Hôm nay,  

Cái Lu

21/08/201900:00:00(Xem: 6588)

Bên rạch Bà Bướm có hai vợ chồng ông Tư Cậy thui thủi sống với nhau bao nhiêu năm nay. Không biết hai người có con cái gì không mà chẳng bao giờ thấy chúng viếng thăm, mặc dù nghèo nhưng hai vợ chồng hết sức hiền đức và thương người. Ông thường đắp đất, vác đá vá con lộ chạy cặp mé rạch để cho người và xe cộ khỏi bị sụp ổ gà. Ông còn hạ cây sao bên hông nhà để bắc cây cầu qua cồn Chim, giúp người qua laị dễ dàng. Trước hiên nhà lúc nào cũng có cái lu nước và cái gáo dừa để cho người lỡ đường đỡ khát. Một hôm nọ có người lạ với giọng miền ngoài đến xin gáo nước, ông bà bảo:

 - Cứ uống thoải mái đi, có đói thì vào đây làm chén cơm.

 Người ấy tuy e ngại nhưng đói quá nên không còn sĩ diện nữa, quất luôn mấy chén với khô sặc kho keo. Ông bà hỏi:

 - Cậu ở đâu mà lặn lội tới đây cho cực vậy?

 Người ấy thưa:

 - Thưa ông bà, tôi vì nghèo đói nên tha phương cầu thực. May nhờ ông bà hiền đức cho ăn laị có lòng tử tế. Tôi rất biết ơn!

 Ông bà Tư Cậy xua tay:

 - Thôi đi cậu ơi, ơn nghĩa gì đâu mà kể công cho tui bắt mắc cỡ! nếu cậu không có nơi tá túc thì ở laị đây với vợ chồng tui.

 Nửa đêm hôm ấy, ông bà Tư Cậy cùng nằm mộng thấy một vị thần to lớn uy nghi hiện ra:

 - Ông bà hiền đức, ăn ở thuỷ chung laị có lòng thương người nên cảm đến đất trời. Ta, thực ra không phải người lỡ đường, chẳng qua là đến thử xem lời đồn đaị ấy thực hư ra sao. Nay ta đã rõ, ta báo cho hai người biết. Kể từ sáng mai, cái lu nước của hai người sẽ thành cái lu gạo, ăn bao nhiêu thì nó sẽ tự đầy laị bấy nhiêu.

 Sáng hôm sau, mặt trời chưa dậy. Bà Tư Cậy đã lui cui nướng mấy củ khoai lang để ăn  sáng và  nấu nước sôi chế bình trà cho chồng. Ông Tư Cậy ngồi vấn điếu thuốc rê, nói:

- Đêm qua tui nằm mơ thấy có vị thần bảo cái lu nước nhà mình sẽ thành cái lu gạo.

 Bà Tư Cậy giật mình:

 - Ông nói sao? Lu nước biến thành lu gạo? tui cũng nằm mơ thấy như vậy đó!

 Nghe thế cả hai bèn ra hiên nhà giở nắp xem, thì ra một cái lu gạo đầy ắp. Hai ông bà duị mắt nhìn nhau không biết rằng mình tỉnh hay mê. Thế rồi từ đó ngày ngày hai ông bà xúc gạo đi cho khắp nơi, nhưng hễ cứ múc vơi đi thì sáng hôm sau nó laị đầy ắp laị. Cũng từ đó người ta bảo nhau đó là cái lu thần.

 Bẵng đi mấy thế kỷ, rạch bà Bướm ngày trước giờ thành một thành đô to lớn và đồ sộ.  Người bốn phương tụ hội về ngày càng đông đúc, khổ nỗi quan laị thành đô chẳng biết cai trị thế nào mà dân ta thán thấu trời xanh. Cứ mỗi khi mưa xuống là nước lên lai láng, mưa nhỏ ngập nhỏ, mưa lớn ngập sâu, thậm chí không mưa cũng ngập nốt. Cồn Chim ngày xưa thì quan bán hết ráo cho gian thương rồi. Chúng đuổi dân ra khỏi đất ấy, mặc cho mồ mả tổ tiên và nhà cữa , ruộng vuờn đã có bao đời. Một hôm mưa lớn, nước ngập quá xá luôn. Tể tướng đi kinh lý bị kẹt laị, nhìn thấy nước hứng chí quá lo to:

 - Thế nước đang lên!

