Hôm nay,  

Vè Tây Tới Nam Kỳ

22/06/201908:03:00(Xem: 4422)
Vè Tây Tới Nam Kỳ

Nguyễn Văn Sâm phiên âm và giới thiệu

 

Cách nay gần mười năm (2010) một người sưu tập tác phẩm Nôm kỳ cựu ở Sàigòn có nhường tôi vài quyển sách Nôm viết tay, trong đó có một quyển mỏng gồm 10 trang, hình như là phần còn lại của một quyển lớn hơn đã bị hư rách (?). Mười trang nầy thì hai trang cuối không quan trọng vì  là những bài thơ không có gì đặc biệt. Riêng 8 trang đầu rất đáng chú ý, đó là 226 câu lục bát nói về hai đề tài  gần như khác biệt:

(1) Giặc Tây tới Sơn Chà năm Đinh Tỵ (1857) và những gì họ làm sau đó trên vùng đất Nam Kỳ vừa chiếm đóng.  Phần nầy người sáng tác đã nói tốt về giặc Tây hơn là nói xấu. Chuyện nầy cũng dễ hiểu: Mới tới đất lạ, chưa biết mô tê gì lại thấy có nhiều điều cần cải tiến nên họ đã cải tiến và tạo nên sự choáng ngộp, kính phục dưới mắt người dân bản địa.

(2) Chuyện bão lụt năm Giáp Thìn 1904. sự kiện đặc biệt nầy được mô tả khá tỷ mỹ nhứt là những chuyện chết chóc tang thương xảy ra cùng là những đóng góp của thân hào nhân sĩ thời đó.

Tôi coi tác phẩm nầy là phần văn chương khuyết danh của văn học Miền Nam, một phần không thể bỏ qua khi nghiên cứu văn học, văn hóa Miền Nam Kỳ Lục Tỉnh. Bài nầy giới thiệu phần 1. Tôi tạm gọi là:


blank

Vè Tây tới , tác giả Khuyết Danh.
 

Cuốn sách dầy sưu tầm khá đầy đủ về Vè Nam Bộ của ông Huỳnh Ngọc Trảng ghi được mấy bài vè Bão Lụt Năm Thìn nhưng không có bài nào nói về sự kiện Tây Tới.

Về mặt từ ngữ thì cũng như các tác phẩm cùng thời ở Nam kỳ, bài Vè Tây tới có những từ ngữ đặc biệt của vùng như thốt thôi (bây giờ nói về), hội nầy (hoàn cảnh nầy), chạy sớ về kinh (dâng sớ về triều đình bằng cách hỏa tốc), những kẻ dân tình (dân chúng), chí những (cho đến), làm lộ (làm đường), chim bay khác nào (giống như chim bay), rất hay (rất giỏi, rất lẹ), đề lao (ngục, phòng giam), như mưa (nhiều lắm, đông đúc), dây thép (điện tín), máy nước (phông tên nước), dù máy (dù có thể xếp lại, khi cần thì làm cho nó bung ra), tằng sa điều đỏ (vải vóc màu sắc)…

Nhìn chung bài văn không phải là một tuyệt phẩm văn chương, chữ dùng bình thường nên tôi đồng ý với người sưu tập trước gọi đây là một bài vè, tuy nhiên nó có giá trị ở chỗ:
 

(1) ghi lại một số từ ngữ xưa không phải ở đâu cũng có.

(2) Quân ta tan vỡ rất mau trước sự tấn chiếm của người Pháp

     (3) cho thấy người Pháp đã mở mang xứ thuộc địa của mình bằng cách mang đến một số  văn minh vật chất qua các thứ mà người Việt lúc đó gọi là máy.

     (4) Người Pháp bị ghét bỏ ban đầu (bị kêu bằng giặc Tây) sau đó đã được cái nhìn thân thiện hơn khi cho rằng nhờ Người Pháp mà thiên hạ đâu đâu thái bình.
 

