Hôm nay,  

Hai thời gian

14/07/201903:45:00(Xem: 7835)

Hồ Thanh Nhã

 

       Hai thời gian

 

Anh ở Trung Đông về nghỉ phép

Nét vui rạng rỡ áo hoa rừng

Đẹp đôi cô bạn…dài đuôi tóc

Có nụ cười tươi mặt sáng trưng

 

Nầy anh lính chiến đồng hương trẻ!

Vào cash tiền xong nhớ lẹ ra

Kể chuyện hai năm …miền đất lạ

Buồn vui đời lính chiến trường xa

 

Ngân hàng không đổi tiền Iraq

Thì giữ dành cho…chuyến trở qua

Cũng đủ mua vui vài tiếng bạc

Giải khuây đời lính lúc xa nhà

 

Đoàn anh tham chiến vùng Tikrit

Sa mạc dài theo ống dẫn dầu

Đối mặt ruồi vàng bom tự sát

Nước khan mìn bẫy…nản lòng sao?

 

Bên trong pháo tháp tia hồng ngoại

Nhìn rõ xa xa dấu lạc đà

Chi đội kích đêm chờ bão cát

Buồn nghe muôn dăm bước quan hà

 

Nửa đêm thức giấc trong lều vải

Nhớ quá người yêu cách đại dương

Chiến cuộc dài thêm…dài nỗi nhớ

Viễn chinh đôi lứa rẽ đôi đường

 

Chuyện anh thế đấy…làm tôi nhớ

Cái nhớ miên man lặng cả người

Tôi thấy qua anh…là quá khứ

Một thời ừ nhỉ! Một thời thôi…

 

Ở anh tôi thấy ta là một

Cũng chiến trường xa cũng nhớ nhà

Mạng sống như treo đầu sợi tóc

Mà lòng vẫn nhớ…bóng người xa

 

                Hồ Thanh Nhã.

 

 

 

        Chiến dịch Bão táp sa mạc đánh Iraq năm 1,991 của Mỹ

 

Chiến tranh vùng Vịnh Ba Tư năm 1,991 ( cũng gọi là Chiến dịch Bảo táp sa mạc ) là cuộc xung đột giữa Iraq và liên quân 34 quốc gia do Hoa Kỳ lãnh đạo, được Liên Hiệp Quốc phê chuẩn để giãi phóng Kuwait khỏi sự chiếm đóng của Iraq.

Năm 1,990, Tổng thống Iraq lúc đó là Saddam Hussein tố cáo nước láng giềng là Kuwait bí mật hút dầu thô của nước ông từ mỏ dầu tranh chấp Rumaila.Ngày 1 tháng 8 năm 1,990, Iraq yêu cầu Kuwait xóa các khoản nợ chiến tranh và thanh toán 2,5 tỉ USD đền bù cho lượng dầu sản xuất ở mỏ Rumaila. Khi Kuwait từ chối yêu cầu đó, thì quân đội Iraq lập tức chiếm đóng nước nầy ngay ngày hôm sau.Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc ra nghị quyết yêu cầu Iraq rút quân ngay khỏi Kuwait trước ngày 15 tháng 1 năm 1,991. Đồng thời áp đặt đặt lịnh trừng phạt kinh tế đối với chánh quyền Baghdad.

