Hôm nay,  

Vè Bão Lụt Năm Thìn

02/07/201910:04:00(Xem: 6877)

Trong cuốn Vè Nam Bộ của Huỳnh Ngọc Trảng có 4 bài  (các trang 379-389) Vè Bão lụt năm Giáp Thìn do ông Trảng nghe được từ những người dân sống trong vùng quê khác nhau đọc cho, nghĩa là truyền miệng và mới được khám phá gần đây thôi. Chỉ riêng bài nầy là chúng tôi  có bản Nôm xưa, rất nhiều xác suất là được viết bởi người sống gần với thời gian sự kiện bão lụt xảy ra. Tài liệu gồm 8 trang chữ Nôm viết tay, khổ lớn, tất cả có 226 câu lục bát nói về hai đề tài  gần như khác biệt: 

(1) Giặc Tây tới Việt Nam và những gì họ làm sau đó.

(2) Chuyện bão lụt năm Giáp Thìn 1904.

Tôi coi tác phẩm nầy là phần văn chương khuyết danh của văn học Miền Nam, một phần không thể không có khi nghiên cứu văn học, văn hóa Miền Nam Kỳ Lục tỉnh. Đã giới thiệu phần 1 gọi là Vè Tây Tới, nay xin giới thiệu phần 2 gọi là Vè Bão Lụt năm Giáp Thìn. 

Đăng bài nầy, chúng tôi thấy có mấy vấn được đặt ra:

  1. Văn chương bình dân Miền Nam còn lưu lại trong dân gian khá nhiều, người làm văn hóa văn học cố công tìm kiếm và có cơ duyên thì sẽ gặp. Đối với bản Quốc ngữ sự khai thác tương đối dễ dàng vì chỉ cần giải thích ý nghĩa của bản văn. Đối với bản Nôm thì khó khăn hơn chút đỉnh vì cần phiên âm và nắm vững những chữ rặc ròng Nam Kỳ. Sự khai thác những tác phẩm mới sẽ giúp ta hiểu hơn về đời sống văn hóa, xã hội của dân Việt thế kỷ 18, 19 và đầu 20 mà cho tới bây giờ vẫn chưa được khám phá hết vì thiếu thốn tài liệu và sự lơ là của người làm công việc   nghiên cứu.

  2. Bài Vè Bão Lụt nầy cho thấy lòng người có chức quyền lúc đó: Thương dân, chịu thương khó, chịu  giúp dân với tiền của chính mình. Điều nầy tạo ảnh hưởng rất tích cực thời đó giữa người dân và chánh quyền. Dân có oán than thì oán than trời, chưa nghe tiếng oán than nhà cầm quyền vì sự khổ sở của mình. Than ôi! Đáng tiếc một thời quá khứ nay không còn!

Ghi chú: Bản phiên âm của  tôi, NVS, có sự góp ý của người bạn học một thời ở trường Đại Học Văn Khoa Sàigòn (1960-1964), GS Nguyễn Hiền Tâm, để cách đọc chuẩn với tiếng Miền Nam được rặc ròng hơn. Xin cám ơn bạn đồng môn Nguyễn Hiền Tâm. NVS)


Vè Bão Lụt Giáp Thìn


Xảy đâu lại tới Giáp Thìn

Trời ra điềm lạ thình lình không hay.

Tháng ba mười sáu bằng nay.

Mặt trời sao lại khuyết rày một bên. (t4)

Nhơn dân thiên hạ ngó lên,

Cũng đều thấy khuyết một bên rõ ràng.

Cỏ cây coi thấy vàng vàng,

Ngó ra chẳng khác dặm đàng sương sa.

Mặt trời vừa mới xế qua,

Mờ mờ như thể trời đà hoàng hôn,

Quan quân chí những hương thôn.

Trẻ già lớn nhỏ Càn Khôn biết gì.

Thiên cơ nào có ai hay,

Khổng Minh thuở trước ngày rày biết chăng!

Mảng lo sự nghiệp làm ăn,

Phần thời lúa thóc lăng xăng ngoài đồng.

Trời mưa nổi nước minh mông.

Lúa dê chẳng đặng vun chùn mộng ra.

Tới ngày mười sáu tháng ba,

Từ từ gió tới tưởng là trận giông.

Nặng nề tại xứ Gò Công.

Nhà thời sập hết chẳng không cái nào.

Dưới sông nổi sóng ba đào,

Ghe thuyền đâu mất nơi nào bặt tăm.

Trên bờ cây ngả ầm ầm,

Mới hay là bão, ruột tằm héo don.

Kẻ thời dắt vợ cỏng con,

Người kêu cha mẹ hỡi còn lao xao.

Gió tuôn mưa tạt ào ào.

Ôi thôi biết kiếm chỗ nào nương thân.

Xảy đâu hồng thủy rần rần,

Nước lên khắp hết, sóng thần bủa ra.

Kẻ thời lạc mẹ mất cha,

Người thời con vợ ai mà cũng trôi. (t5)

Ghe chài chiếc bự chìm rồi.

Chiếc nào còn nổi thì trôi lên bờ.