Có thể rằng tác giả bài nầy thiên vị người Pháp xâm lược vì sợ bị rắc rối, vì muốn tâng công để kiếm lợi lộc, nhưng thực tế là  tác giả đã cho thấy những công trình lợi ích mà người Pháp đem lại cho nước ta khi họ mới tới xứ còn đương mê ngủ trong văn chương thi phú chịu ảnh hưởng của Trung hoa quên rằng thức tế của thế giới sự tiến bộ của văn minh cơ giới đang rầm rộ.

Bài văn xứng đáng được biết để ta hiểu về dân trí của người mình  trong thời kỳ người Pháp mới đến Việt Nam: Thấp lắm cho nên thấy gì lạ lạ đều cho là máy cả, máy nước, máy cầu, dù máy, máy ngựa. Cách nay mấy chục năm  tinh thần nầy vẫn còn ở trong các danh từ bút máy (viết máy), xe máy (xe đạp), hộp quẹt máy, máy nước

Ngoài ra đây là bản Nôm viết tay có thể không xa lắm với năm 1904 nên giá trị thời sự của nó đáng tin cậy hơn là những bài mới sưu tầm được gần đây qua lời kể của người nầy người nọ mà chắc chắn rằng tính thời sự đã mất và  sự trung thực không thiên kiến không có gì chắc chắn. (CA, June 18, 2019)
  

Thốt thôi lại kể đời nay,

Từ năm Đinh Tỵ (1857) Tây rày mới qua,

Ban đầu vô lấy Sơn Chà (Đà Nẵng)

Năm sau Gia Định, Biên Hòa, Đồng Nai.

Quan trên thiên hạ ai ai,

Dốc đền nợ nước ra tài chiến chinh,

Quan trên chạy sớ về kinh.

Triều đình hội nghị[1] cho binh tiếp rày.

Ai ngờ Trời khiến chẳng may[2],

Nam Kỳ Lục Tỉnh mất rày còn đâu[3].

Các quan lớn nhỏ thêm rầu.

Kẻ qua nước khác người hầu về kinh.

Thấy thôi thảm thiết sự tình.

Ngùi ngùi lại tưởng phận mình thương ôi.

Bao giờ cho chúa gặp tôi.

Cho người gặp ngựa phản hồi mới xong.

Phải như Hàn Tín, Tử Phòng.

Ra đền nợ nước thời lòng mới an.

Phải chi như Tiết Đinh San[4],

Phò vua giúp nước dẹp loàn[5] chinh Tây.

Đời nay lại tới hội nầy[6],

Vì đâu nên nỗi giặc Tây[7] tới mình,

Thương thay những kẻ dân tình,

Quan quân chẳng có, một mình bơ vơ[8].

Nghe thôi nhiều nỗi ngẩn ngơ,

Quan Tây rày đã kéo cờ chiêu an (t2)

Quận châu thành thị dư ngàn,

Lương tiền chí những bạc vàng cướp thâu[9].

Tờ[10] ra khắp hết đâu đâu[11],

Đều thời làm lộ, làm cầu, khai kinh.

Tổng làng coi trát phân minh.

Làng thời bắt hết dân tình làm xâu.

Tỉnh thành chí những quận châu.

Cũng đều lập gác, xây cầu, xinh thay.

Dưới sông tàu chạy rất hay,

Trên bờ xe lửa[12] chim bay khác nào.

Rất nhiều phép lạ tài cao.

Giăng ra dây thép[13] việc nào cũng hay.

Đường đi ba bốn đêm ngày,

Ước chừng dây thép đi nay một giờ.

Ví như[14] học phép tiên cơ.

Làm ra những máy binh thơ nhiệm mầu.

Máy xe, máy ngựa, máy cầu[15],

Máy đèn, máy nước, máy dầu lạ thay.

Áo quần lại có máy may,

Gạo thời máy giả, máy xay, máy sàn.

Khắp nơi bờ cõi mở mang.

Phá cây làm ruộng lập làng, khai kinh.

Rày ra thưởng tước công bình[16].

Đều thời dạy dỗ dân tình làm ăn.

Ai mà làm dử lung lăng[17], (t3)

Phạm vô điều luật đóng trăng[18] bỏ tù.

San đầm, phú lít[19] tuần du.

Đề lao khám tối canh tù nghiêm thay.

Gian tham trộm cướp đâu rày,

Sát nhơn hung bạo án đày chung thân.

