Hôm nay,  

Đoạn đường thỉnh kinh

07/09/201908:45:00(Xem: 4529)

Hồ Thanh Nhã

 

      Đoạn đường thỉnh kinh

 

Đường Huyền Trang dẫn ba đệ tử

Đi Tây Trúc thỉnh kinh

Chuyến đi xuyên sơn

Qua sông qua suối gập ghềnh

Trải qua lớp lớp nạn tai

Gặp trùng trùng yêu quái

Đoàn lữ hành bền dạ bền gan

Suốt đường dài vạn dặm gian nan

Diễn viên tài năng là Lục Tiểu Linh Đồng

Thủ vai chính Tôn Ngộ Không

Chúa động Hoa Quả Sơn

Một thuở náo Thiên cung

Sau hối cải

Vâng lời Phật phò Đường Tam Tạng

Đi Tây Trúc thỉnh kinh nguyên bản

Về Trung Nguyên truyền lại nhân gian

Hai tiểu đệ là Sa Tăng –Bát Giới

Ba đệ huynh đồng hội đồng thuyền

Phò sư phụ trên đường vạn lý

Trong vai diễn

Cả ba là huynh đệ

Ngoài đời thường họ là bạn tâm giao

Buổi diển vừa xong

Họ là bạn vườn đào

Khi ăn uống lúc vui chơi họ vẫn vái chào huynh đệ

Hoàn tất cuốn phim

Họ chia tay mỗi người mỗi lối

Người đóng vai Trư Bát Giới

Một hôm lâm bịnh nặng

Gọi điện thoại hàng ngày xin gặp sư huynh

Lục Tiểu Linh Đồng còn đang bận đóng phim

Về không kịp gặp người em kết nghĩa

Trư Bát Giới mê man trong bịnh viện

Thều thào nhắn lời từ giã sư huynh

Hẹn gặp nhau lần nữa kiếp lai sinh

Lục Tiểu Linh Đồng về đến Bắc Kinh

Chỉ kịp đưa tiễn lão Trư ra nghĩa trang hiu quạnh

Cũng bùi ngùi nửa thực nửa hư

Đường thỉnh kinh dẫn đến kinh sư

Nước nhỏ Tây Lương nữ quốc

Cô Nữ vương gặp Tam Tạng lần đầu

Yêu say đắm nhà sư phong độ

Trằn trọc thâu đêm ngày ngày nhung nhớ

Cậy nữ quan mai mối se duyên

Đường Huyền Trang một dạ một niềm

Đúng bậc chân tu lòng không lay chuyển

Tôn Hành Giả bày mưu kế hiến

Thầy cứ giả vờ kết mối lương duyên

Nhờ Nữ vương đưa tiễn ngoài biên

Rồi từ chối giữa đường ranh lân quốc

Nữ vương cuối cùng đành lau nước mắt

Để người yêu trong mộng đi luôn

Vai diển vừa xong

Nữ vương trở lại đời thường

Mang hình bóng người thương trong mộng

Rồi từ đấy một mình một bóng

Nàng diển viên từ giã phim trường

Sống hiu quạnh một mình trong căn phòng nhỏ

Chờ đợi mỏi mòn

Nhà sư đi Tây trúc thỉnh kinh

Mỗi sáng đến chùa nghe tiếng mỏ tiếng chuông

Cho đến hôm nay tuổi cũng quá lục tuần

Vẫn chờ đợi người thỉnh kinh năm ấy

Hư cũng là hư

Mà thực như là thực

Trộn lẫn vào nhau trong cõi vô thường

Ai đã một lần vào bóng tối mù sương

Giống như gỡ một cuồn chỉ rối …

 

                  Hồ Thanh Nhã

  

Hành trình đi thỉnh kinh của nhà sư Đường Huyền Trang

Đường Huyền Trang ( 595-664 ) là một vị cao tăng đời Đường, tên thật là Trần Huy  ( có sách gọi là Trần Vĩ ), đi tu từ thuở nhỏ. Ngoài ra Ngài được vua Đường Thái Tôn nhận làm em, cho mang họ hoàng tộc nên thiên hạ gọi Ngài là Đường tăng hay Đường Tam Tạng vì Ngài còn thông hiểu 3 Tạng kinh là  Kinh Tạng (Sutra ), Luật Tạng (Vinaya ) và Luận Tạng ( Abhidharma ). Lúc đó Phật Giáo đã lan truyền đến Trung Hoa từ lâu. Đường Huyền Trang nhận thấy những kinh sách nầy nguyên bản bằng tiếng Phạn do các thương nhân mang về qua những chuyến buôn bán đến các nước vùng Trung Á. Kinh sách được in ấn từ nhiều nước khác nhau, bản dịch ra tiếng Trung Quốc cũng không đồng nhất, nhiều đoạn có nghi vấn không biết tra cứu ở đâu. Vì những lý do trên nên nhà sư Trần Huyền Trang quyết định đích thân đi Tây Trúc thỉnh kinh sách nguyên bản vế Trung Quốc dịch lại. Ý định trên được vua Đường Thái Tôn và các quan lại trong triều hoan nghinh vì họ cũng có những nghi vấn tương tự nhà sư Trần Huyền Trang.
 