Thương thay thiên hạ bơ vơ,

Biển sông nào biết bụi bờ nào hay.

Mười phần còn một là may.

Chín phần bị sóng xẩy tay chết rồi.

Lõa lồ thân thể thương ôi,

Linh đinh sóng dập gió dồi biết bao.

Giang hồ có chỗ nào cao,

Thây trôi tấp lại biết bao nhiêu người.

Trẻ già nào biết mấy mươi,

Gò Công ra biển hết mười ba thôn.

Thây thời chẳng có ai chôn,

Người còn sống lại hết hồn thất kinh,

Rạng ngày trời đã bình minh,

Ai còn thân thích thời nhìn với nhau.

Thương thay mặt mũi dàu dàu.

Tối ngày nhìn chẳng đặng quen người nào. 

Thôi thôi biết tính làm sao!

Trở về trong dạ như bào, xót xa.

Kẻ thời thương mẹ nhớ cha,

Người thương con vợ cửa nhà sạch trơn.

Ai hoài ruột thắt từ cơn.

Ròng ròng lệ nhỏ, dễ hờn trời xanh.

Giang sơn sự nghiệp tan tành,

Vì ai nên nỗi Trời hành tội dân.

Quan trên bố đức thi ân.

Truyền cho phủ huyện ân cần táng mai.

Tổng làng khó nhọc chẳng nài,

Đem dân làm phước nào ai dám từ. (t6) 

Có quan lớn Đốc Phủ Tư,

Vợ chồng ăn ở nhơn từ xưa nay,

Sai quân chở đệm về rày,

Một người một chiếc hết nay ba ngàn.

Cảm thương mấy chú dân làng,

Thở hơi nực mũi thảm càng xiết chi.

Một hầm năm bảy cái thi,

Đùa nhau xuống đó lấp đi cho rồi.

Dưới sông kẻ nổi người trôi.

Vớt chôn chẳng kịp, rã rời cũng xong.

Có thầy Cai Trí, Vĩnh Long.

Chức làm Cai Tổng ở trong Ba Kè.

Vợ chồng khi ấy mới nghe,

Chở tiền cùng gạo một ghe cho đầy.

Dốc lòng làm phước hội nầy,

Ba Kè lại có một thầy Nhiêu Ninh,

Hai người thôi mới đồng tình,

Chở tiền cùng gạo lộ trình ra đi.

Tới nơi xem thấy, sầu bi.

Trước là làm phước sau thì thương dân.

Ra ơn làm phước phải cần,

Trẻ già lớn nhỏ đồng phần chia nhau.

Hai người cũng tiếng sang giàu,

Nhơn từ đức hạnh ngày sau đời đời.

Quan trên ra trát khắp nơi,

Truyền cho Tổng Xã vậy thời mộ dân.

Ai mà gắng sức ân cần,

Cho làm Cai tổng hiển vang trong đời. (t7)

Rày mừng mới đặng thảnh thơi,

Hết cơn bĩ cực tới thời thái lai.

Mảng lo sự nghiệp lâu dài,

Sĩ nông công cổ ra tài làm ăn.

Đua nhau cày cấy lăng xăng.

Gặp thời gặp tiết cho bằng người ta.

Tới đầu tháng chín bước qua.

Nước dâng ngập hết cửa nhà minh mông.

Khắp nơi chẳng chỗ nào không.

Trong vườn cũng ngập ngoài đồng láng lênh.

Định Tường cho đến Long Xuyên.

Vĩnh Long, Sa Đéc qua miền Cần Thơ.

Trà Vinh còn hỡi phất phơ.

Nam Kỳ Lục Tỉnh hết nhờ hết trông.

Ngó ra thấy nước minh mông.

Trầu cau hoa quả cũng không còn gì.

Dân đều than thở vân vi.

Lúa coi xuống thấp, nước thì  lên cao.

Bây giờ biết tính làm sao.

Để cho Trời định lẽ nào cho dân.

Khiến nên cực khổ trăm phần.

Qua rằm tháng chín một lần bão sau.

Sóc Trăng, Vàm Tấn, Bãi Xàu,

Bạc Liêu Rạch Giá Cà Mau cũng nhiều.

Nước dâng chẳng có bao nhiêu,

Nhà thời cái sập cái xiêu chẳng còn.

Việc đời nhiều nỗi thon von.

Vái Trời cho đặng vuông tròn thời thôi.

Tháng mười nước dựt đã rồi,

Phải lo giáng lại lần hồi kiếm ăn. 

Kẻ thời mua giống ba giăng, (t8)

Người lo lúa sớmlăng xăng giữa mùa.

Kiếm tìm mắc rẽ phải mua.

Xin mua cho đặng tới mùa sẽ hay.

Ít nhiều phải có cầm tay,

Bước qua tháng chạp ngày rày mới thôi.

Giáp Thìn nay đã hết rồi.

Bước qua Ất Tỵ (1905)  lần hồi sẽ hay.

Ai ngờ Trời khiến chẳng may,

Lúa thời có buội, bông rày không bông,

Người giàu năm bảy chục công,

Nghèo thời cấy ít ngoài đồng vàng mơ.