Lập làm tòa án xử phân,

Việc hình, điền thổ có phần bẩm thưa.

Buổi hầu thiên hạ như mưa[20],

Hầu rồi ra trước, ai chưa còn hầu.

Châu thành thiên hạ đâu đâu.

Đò[21] đưa khắp xứ, đường cầu khắp nơi.

Sang giàu nhiều kẻ ăn chơi,

Hoặc là quí khách đi thời thiếu chi.

Tàu đò ghé lại một khi,

Nam thanh nữ tú khác gì tiên nga[22].

Kẻ thời mặc áo má ba[23].

Kiềng vàng, dù máy, chấn khoa đầy tàu.

Tằng sa điều đỏ[24] lao xao,

Kẻ lên người xuống chật tàu như mưa.

Nhộn nhàng xe rước xe đưa,

Kẻ đi tới trước người vừa tới sau.

Kẻ thời kiếm chỗ nghỉ ngơi.

Kẻ vô quán nước người chơi tiên lầu[25]

Xa gần khắp hết quận châu,

Nơi nơi thông thả đâu đâu thái bình[26].

 

(Phiên âm và giới thiệu lần đầu tiên   06/2019)



[1] Bốn chữ này xưa  thường nói là đình nghị.

[2] Chẳng phải Trời khiến mà vì  triều đình cổ hủ không theo kịp nền văn minh thế giới nên thua về mặt sung đạn binh bị, chiến thuật…

[3] Quân ta chưa kịp đánh gì thì đã mất đất Nam Kỳ trong thời gian không bao lâu.

[4] Với những cái tên như Hàn Tín, Tử Phòng, Tiết Đinh San ăn sâu vô tâm não của người dân thì việc mất nước chỉ là vấn đề thời gian.

[5] Giọng Nam Bộ rặc ròng khi cho loàn- đọc thổ âm là làn- hợp vận với san ở câu trên.

[6] Tới hội nầy: Cách nói xưa nghĩa là lâm vào hoàn cảnh nầy.

[7] Tôi biết rằng người thời tác phẩm nầy xuất hiện - người dân rất thích mấy chữ giặc Tây,chia cách rạch ròi giữa kẻ tới chinh phục và dân bị hinh phục: Không có một sự ưỡm ờ nào ở đây.

[8] Quân ta bị đánh tan nát nên dân không còn đưọc ai bão vệ.

[9] Một sự tố cáo trực tiếp hành vi của quân xâm lăng Pháp.

[10] Thông cáo của chánh phủ thuộc địa, người chủ mới.

[11] Từ đây là phần nói về những điều tốt của người Pháp  đã thực hiện ở Việt Nam trong lúc ban đầu.

[12] Không chắc lắm, nhưng tôi nghĩ  có lẽ  xe lửa là tiếng sau nầy gọi là xe hơi, xe con. Những năm đầu của sự thuộc địa xe lửa chắc chắn là chưa thể có. Xin nhường cho những vị giỏi về địa lý, nhân văn…

[13] Dây thép: Truyền tin bằng mã Morse.

[14] Ví như: Giống với, tương tợ như, chẳng khác nào…

[15] Máy ngựa (?), máy cầu là các cầu quay hay cầu có thể trục lên ở giửa để tàu bè qua lại. 

[16] Khen thưởng công bình, không thiên vị. Ôi , thời ngoại thuộc mà được như vầy sao! Đad1ng thương cho thời nay!

[17] Lung lăng: lộn xộn, quậy phá, làm giặc. Huình Tịnh Của định nghĩa Lung lăng là Hung hăng, không thuần tính, Lung dữ, ngang tàng. Thơ Lục Vân Tiên: Thấy Đỗng Trác lung lăng trong nhà Hán.

[18] Đóng trăng: một loại cùm thời xưa.

[19] Âm Việt của gendarme, police, chỉ cảnh sát, hay công an ngày nay, nhưng nhiệm vụ thì khác ngày nay nhiều..

[20] Thiên hạ như mưa: Người ta rất đông. Lúc nầy giao thời lộn xộn kiện tụng  lung tung nên người đến công sở đông.

[21] Đò đây là ghe có máy nổ chạy bằng hơi nước.