 Bang trưởng nghe vậy cũng sanh hào sảng, tuyên bố:

 - Rạch Bà Bướm, có bao giờ được như thế này chưa?

 Bọn nhân sĩ, trí thức thì cười chua chát:

 - Thủ dâm tinh thần hay tinh thần AQ đây?

 Riêng đám bợm nhậu thì cười té ghế, đàn bà con nít cười rụng rốn luôn:

 - Trời đất, tấu hài vậy thì anh hài chuyên giả gái kia thất nghiệp như chơi!

 Bọn dân đen ngày đêm sống với nước đen lênh láng ngập tới háng, kêu trời như bộng nhưng chẳng ăn thua gì. Quan đập bàn quát:

 - Ông gô cổ chúng mày laị bây giờ, chỉ có chút nước ngập mà dám bêu xấu triều đình, làm mất mặt quan nha!

 Bấy giờ có một vị nữ dân biểu (Nghe đâu gốc gác con cháu mấy đời của cư dân rạch Bà Bướm xưa), vừa là phó giáo sư kiêm tiến sĩ, laị là chủ tịch một cái hội: cờ lờ mờ vờ… gì đấy đăng đàn dạy dân:

 - Xưa xứ mình có cái lu thần, giờ mọi người sắm một cái lu để trước nhà có thể sẽ hết ngập!

Lập tức mọi người từ trí thức đến dân đen đều bật ngửa ra cả, người ta không ngờ bà ấy laị thong manh đến như vậy. Dân thành đô thì nghi ngờ:

 - Cái lu dồn được hết nước mưa sao?

 Mấy ông già nhiều chữ nghĩa thì nhắn tin:

 - Lu công may ra chịu nổi chứ lu riêng chịu sao thấu?

 Mấy anh sinh viên thì láu cá:

 - Hay là nhờ bà ấy nhập khẩu mấy cái lu Mông…cổ về chứa nước mưa chứ lu cồn chim xứ mình nhằm nhò gì!

Mấy anh kỹ sư và dân kỹ thuật thì có vẻ chuyên nghiệp hơn:

 - Đề nghị chị tiến sĩ cho tụi em làm thử mấy cái lu điện có thể giúp ích cho chị nhiều đấy!

Một nhóm văn sĩ thì khuyên:

- Nhân tiện đây chị làm luận cái luận án đại tiến sĩ hay siêu tiến sĩ về cái đề tài: “Lu mộng chống ngập nước cồn chim”

 Không biết bọn con nít ai dạy cho bài đồng dao mà chúng chạy chơi khắp nơi hát:

 Lu lú lù lu

 Lu còi ốm o

 Lu mo sợ lộ

 Lu cô tiến sĩ

 Lu Mỹ lu lào

 Lu cao lu thấp

 Lu cập lu căng

 Lu măn lu mọc

 Nước ngập thành đô

 Mua lu dù địa

 Lu động lu đàng

 Lu màng lu mửa

 Lu mút lu may

 Lu cay lu cú

 Nước lũ vô lu

 Nước triều cũng rút

 Lu lú lù lu

….

 Cũng may hổm rày trời không mưa, nước triều cũng chưa lên nên thành đô bớt ngập. Chị tiến sĩ mu, người gốc rạch bà Bướm năm xưa cười nắc nẻ:

 - Đấy, mọi người thấy chưa? Nhờ tôi mà lu tồn kho bán chạy, thành đô bớt ngập. Tôi đề nghị mỗi nhà phải mua lu bé còn tập thể phải có lu công! Các lu ấy vậy mà hữu dụng lắm, ngaỳ xưa rạch bà Bướm có lu thần, nay thành đô ta thì lu cần biết bao.

 

Tiểu Lục Thần Phong

7/2019

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.