Hôm nay,  

Quả bóng

11/08/201903:55:00(Xem: 6658)

 

Hồ Thanh Nhã

 

                          Quả bóng

  

Bà mẹ già tuổi quá chín mươi

Gần đất xa trời

Hai chị em thay phiên chăm sóc

Cứ mỗi chiều chúa nhật

Là họ thay..phiên trực giao ban

Rước mẹ về ở trọn một tuần

Bà cụ già như quả bóng trên sân

Lăn hết cửa nhà em đến sàn nhà chị

Nhiều năm dài như thế

Người chị cứ theo thông lệ

Đi lễ chùa hằng bữa sáng tinh mơ

Đến tối mới về

Hết Pháp hội Di Đà

Tới đợt hành hương mười chùa lễ Phật

Cầu mẹ già trăm tuổi sống lâu

Nhiều bữa về đến nhà quá ư là mệt

Lăn ra giường ngủ lê ngủ lết

Sáng sớm lại ra đi

Quên cả mẹ già suốt ngày trên gác

Khoán trắng cho người làm

Ít có dịp hỏi han

Tình mẹ con lạt còn hơn tô nước lả

Mong đến cuối tuần

Giao bóng sang nhà em

Còn cô em cũng chẳng khác chi nào

Bỏ mặc bà mẹ già cho người giúp việc

Kể cũng tròn chữ hiếu thế gian

Bữa đi họp hành

Hôm khác đến nhà bạn ngồi lê đôi mách

Có khi đi Casino…tiền hưu nướng sạch

Một hôm người chị gọi cô em

Là bận đi hành hương ba tuần Ấn độ

Lúc trở về sẽ làm bù …trực ba ca

Người em gái ngần ngừ

Nhưng rồi sau cũng chịu

..Một tối về nhà

Không nghe tiếng mẹ

Tưởng chị rước về lúc mình sát phạt ở Casino

Nửa tháng sau

Hai vợ chồng đứa con trai

Từ tiểu bang xa bay về thăm mẹ

Sẵn dịp leo lên gác

Thăm bà ngoại già hơn năm vắng bóng

Thấy chiếc giường trống lỏng

Nệm phẳng phiu chẳng dấu người nằm

Cả nhà toáng lên

Gọi em gái thì em đi vắng

Gọi nhiều nơi…cảnh sát tới nhà

Hai tuần đi qua

Bà cụ già vẫn biệt vô âm tín

Như cánh chim lạc đàn phiêu dạt trời xanh

Một bữa có người đàn ông tóc muối phong trần

Tìm đến nhà người chị

Giao chiếc khăn choàng bà cụ lúc ra đi

Có lẽ tủi thân..bà cụ ra ngoài

Đi thất thểu lang thang dưới trời sương tuyết

Nằm chết trước hiên nhà

Cách xa mấy phố

Ông báo chánh quyền

Nhiều tuần không ai đến nhận

Động lòng trắc ẩn

Đành mua quan tài chôn cất kẻ cô đơn

Đám tang âm thầm đưa tiễn chỉ mình ông

Ra nghĩa địa không hoa không câu niệm Phật đưa đường

Trời âm u sương tuyết chiều Đông

Người nầy dắt hai chị em ra nghĩa địa

Trước nắm mộ cỏ um tùm ngọn cỏ

Hai người con khóc lăn ra đất

Muộn quá rồi !

Tình mẫu tử phân ly

Như xôi nếp một như đường mía lau

Vài người khách phương nào

Thấy hai vành khăn trắng

Bên ngôi mộ cỏ mọc xanh rì

Khen nức nở đúng là hai người con chí hiếu

Mẹ chết lâu ngày

Còn nức nở chiều Đông

Nghe tiếng khen của mấy khách qua đường

Hai người con nín một chút nhìn sang

Rồi tiếng khóc càng to thêm …bi thảm

Lời khen qua đường

Như vừa uống xong một tách trà thơm

Ngon thì cũng thấy ngon

Mà hình như quá đắng !

  

            Hồ Thanh Nhã .
 

       Lễ Vu lan báo hiếu 

Đã là người Việt  thì chắc chắn ai cũng biết ngày lễ Vu lan và ít nhất cũng đã từng đi chùa một lần tham dự lễ nầy . Đại lễ Vu lan diễn ra vào ngày Rằm tháng 7 Âm lịch hàng năm và có chùa  tổ chức trong vòng  tháng 7 cũng được . Vu lan là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo và cũng trùng với ngày Rằm tháng 7 Xá tội vong nhân . Theo tín ngưởng dân gian thí đó là ngày mỡ cửa địa ngục ân xá cho vong nhân nên có lễ cúng cô hồn cho các vong linh không nhà không cửa và không có thân nhân trên dương thế thờ cúng . Đó cũng là ngày mà mọi tù nhân ở địa ngục có cơ hội được xá tội và được tái sinh vào cỏi an lành hơn trong 6 cỏi luân hồi .

Xuất phát từ sự tích Đại đức Mục Kiền Liên là 1 trong 2 đệ tử lớn của Phật Thích Ca , với lòng đại hiếu đã cứu mẹ mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ .Vu lan là ngày lễ lớn hàng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ và tổ tiên nói chung . Bao gồm cha mẹ ở kiếp nầy và của các kiếp trước . Đại đức Mục Kiền Liên thấy mẹ mình là bà Thanh Đề vì gây nhiều nghiệp ác nên sau khi chết , sanh làm ngạ quỷ bị đói khát , hành hạ khổ sở . Phật dạy nếu Mục Kiền Liên muốn cứu mẹ thì phải nhờ sự hợp lực của chư tăng khắp mười phương ,mới đủ công lực cứu mẹ ra khỏi kiếp ngạ quỷ . Và ngày Rằm tháng 7 là ngày thích hợp nhất để cung thỉnh chư tăng tụng kinh Vu Lan Bồn , có tác dụng tạo thành sức mạnh tâm linh đưa bà Thanh Đề ra khỏi kiếp ngạ quỷ . Và kết quả là bà Thanh Đề đã được tái sinh vào  cỏi lành .

Kinh Vu Lan Bồn là bộ kinh Đại thừa bao gồm một bài Pháp thoại ngắn và cách báo hiếu cha mẹ là cúng dường trai tăng cho tăng đoàn vào ngày Rằm tháng 7 và nhờ lời đọc kinh của toàn chư tăng chú nguyện mà cứu độ cho cha mẹ , ông bà đã mất .

Do đó lễ Vu lan là ngày lễ được tổ chức vào ngày Rằm tháng 7 là để báo hiếu cho cha mẹ , ông bà và cũng để giúp đỡ những linh hồn đói khát không nơi  nương tựa , thực hành hạnh bố thí .Ngoài ra còn có tục phóng sanh , bố thí để hồi hướng công đức cho các bậc sanh thành đời nầy và nhiều đời khác nữa .

Ngoài ra ngày đại lễ Vu lan còn được gọi là ngày Xá tội vong nhân , lễ cúng kiến thường được cúng vào ban ngày , tránh cúng vào ban đêm .Mỗi nhà cúng một mâm cơm canh đặt trước nhà , để cúng các vong linh bơ vơ không nơi nương tựa . Lễ cúng nầy còn gọi là cúng cô hồn , cúng thí thực ./.

 



 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.