[22] Người trẻ bắt đầu tin tưởng để đi tàu đò nên ngó vô thì thấy người thanh lịch trên đó nhiều. Điều nầy chứng tỏ sự cai trị đã ổn định.

[23] Sau nầy trở thaánh áo bà ba chăng? Bài văn ngắn mà  có tới vài ba từ người phiên âm chưa hiểu được. Xin giúp.

[24] Tằng sa, điều đỏ: Vải vóc màu  sắc đẹp đẽ.

[25] Tiên lầu 仙楼: Nhà hàng. Xưa tiệm nước là nhà hàng bình dân chỉ có một từng trệt, tiên lầu là nhà hàng cho khách sang có hai từng.

[26] Cũng là giọng khen  nhà nước Pháp.



 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuối năm là lúc con người nhìn lại về giá trị cuộc sống. Một bài viết trên trang mạng The Conversation nêu vấn đề về những vực thẳm chính trị, các cuộc chiến tranh, áp bức… và con người vì thế cảm thấy vô vọng và bất lực khi chứng kiến những thế lực đen tối diễn ra khắp nơi trên thế giới. Liệu chúng ta có thể làm được điều gì đem lại thay đổi trước những bi hoại này hay không?
Danh hiệu “Nhân Vật Của Năm” do TIME bắt đầu từ năm 1927 – theo truyền thống được trao cho những người có ảnh hưởng đáng kể trong các sự kiện toàn cầu, từ chính trị đến văn hóa, môi trường, nghệ thuật. Những người được chọn đóng vai trò như một “thước đo phong vũ” về sức lan tỏa trong xã hội đương đại. Ảnh hưởng đó, theo tiêu chuẩn do chính TIME đề ra, có thể là “for better or for worse – làm cho thế giới tốt đẹp hơn hoặc tệ hại hơn.”
Tiễn 2024, thế giới sẽ chào đón một năm mới 2025 mang theo cả bóng tối lẫn ánh sáng. Các cuộc xung đột, sự phân cực chính trị và những rủi ro khôn lường là lời nhắc nhở về sự bất ổn của thời đại. Nhưng đồng thời, khả năng phục hồi kinh tế, sự phát triển công nghệ, tinh thần hợp tác quốc tế, hơi thở và sự sống còn bất khuất của từng người mẹ, từng đứa trẻ vực dậy và vươn lên từ những đống gạch vụn đổ nát ở Ukraine, ở Gaza, ở Syria… cũng là cảm hứng và hy vọng cho tương lai nhân loại. Nhà văn Albert Camus đã viết: “Giữa mùa đông lạnh giá nhất, tôi tìm thấy, trong mình, một mùa hè bất khả chiến bại.”* Thế giới năm 2025, với tất cả những hỗn loạn, vẫn mang đến cơ hội để con người vượt qua và xây dựng một cuộc sống tốt đẹp, tử tế hơn. Đó cũng là lời chúc chân thành cuối năm của toàn ban biên tập Việt Báo gửi đến quý độc giả: một năm 2025 tràn trề cơ hội và hy vọng.
Trong ba năm học gần đây, PEN America đã ghi nhận hàng loạt trường hợp cấm sách xảy ra trên toàn nước Mỹ, đặc biệt trong các trường công lập. Những nỗ lực xóa bỏ một số câu chuyện và bản sắc khỏi thư viện trường học không chỉ gia tăng mà còn trở thành dấu hiệu của một sự chuyển đổi lớn hơn, đặt ra câu hỏi nghiêm trọng về tương lai của giáo dục công lập. Việc kiểm duyệt này phản ánh một xu hướng đáng lo ngại: sự tập trung vào việc kiểm soát nội dung văn hóa và giáo dục, thay vì khuyến khích học sinh tiếp cận kiến thức đa chiều.
Syria đang sống trong một bước ngoặt lịch sử sau khi chế độ độc tài sụp đổ nhanh chóng và Bashar al-Assad trốn sang Nga để tị nạn. Các nhóm nổi dậy chiến thắng đang cố gắng duy trì trật tự công cộng và thảo luận về các kịch bản cho tương lai. Lòng dân hân hoan về một khởi đầu mới đầy hứa hẹn pha trộn với những lo âu vì tương lai đất nước còn đầy bất trắc. Trong 54 năm qua, chế độ Assad đã cai trị đất nước như một tài sản riêng của gia đình và bảo vệ cho chế độ trường tồn là khẩu hiệu chung của giới thân cận.
