Hôm nay,  

Thành Vijaya

28/09/201900:00:00(Xem: 3600)

Trời vừa sập tối, vầng trăng tròn vành vạnh lơ lửng trên không tỏa ánh sáng bàng bạc khắp sơn hà.

Không biết đã tự bao đời, cứ mỗi độ trăng tròn là mọi người laị tụ về bên tháp Bạc. Không luận là người của thị tộc Dừa hay Cau, không kể là quý tộc hay hạng bình dân… Đêm trăng tròn là lúc tuyệt vời nhất của dòng thời gian bất tận vô thuỷ vô chung. Đêm nay tháp Bạc trang hoàng rực rỡ, nào cờ xí, phan, lọng…hàng ngàn ngọn đuốc cháy rực rỡ quanh tháp. Tháp Bạc sừng sững trên ngọn đồi đất đỏ, dưới chân là một khúc quanh của dòng sông Côn luôn đầy ắp nước, kể cả những lúc khô hạn.

 Bọn ca nhi bắt đầu muá hát véo von,  những dải lụa tung lên như những làn mây, những đôi ta ngà ngọc cong cớn cùng sự uốn éo của tấm thân kiều diễm. Bọn đồng nam cũng lăng xăng lo dâng lễ vật để tế thần Shiva. Sau khi tế lễ xong thì mọi người sẽ nhập tiệc hoan ca cho đến tàn canh.

Vị phó vương Vinarachandara ngồi trên tấm thảm Ba Tư lắc lư thgeo tiếng kèn của thầy tư tế. Cung nữ hầu quạt và lắc những cái lồng xông khói đàn hương, mùi hương và khói trầm lan toả cả ngọn đồi; thức ăn, hoa quả liên tục được dâng lên. Cảnh tượng cứ như hỷ tiệc hoan ca ở cung trời phạm thiên Brama.

 Xa xa dưới chân đồi bọn thường dân và nô lệ cũng muốn lên đồi nhưng đám lính canh và hộ vệ sừng sộ la hét chặn laị:

- Lũ chúng mày không được phép lên đồi, đừng làm ô uế đến các bậc cao qúy!

 Tuy vậy vẫn có một số len lỏi lên được, bọn cấm vệ quân lập tức xông ra đánh đuổi túi buị. Vị phó vương nghe ồn ào hỏi chuyện gì xảy ra, người hầu cận thưa:

 - Bọn thường dân và nô lệ cũng muốn lên đồi.

 Ông đứng dậy đi xuống gần với đám cấm vệ quân bảo:

 - Đêm nay trăng tròn, mừng mùa màng bội thu, hãy để cho bọn họ lên đồi, đừng làm hỏng tiệc hoan ca!

 Tay trưởng cấm vệ quân tâu:

 - Thưa phó vương, bọn thấp hèn ấy sao có thể lẫn lộn với bậc cao qúi được?

Phó vương Vinarachandara cười:

 - Họ cũng là người, cũng có tánh giác như ta nhưng vì kém phước nên mới sanh ra vậy thôi!

Y laị trình bày:

 - Thưa phó vương, bọn thường dân và nô lệ sanh ra từ bàn chân của thần Brama sao có thể bằng với bậc cao quý sanh ra từ miệng và đầu của thần được?

 Phó vương nhìn vào mắt y và từ tốn:

 - Nhưng đấng thiên nhân sư Sakyamuni dạy: Tất cả chúng sanh vốn đồng một thể! năm xưa ngài vốn là thái tử cao quý nhưng đã từ bỏ tất cả để tu đạo, sống hành khất… Khi ngài đắc đạo thì độ cho tất cả mọi người, không phân biệt sang-hèn, trí- ngu, cao- thấp… Ngài bảo tất cả đều giống nhau nhưng vì mê - ngộ mà sanh ra sai biệt!

 Trưởng cấm vệ quân không dám cưỡng mệnh nên để cho mọi người lên đồi nhưng y hậm hực mách nhỏ với mấy thầy tư tế. Bọn đạo sĩ Bà La Môn bèn kéo đến cật vấn:

 - Thưa phó vương, sao ngài laị cho đám người hạ tiện lên đồi? chúng làm ô uế thần Brama, làm nhơ bẩn đến người tôn qúy!

