lừng về quân sự. Tôi muốn nói đến cái thâm trầm, sâu lắng, vĩ đại của người dân Hàn Quốc. Mặc dù có mối thù với Nhật bản vì bị quân phiệt Nhật xâm lược và chiếm đóng; sau thế chiến thứ hai, lãnh đạo Hàn Quốc đã quyết định lấy sách giáo khoa của kẻ thù làm kim chỉ nam về giáo dục cho dân mình. Người Hàn Quốc muốn nền kinh tế của họ phải dựa trên lòng tự hào dân tộc, tính kỷ luật và đạo đức như người Nhật.

Và rồi, chỉ sau 4 thập niên, từ những đổ nát của chiến tranh, Hàn Quốc đã vươn mình trở thành một trong hàng những quốc gia thịnh vượng nhất thế giới.

Nếu Nhật và Đại Hàn đặt trọng tâm vào đạo đức con người để phát triển thì Việt Nam ngược lại. Do sự kiêu ngạo và yếu kém của hàng ngũ lãnh đạo; bốn thập niên sau chiến tranh, điều đau đớn và đáng tiếc nhất cho đất nước chúng ta, là sự hủy hoại hoàn toàn các giá trị nền tảng của con người. Và sức tàn phá của nó thật kinh khủng!

Có thể nói quá trình dẫn đến một Việt Nam tụt hậu, suy đồi của ngày hôm nay là do sự suy sụp nhân cách của con người. Đã từ lâu, đa số người Việt Nam đã tự nguyện từ bỏ các giá trị cá nhân, lòng tự trọng và quyền lực của bản thân. Thái độ ấy cũng đã tạo nên một tầng lớp thanh niên bơ vơ, thui chột niềm tin, què quặt lý tưởng. Con em chúng ta ngày nay phấn khích vì những giá trị kiểu Khá Bảnh, Dương Minh Tuyền, Phúc XO; đi bão, nhảy múa, reo hò, tự hào quá mức cho những thành công còn rất giới hạn so với thế giới.

Sự thiếu vắng trách nhiệm của người lớn trong một thời gian dài đã góp phần vào tương lai đen tối của các em. Hãy nói riêng về vụ tham ô trong ngành giáo dục, vụ nâng khống điểm thi cho con cái cán bộ đã biến những em học sinh từ học lực yếu kém trở thành thủ khoa các trường đào tạo Sỹ Quan; biến những kẻ vô đạo đức, năng lực tầm thường thành lãnh đạo. Và mặc nhiên, các bậc phụ huynh đã cho chúng cái đặc quyền được lãnh đạo đất nước và các thế hệ con em mình.

Theo thông tin trên báo chí (xin được tránh nêu tên các em ở đây) năm 2018, chỉ riêng tại ba tỉnh Hà Giang, Hòa Bình, Sơn La, vụ gian lận điểm thi đã đem các em từ học lực cuối lớp trở thành thủ khoa các trường: Sỹ quan Lục Quân 1, trường Sỹ quan phòng Hóa, trường Học viện Kỹ thuật quân sự. Tiếp theo là thủ khoa trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Về Y khoa, có em còn lọt hẳn vào 1 trong 3 thí sinh có điểm số cao nhất trúng tuyển vào trường Đại học Y Hà Nội. Sự tha hóa, lũng đoạn đâu chỉ dừng ở cửa công quyền, nó ảnh hưởng trực tiếp đến giáo dục học đường. Rốt cuộc, chính con người, chính chúng ta mới là vấn đề của mọi vấn đề. Khi nào chúng ta thật sự thay đổi, đất nước mới có thể đổi thay.

Gần nửa thế kỷ sống trong “thảm hại” (chữ của Lê Đạt) người VN mới nhận ra rằng sống cam chịu không phải là “khôn ngoan”. Đất nước này cần những con người có trách nhiệm và có tiếng nói. Đã có rất nhiều trí thức VN lên tiếng, kiến nghị đòi chấn hưng về văn hóa và nhân cách con người. Đặc biệt trong phiên thảo luận của quốc hội ngày 21/5 vừa qua, một số đại biểu đã nhắc đến yêu cầu là VN cần có triết lý giáo dục.