Theo nghị quyết nầy của Liên Hiệp Quốc, một liên minh quân sự gồm 34 nước trừ Nga được thành lập do Mỹ lãnh đạo. Nhưng Iraq  ngoan cố không thi hành nghị quyết, vẫn đóng quân ở Kuwait.Quá thời hạn của Liên Hiệp Quốc đề ra, lúc 0 giờ ngày 17 tháng 1 năm 1,991, liên quân 34 nước mỡ màn Chiến dịch Bảo táp sa mạc, tấn công lực lượng Vệ binh cộng hòa của Iraq đang trú đóng trên lãnh thổ Kuwait. Chiến dịch nầy kéo dài 41 ngày, bao gồm cuộc tấn công bằng không lực và hải pháo từ ngày 17 tháng 1 đến 23 tháng 2 năm 1,991 với lực lượng 2 ngàn máy bay và hàng trăm chiến hạm tham chiến. Sau đó là cuộc tấn công trên bộ với sự tham chiến của 600 ngàn quân đồng minh với 4 ngàn xe tăng, 3,700 đại pháo trên mặt đất và 100 chiến hạm của Mỹ yểm trợ và phong tỏa vùng Vịnh Ba Tư. Cuộc giao tranh trên bộ bắt đầu vào ngày 24 tháng 2 năm 1,991 với lực lượng đầu tiên là 2 tiểu đoàn của Sư Đoàn 82 Dù của Mỹ  trực thăng vận đổ bộ vào phía Nam của thủ đô Kuwait, sau lưng lực lượng Vệ binh cộng hòa Iraq, mỡ màn cuộc tấn công trên bộ. Cùng lúc đó, các cuộc đổ bộ khác trong vùng biển chiến thuật đồng được tiến hành trên các đảo duyên hải và nhiều khu vực ở bờ biển phía Đông Kuwait. Vào cuối ngày 24 tháng 2 năm 1,991 liên quân đã tiến sâu vào nước Kuwait được 48 km. Ngày 25 tháng 2 năm 1,991, lên quân đã chọc thủng được các vị trí phòng thủ của các quân đoàn 3 và 4 của Iraq trên lãnh thổ Kuwait. Một cầu không vận bằng trực thăng đã được thiết lập để tiếp vận cho cuộc tấn công vào khu vực Basra. Ngày hôm sau liên quân  chiếm được thành phố Kuwait.Trực thăng đổ 2 tiểu đoàn án ngử xa lộ Basra và Iraq, chận đường về của đoàn quân xâm lăng Iraq. Kuwait hoàn toàn được giải phóng vào ngày 27 tháng 2 nắm 1,991. Liên quân giao chiến dử dội với lực lượng Vệ binh Cộng hòa Iraq trong nhiều khu vực ở Basra. Quân đội Iraq bắt đầu nhanh chóng rút lui trong hổn loạn. Thiệt hại về phía Iraq là hàng chục ngàn người chết trong 41 ngày giao chiến. Trong khi đó lực lượng liên quân có 300 người chết và khoảng 600 người bị thương. Giao tranh tạm ngừng vào ngày 28 tháng 2 nắm,1,991. Một thỏa thuận ngưng bắn được ký kết ngày 6 tháng 3 năm 1,991, chấm dứt chiến dịch Bảo táp sa mạc ở Vịnh Ba Tư. Sau đây xin mời quí độc giả thưởng thức một bài thơ khác của tác giả :

 

 

           CHUNG và RIÊNG.

 

Nắm tiền lẻ gầm bàn

Cho hai cà phê đá

Sợ anh không tiền trả

Nhín gói quà điểm tâm

 

Mấy ngón tay chạm tay

Dưới gầm bàn thân ái

Mai sau còn nhớ mãi

Thứ bảy nào mưa bay?

 

Hai xe đạp nhanh nhanh

Chiều tan trường nhẹ gió

Lá me bay vàng đỏ

Rụng đôi bờ tóc xanh

 

Chung một xóm ngoại ô

Đi về con hẻm nhỏ

Tiếng chim quyên đầu gió

Man mác tình ấu thơ

 

Cùng tốt nghiệp ra trường

Chung một niềm mơ ước

Làm sao mà biết được

Tuổi đá vàng khói sương?

 

Mừng nhau ly rượu đầy

Ảnh chụp chung bàn cưới

Một lần chung…lần cuối

Em bây giờ của ai?

 

Mười lăm năm không gặp

Còn gì chung nhau đây 

Đường em sao thẳng tắp

Đường anh mưa gió bay?

 

Góc trời riêng cách biệt

Đường đời không có nhau

Mùa phong vàng lá chết

Nhớ gì cơn mưa Ngâu?

 

Một lần mong ước nhỏ

Khung trời chung có nhau

Tiếng chim quyên đầu gió

Còn nghe chung năm nào …

 

        Hồ Thanh Nhã.

 

  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.