Hôm nay,  

Cây cầu anh Tèo

24/08/201907:01:00(Xem: 12425)

Hồ Thanh Nhã

 

                                     Cây cầu anh Tèo

  

Ai đã có lần đi qua chiếc cầu treo

Cuối bản Cu Pua vùng cao Quãng Trị

Mới thấy thót tim

Mỗi lần qua suối

Hai sợi giây cáp đong đưa

Trời mưa gió núi

Nước nguồn tuôn lởm chởm đá tai mèo

Bản nhỏ dân tộc Vân kiều

Sườn núi cheo leo

Trẻ nhỏ đến trường

Người lớn lên nương

Mỗi ngày hai lượt đi về

Đã hai chục năm vượt qua đoạn đường khổ ải

Niềm mơ ước đơn sơ

Cây cầu xi măng qua suối

Khó trăm bề lớp lớp rào ngăn

Đơn gởi nhiều nơi

Cấp trên chẳng chút đoái hoài

Coi như chuyện nhỏ thường ngày dưới huyện

Một buổi sớm mai

Có người đàn ông tóc pha màu muối

Nói giọng Sài Gòn

Tìm đến nhà trưỡng bản

Họ dắt nhau ra bờ suối

Chỉ chiếc cầu giây cáp cheo leo

Tiền tôi không có bao nhiêu

Chỉ được ba mươi triệu đồng

Nếu dân bản đồng ý góp công

Thì tôi sẽ mua xi măng thép cát

Chúng ta cùng hợp tác

Chiếc cầu bê tông chắc chắn sẽ hoàn thành

Đem lại sự an toàn

Cho hai mươi sáu hộ dân trong bản

Trưỡng bản chi xiết vui mừng

Dắt  người đàn ông Sài Gòn lên xã

Và sau là phòng kinh tế huyện hạ tầng

Các nơi đều bằng lòng

Người đàn ông trở lại Sài Gòn

Trưỡng bản họp dân lập đội thi công

Đúng hẹn một tuần sau

Người đàn ông trở lại cùng hai người bạn kỹ sư

Kể cả hai xe chở đầy vật liệu

Họ bắt đầu đắp móng xây cầu ngay chiều hôm đó

Ba người cùng trộn hồ

Khiêng sắt xi măng

Phụ cùng dân bản

Mồ hôi chảy cơn gió Lào nóng bỏng

Họ vẫn tươi cười

Cả tuần lễ thi công

Trưỡng bản nhiều lần hỏi tên

Người đàn ông mĩm cười khiêm tốn

Cứ gọi tên tôi là Tèo

Không mỹ miều thêm bớt

Rồi chẳng nói gì thêm

Một cái tên như không như thật

Trong hàng triệu người dân Sài Gòn có tánh có danh

Một tuần sau cây cầu hoàn thành

Họ uống với dân bản vài ly rượu

Rồi từ giã ra về

Từ đấy chưa lần nào trở lại

Giúp một lần

Lợi ích đến trăm năm

Người bản Vân Kiều nhớ mãi

Đặt tên cây cầu giây cáp trước đây

Là cây cầu anh Tèo bê tông cốt sắt

Một cái tên vô danh mà có thật.

        Hồ Thanh Nhã

  

 Sắc tộc người  Bru – Vân Kiều ở vùng cao Quảng Trị.

 
Người Bru – Vân Kiều sống ở dọc theo dãy Trường Sơn, phía Tây các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên, Huế. Mỗi làng hay bản là một điểm cư trú quần tụ. Mỗi gia đình có nhà riêng thường là nhà sàn. Người lớn nhất trong làng gọi là “ Già làng “ hay Trưỡng bản có vai trò quan trọng, điều hành các công việc hành chánh trong làng. Sự giàu nghèo của mỗi hộ dân được xác định bằng chiêng, cồng, ché, nồi đồng và trâu.

Dân số sắc tộc Bru – Vân Kiều là 74,506 người, theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009. Đây là sắc tộc  có nguồn gốc lâu đời nhất ở vùng Trường Sơn. Hoạt động sản xuất của sắc dân nầy là nghề nông, canh tác rẩy, trồng lúa rẩy là chính. Nông cụ đơn giản là rìu, dao quắm. cái nạo cỏ có lưởi cong. Họ phát rừng, đốt rồi chọc lổ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay. Họ xen canh trên từng đám rẫy kéo dài hàng năm từ tháng 3 đến tháng 10. Ngoài ra họ còn trồng thêm hoa màu phụ như bầu, cà, chuối, khoai, mía. .Rừng và sông suối cung cấp nhiều thức ăn và nhiều nguồn lợi khác. Họ cũng chăn nuôi trâu bò, lợn, gà …                   

Ngoài ra nhiều hộ cũng làm thêm các nghề thủ công như đan lát, tre, mây . khi rổi rảnh, ngoài thời vụ. 

Người Vân Kiều thích ăn các món nướng. canh thì thường nấu lẫn rau rừng với gạo, cá hoặc ếch nhái. .Họ ăn cơm tẻ hàng ngày. khi có lễ hội thì ăn cơm lam ( nếp nướng trong ống tre tươi ). Họ có thói quen ăn bốc, ít khi dùng đủa, uống nước lả, rượu cần. Nam nữ đều hút thuốc lá, tẩu bằng đất nung hoặc bằng cây le. Về trang phục thì nam đóng khố, nữ mặc váy. Còn áo thì không có tay, mặc chui đầu. Phụ nữ thường đeo các đồ trang sức như vòng ở cổ tay, khuyên tai.

Người Bru – Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quá trình canh tác. Đặc biệt lễ cúng trước dịp tỉa lúa trên rẫy diễn ra như một ngày hội của dân trong bản. Lễ cúng có đâm trâu thường có trong dịp nầy. Họ ở nhà sàn phù hợp với gia đình thường gồm cha mẹ và các con chưa lập gia đình, Nhà của họ là nhà sàn có 2 mái thường lợp bằng lá mây hoặc lá cọ. /.

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.