Tôi tin với lòng thành tâm và quyết tâm, ở vị trí nào, người ta cũng có thể góp phần vào việc thay đổi xã hội. Hãy nói về người tù Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh. Chỉ trong năm 2017, anh Vinh đã gửi đi tổng cộng 21 kiến nghị, 16 trong số đó đã được giải quyết. Anh đã giúp các tù nhân biết được các quyền chính đáng của họ như: quyền được tiếp xúc với văn bản pháp luật, quyền được có tủ sách, quyền được mua văn phòng phẩm bằng tiền lưu trú,… Những người như Nguyễn Hữu Vinh, Trần Huỳnh Duy Thức, … trong mọi hoàn cảnh, chưa bao giờ họ buông rơi nhân cách và trách nhiệm của mình. Đó chính là văn hóa, là triết lý giáo dục Việt Nam.

Ngày trước khi chế độ đang cực thịnh, khi bạo lực Cộng sản ở vào giai đoạn hà khắc, tàn bạo nhất, đất nước vẫn có những thanh niên dũng cảm như Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt,… Tiếc rằng chỉ kịp đến khi con cái chúng ta phát cuồng theo các “anh hùng” xăm trỗ Khá Bảnh, Phúc XO, ta mới nhận ra tuổi trẻ Nhân Văn Giai Phẩm đã không phí hoài. Một thời tuổi trẻ của họ đã sống qua những thời điểm khắc nghiệt nhất của trù dập và bôi xóa. Tiếc rằng phải đợi đến khi đạo đức xã hội chạm đáy, chúng ta mới nhớ tiếc cái văn hóa “không thành công cũng thành nhân” của cha ông mình.

Thế nên, đừng tìm xem cách mạng Venezuela hay Algeria sẽ đi về đâu mà hãy hỏi xem mình đang đứng ở đâu trước thực trạng của xã hội và đất nước? chúng ta sẽ làm gì trước cái tương lai đầy bóng đêm của con em mình? … Từ một góc độ giới hạn, người tù Ba Sàm còn có thể tạo đổi thay. Liệu chúng ta có sẵn sàng, để từ chỗ đứng của mình, ngăn chận những cái xấu, cái ác, cho điều thiện lương được nở rộng?

Tôi đã nhìn thấy cái khái niệm “black friday” của người dân VN ở những trạm BOT. Tôi cũng nhìn thấy qua thái độ của thầy giáo trẻ Nguyễn Năng Tĩnh trước những ánh mắt hướng lên thầy. Họ đang vất bỏ cái cũ kỹ, vất bỏ cái lỗi thời, vất bỏ những năm tháng cam chịu bằng sự có mặt của chính mình. Khi chúng ta đã quyết, chính chúng ta sẽ hồi sinh.

 

blank

Tôi nghĩ đến những trận đòn và các vết bầm trên người của Nguyễn Văn Hóa trong những ngày bị biệt giam ở trại giam An Điềm. Hình như Hóa bị đánh nhiều lắm. Tôi nghĩ đến Trần Hoàng Phúc, Phan Kim Khánh, Hoàng Đức Bình, Nguyễn Văn Oai, … tôi nghĩ đến những tiếp nối và sự mạnh mẽ của họ mà xúc động. Bất chợt thấy thấm thía những câu thơ của Rudyard Kipling

Nếu con có thể bình tâm khi mà tất cả

Hết thảy kinh hoàng và đổ lỗi cho con

Thì thế giới này sẽ là của con, cùng tất cả những gì trong đấy

Và – quan trọng hơn – con trai, con là một con người.

(IF - Rudyard Kipling)

 

Nguyệt Quỳnh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.