Vua Đường triệu Huyền Trang vào triều, phong nhà sư làm ngự đệ, cho mang họ hoàng tộc tức Đường Huyền Trang. Ngoài ra nhà vua còn cấp lộ phí và Quốc thư cho nhà sư mang theo trình cho các nước duyệt khán trên đường đi.  Năm 628 nhà sư Đường Huyền Trang một người một ngựa men theo con đường tơ lụa mải miết đi về hướng Tây tầm sư học đạo. Ngẩm nghĩ lại chắc nhà sư không thể đi một mình, ít ra cũng phải có vài ba người tùy tùng đồng hành để khuân vác hành lý, lương thực, nấu nướng, tạp dịch … trên đường đi hàng vạn  dặm xa. Chuyện nầy xét ra hợp lý hơn là chuyện về 3 đệ tử thần thông biến hóa của Đường tăng là Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới và Sa Tăng,  mà nhà văn Ngô Thừa Ân vào giữa  thế kỷ thứ 16 dưới triều nhà Minh  hư cấu thành bộ truyện Tây Du Ký. Nhưng điều chắc chắn là đám tùy tùng nầy phải có sức mạnh hoặc giỏi võ nghệ mới có thể theo bảo vệ nhà sư trên đường dài đầy bất trắc, trộm cướp. . giống như một toán bảo tiêu.  


 
Vua Đường phái đi thỉnh kinh xa, chắc phải nghĩ đến chuyện an ninh lộ trình cho  nhà sư. Đường Huyền Trang đã đi trên 5 vạn dặm đường, vượt qua bao nhiêu ngọn núi cao, sông dài, thác ghềnh, sa mạc …vô cùng gian khổ. Cuộc hành trình kéo dài trên 2 năm trời, vượt qua các nước như : Mông Cổ, Tây Vực ( tức Tân Cương ), Thổ Nhỉ Kỳ, Afghanistan. .mới tới được Ấn Độ. Đi tới đâu Ngài cũng tìm cách thuyết giảng Phật pháp. Nhờ vậy phong trào Phật giáo vùng Trung Á có cơ hội phát triễn. Trong bộ ký Đại Đường Tây Vực Ký , nhà sư có kể về 2 pho tượng Phật điêu khắc trên núi đá vào thế kỷ thứ 6 ở Afghanistan . Sau nầy 2 pho tượng nầy đã bị phong trào Hồi giáo cuồng tín  Taliban phá hoại, nay đang được Liên Hiệp Quốc phục chế lại.

Tới Ấn Độ, Đường Huyền Trang tìm đến Phật học viện Nalanda để học kinh kệ và được vị cao tăng tại đó  là Giới Hiền đại sư nhận làm đệ tử và tu học ở học viện nầy nhiều năm sau đó. Đến khi thấy việc tu học đã viên mản, sư Trần Huyền Trang xin sư phụ cho trở về Trung Quốc . Có nghĩa là từ khi ra khỏi nước và đến khi Ngài trở về là 17 năm trời. Khi ra đi, Ngài mới có  33 tuổi và khi trở về Ngài được 50 tuổi. Lúc trở về Ngài mang theo 657 bộ kinh nguyên bản bằng chữ Phạn. Đường Huyền Trang đã để lại hậu thế một tập sử liệu quý giá là tập Đại Đường Tây Vực ký gồm 12 quyển. Trong bộ bút ký nầy Đường Huyền Trang kể lại tỉ mỉ về địa lý, lịch sử xã hội, tập quán, tình hình Phật giáo của 110 nước lớn nhỏ mà Ngài đã đi qua. Đây là một bộ sử liệu quan trọng về các nước Trung Á và Ấn Độ thời cổ xưa. Bộ ký nầy còn là kim chỉ Nam sau nầy  cho các  đoàn thương nhân từ Trung Quốc đến Ấn Độ dọc theo con đường tơ lụa.
 