Các số liệu gần đây cho thấy những thách thức mà nhà lãnh đạo Trung Quốc phải đối mặt để phục hồi kinh tế cho năm 2025, khi quan hệ thương mại với thị trường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc có thể xấu đi cùng lúc mức tiêu thụ trong nước vẫn sụt giảm. Và thật sự thì nền kinh tế Trung Quốc tệ đến mức nào? Việc đặt câu hỏi này ngày càng trở nên hợp lý khi Trung Quốc đang đối mặt với tình trạng sản xuất trì trễ và tiền tệ mất giá kéo dài trong những năm gần đây. Đặc biệt, chính quyền Bắc Kinh dường như không muốn công khai toàn bộ thực trạng.
Chiều ngày Thứ Ba 17/12, tòa án New York kết án Luigi Mangione 11 tội danh, bao gồm tội giết người cấp độ 1, hai tội giết người cấp độ 2 cùng các tội danh khác về vũ khí và làm giả danh tính. Theo bản cáo trạng, một bồi thẩm đoàn ở Manhattan đã truy tố Mangione về tội giết người cấp độ hai là tội khủng bố. Tòa đã kết tội hành động của Luigi Mangione – một hành động nổi loạn khó có thể bào chữa dù đó là tiếng kêu cuối cùng của tuyệt vọng.
Ngay từ thời điểm này, cho dù chưa chính thức bước vào Tòa Bạch Ốc, tổng thống đắc cử Donald Trump đã hứa hẹn một chiến dịch bài trừ di dân lớn nhất lịch sử Mỹ. Những cuộc kiểm soát, bắt bớ, trục xuất di dân dự kiến sẽ diễn ra với qui mô lớn trong vài năm tới. Nhiều sắc dân nhập cư ở Mỹ sẽ phải lo lắng, nhưng cộng đồng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất sẽ là cộng đồng di dân gốc Mỹ Latin. Lời hứa này đang làm hài lòng những người Mỹ xem dân nhập cư là kẻ cướp đi việc làm và quyền lợi của mình. Rất đông trong số này thuộc các cộng đồng di dân, trong đó có cộng đồng gốc Việt. Tuy nhiên, có bao nhiêu người thấy được toàn cảnh ảnh hưởng của những chính sách bài trừ di dân đến nền kinh tế và xã hội Hoa Kỳ?
Trong tài liệu của Thư Viện Quốc Hội ghi rằng, nguồn gốc của quyền ân xá trong Hiến Pháp Hoa Kỳ đến từ lịch sử Anh quốc. Quyền ân xá xuất hiện lần đầu tiên dưới thời trị vì của Vua Ine xứ Wessex vào thế kỷ thứ bảy. Mặc dù tình trạng lạm dụng quyền ân xá ngày càng tăng theo thời gian, dẫn đến những hạn chế sau đó, nhưng quyền ân xá vẫn tồn tại trong suốt thời kỳ thuộc địa của Mỹ.
Tôi cộng tác với tuần báo Trẻ (tờ báo có nhiều ấn bản nhất tại Hoa Kỳ) gần hai chục năm qua. Sự gắn bó lâu dài này không chỉ vì tấm lòng yêu nghề (và thái độ thân thiện cởi mở) của ban biên tập mà còn vì chút tình riêng. Mỗi tuần Trẻ đều dành hẳn một trang báo, để trân trọng giới thiệu đến độc giả hai ba vị thương phế binh (Việt Nam Cộng Hòa) đang sống trong cảnh rất ngặt nghèo ở quê nhà. Nhìn hình ảnh đồng đội của mình đang ngồi trên xe lăn, hay nằm thoi thóp trong một gian nhà tồi tàn nào đó – lắm lúc – tôi không khỏi băn khoăn tự hỏi: “Liệu có còn ai nhớ đến những kẻ đã từng vì đời mà đi không vậy?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.