Việc nầy vì bởi thiên cơ,

Nạn dân ách nước bây giờ biết sao.

Vật gì cũng phát giá cao.

Muối đong một giạ bạc trao hai đồng,

Bạc tiền kẻ có người không,

Trầu cao chết hết ai trồng kịp đâu.

Nói ra thêm thảm thêm sầu,

Ăn cao đủng đỉnh ăn trầu vỏ bao.

Rễ dừa lá cách phải sao,

*** miếng nào cũng xong.

E khi sợ nỗi đói lòng,

Hết tiền hết lúa ai phòng cho vay!

Lo đêm rồi lại lo ngày,

Rủ nhau làm mướn đi rày các nơi.

Ra đi vái Phật cùng Trời,

Xin cho mạnh giỏi kịp thời làm ăn.   (Hết)


Nguyễn Văn Sâm phiên âm và giới thiệu lần đầu tiên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Kandy là một thành phố cổ, là nơi có chiếc răng xá lợi Phật an vị trong một cái tháp vàng tôn thờ tại chùa Kandy. Chùa nằm trong cung điện hoàng gia của cựu Vương quốc Kandy, đây là ngôi đại già lam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, là thành phố hành hương rất nổi tiếng của Phật giáo. Mổi năm có triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới đến viếng.
Sri Lanka (Tích Lan) là một đảo quốc nhỏ. Dân số khoảng 21 triệu. Thủ Đô của Sri Lanka là thành phố Colombo. Phật giáo được truyền đến Sri Lanka từ thế kỷ thứ III trước Tây Lịch, Trong suốt 2,000 năm Phật giáo được xem là Quốc Giáo.Phật Giáo Sri Lanka ngày nay là Phật Giáo Theravada. Bất hạnh thay đến năm 1983 thì sanh ra nội chiến, kéo dài cho đến năm 2009 mới chấm dứt. Suốt 25 năm nội chiến người ta ước đoán có hơn 100,000 người đã chết. Hòa bình vãn hồi, nhờ Trung Quốc viện trợ mạnh mẽ, họ xây dựng hạ từng cơ sở, phát triển đường xá, khách du lịch ồ ạt đến Sri Lanka.
Điều 9 của HĐ Paris 1973: Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt-nam Dân chủ Cộng hòa cam kết tôn trọng...a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng bất khả xâm phạm và phải được các nước tôn trọng. b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị miền Nam thông qua tổng tuyển cử thực sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế.
Đã có nhiều bằng chứng cho thấy là nền văn học Việt nam với nguồn gốc xa gần đang bị chế độ chính trị làm cho biến dạng hoặc mai một. Những tác phẩm văn học giá trị một thời đều bị coi là có tính cách phong kiến hoặc tư bản đồi trụy, cấm phổ biến. Nhưng lại nẩy sinh những loạt văn chương một chiều để nhất thời tuyên truyền tôn xưng chủ thuyết độc đoán, phục vụ chế độ.
Các giáo hữu Tin lành, thường dùng văn kiện suy nghĩ và sanh hoạt chánh là cuốn Thánh Kinh Bible, và lời dạy bốn sách giảng Tin lành – Évangiles, của bốn tông đồ của Jêsus. Do đó, sanh hoạt tại các Nhà Thờ đến từ Phong trào Cải cách của thế kỷ thứ 16 đều được chuyển qua Việt ngữ dưới tên gọi dịch dưới tên các Nhà Thờ Tin lành
Đâu là hướng đi của Phật Giáo Việt Nam tại Mỹ? Trả lời đầy đủ cho câu hỏi trên cần đến công phu nghiên cứu của nhiều người. Vì thế, bài viết này xin được xem là suy nghĩ và gợi ý của một cá nhân.
Thật là một đặc ân được có mặt trong diễn đàn ngoại giao kinh doanh và khoa học và những người vì các vấn đề thế giới đã tập trung khá nhiều năm để thảo luận làm thế nào chúng ta có thể tiến tới sự thịnh vượng và hòa bình.
Trong lời thưa cuốn Thiền Tập Trong Đời Thường tác giả còn mong sách sẽ giúp độc giả cảm thọ hạnh phúc hơn và tự chữa trị nhiều bệnh tâm thân. Thiền không những đã vuợt không gian, thời gian mà còn vuợt cả đạo giáo và thể chế.
vào Thiên niên kỷ Thứ Ba của toàn cầu hoá, để thấy rằng biên giới chánh trị giữa các quốc gia chỉ là một làn ranh ảo. Không hề có biên giới trong toàn hệ sinh thái Sông Mekong. Mekong không chỉ là mạch sống của hai dân tộc Việt Khmer mà còn là sợi dây nối kết
Một nghiên cứu mới đây do Mayo Clinic và American Medical Association thực hiện và công bố trên Archive of Internal Medecil ngày 20 tháng 8 năm 2012 cho hay cứ hai y sĩ thì một người than bị kiệt sức vì việc làm của mình. Tỷ lệ này cao hơn so với các nghề nghiệp khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.