Về đến Trung Quốc, Ngài được vua Đường Thái Tôn đón tiếp trọng thể và lưu lại kinh đô để lo dịch thuật các bộ kinh mang về. Trong ngày tái ngộ giữa vua Đường và nhà sư trở về từ Tây Trúc, nhà vua đã xa giá ra khỏi kinh đô Tràng An 10 dặm để chở đón Đường tăng và đoàn lạc đà chở kinh trở về. Điều đó nói lên sự trọng vọng của nhà vua đối với Đường tăng và thành quả sau chuyến thỉnh kinh của Ngài . Cuộc gặp gở giữa 2 con người xuất chúng đó diển ra ở một trạm quán bên đường với nghi thức rất long trọng của triều đình. Một bên là vị vua anh hùng xuất chúng đã lừng lẩy chiến chinh thống nhất thiên hạ sau mấy chục năm dài loạn lạc cuối đời vua nhà Tùy. Còn một bên là một nhà sư dành trọn đời cho đạo pháp, kiên gan bền chí vượt qua 5 vạn dăm đường đầy khó khăn, nguy hiểm, đem về nước trọn vẹn tinh hoa Phật pháp để phổ độ chúng sanh. Thật là một cuộc gặp gỡ còn để lại tiếng thơm cho lịch sử văn hóa Phật giáo Trung Hoa cho mãi đến tận ngày nay, hậu thế vẫn còn nhớ ơn 2 người kiệt xuất nầy.
 
Ở lại một ngôi chùa lớn ở kinh đô, Đường Huyền Trang đã dành trọn quảng đời còn lại để lo việc dịch thuật kinh kệ từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Quốc. Cứ xem bộ Bát Nhã bằng chữ Phạn mà Ngài tóm lược gọn lại thành Bát Nhã Tâm Kinh với 260 chữ chứa đựng hết ý cốt lõi của toàn bô 6 trăm quyển  kinh nguyên bản, mới thấy tài trí siêu việt về Phật học của sư Đường Huyền Trang. Cũng nhờ Tâm kinh nầy, nhiều đệ tử Thiền học sau nầy đã ngộ đạo. Thật đúng là một tinh hoa bậc nhất của Phật Giáo Trung Quốc vậy.  Ngài mất năm 664 hưởng thọ 69 tuổi. Ngài đã để lại cho hậu thế một gia tài kinh sách đồ sộ. Cũng nhờ công đức của Ngài mà Phật Giáo đời Đường trở thành cực thịnh và lan truyền sang các nước lân cận như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam …

                           



 

Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!
Đằng sau các cuộc biểu tình chống đối sự kỳ thị trong cái chết của George Floyd là các cuộc đập phá, phóng hoả, cướp và hôi của. Tại sao nó luôn xảy ra trong các cuộc bạo loạn. Đó là một câu hỏi nhức nhối và đau đớn đã làm phiền lòng không những người có mặt trong cuộc biểu tình mà của cả những người ngoài cuộc. Thấy được những cửa hàng thương mại, nhà thuốc, siêu thị, hệ thống bán lẻ bị đốt phá, cướp bóc tan hoang ai cũng đau lòng và phẫn uất, nhất là các chủ tiệm. Những bài phỏng vấn các tiểu thương cùng nhiều video Clip ghi lại những hình ảnh đập phá thu được ở các cửa tiệm thương mại đã làm tôi không ngăn được dòng nước mắt thương cảm cho họ. Các tiểu bang mới được mở cửa mấy ngày sau cơn đại dịch. Giới tiểu thương phải gánh chịu sự mất mát kinh tế trong vòng nửa năm qua, giờ họ lại bị phá sản bởi bao nhiêu vốn liếng tiêu tan trong phút giây. Họ khóc, con cái, gia đình họ khóc, họ chia sẻ nỗi uất hận tai bay hoạ gởi, rồi lại phải nai lưng ra quét dọn, gom góp những tan hoang đổ đi.
Một điều chắc chắn là Bắc Kinh không tranh đua làm cảnh sát quốc tế mà nhường vai trò này cho Hoa Kỳ phung phí tài sản và nhân lực trong các chiến trường Trung Đông, Trung Á và Bắc Phi. Trong khi đó Trung Quốc hưỡng lợi từ việc mua dầu hỏa, khai thác tài nguyên thiên nhiên, bán hàng tiêu dùng cùng kế hoạch Vành Đai Con Đường. Về phương diện an ninh Bắc Kinh hiện muốn đẩy lùi Hoa Kỳ ra khỏi Đông Thái Bình Dương để tạo một vòng đai an ninh vì khu vực này được xem thuộc ảnh hưởng truyền thống của Trung Quốc và là nơi có nền kinh tế năng động nhất thế giới. Trên khía cạnh tài chánh Bắc Kinh tìm cách phối hợp với Nga, Trung Đông và cả Âu Châu để chấm dứt vai trò thống trị của đồng đô-la.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.