 Phó vương ôn tồn:

 - Bọn họ cũng là người, ta lấy lòng từ bi đối đãi với họ. Bọn họ đã phục dịch, đã thu hoạch mùa màng xong… cũng nên cho bọn họ chút niềm vui.

Mấy đạo sĩ Bà La Môn vẫn khăng khăng:

- Thưa phó vương, ngài quên lời thần Brama rồi sao? ngài muốn theo ngoaị đạo? chúng tôi e rằng thần Shiva sẽ giận dữ và giáng họa đó! 

 Phó vương bảo:

- Sao là ngoaị đạo? các thầy tư tế quên rằng từ đời vương Indravaman đã tin Phật Sakyamuni. Vương đã cho xây tháp và tạc tượng Sakyamuni thờ ở Đồng Dương, Trà Kiệu. Rồi các đời vương sau cũng thế, nay vương Harivaman cũng cho thờ tượng Sakyamuni Phật ở trong tháp này, sao bảo là ngoại đạo được! Ta vẫn tôn thờ thần Shiva, ta không nghĩ thần sẽ giáng hoạ. Tượng Phật Sakyamuni thờ ở đây đã lâu mà thần có giận hay trừng phạt chi đâu. Các thầy chớ có quá lo lắng, việc ta làm thì ta chịu!

 Các thầy tư tế không vui nhưng không biết làm sao bèn lui đi, tiệc hoan ca laị tiếp tục, ánh trăng càng về khuya dường như càng đậm đặc hơn, sắc vàng lấn đi màu bàng bạc lúc đầu hôm. Bọn ca nữ dường như lâng lâng cả, không biết vì men rượu hay vì nhập thần mà khúc hát càng réo rắt hơn. Vị phó vương cho gọi cô Nimphondara laị ngồi bên. Cô ta là ca nữ trẻ nhất trong bọn, nhan sắc bá mị thiên kiều, giọng hát trong vắt và cao vút… Làm bao nhiêu người mến mộ. Phó vương rất yêu mến cô, đêm càng về khuya ánh trăng lung linh huyền hoặc như chảy trên tháp và cả sơn hà dần dần lạnh trong sương. Ngài lấy áo bào choàng cho Nimphondara, đâu đó tiếng cú rúc nghe rờn rợn cả đất trời.

 Hôm sau, phó vương nhận được lệnh gọi vào chầu. Vua Harivaman hỏi:

 - Ta nghe khanh cho bọn hạ tiện lên tháp Bạc làm ô uế thần linh, trong đêm trăng tròn bọn thấp hèn lên đồi làm lỡ tiệc hoan ca của các bậc cao quý.

 Phó vương biết là bọn tư tế xàm tấu lên vương, ngài quỳ tâu:

 - Bẩm bệ hạ, thần rất mực cung kính thần Brama, thần Shiva, thần Visnu… không hề xúc phạm đến phạm thiên. Sở dĩ thần cho bọn thường dân và nô lệ lên đồi là vì bọn họ đã phục dịch, mùa màng đã bội thu, quốc gia cường thịnh… đêm trăng tròn mở tiệc hoan ca cũng nên cho bọn chúng chút niềm vui. Vả laị Phật Sakyamuni cũng đã bảo:” Chúng sanh vốn đồng một thể tánh” kia mà!

 Vương laị nói:

  - Thần Brama cấm bọn hạ tiện, bọn Thủ Đà La không được đến gần người cao qúy.

 Phó vương thưa:

  - Phật sakyamuni  vốn là thái tử, tu đắc đạo đã không từ bỏ một ai, dù là người hạ tiện nhất. Ngài tuyên bố: không có giai cấp khi mà nước mắt cùng mặn, máu cùng đỏ!

 Vương Harivaman giọng nghi ngờ:

  - Vậy phó vương đã bỏ Brama để theo Sakyamuni Phật rồi à?

 Phó vương giải thích:

  - Muôn tâu bệ hạ, thần vẫn một mực cung kính phạm thiên brama nhưng bệ hạ thấy đấy! các tiên vương đã thờ tôn tượng Sakyamuni từ Đồng Dương, Trà Kiệu. Thành Indrapuka là cả kinh đô phụng thờ Sakyamuni Phật. Nay tại thành Vijaya này cũng thờ tượng Sakyamuni, giữa thành này có cả ngôi tháp Đồng tôn trí tượng của ngài Sakyamuni… Thần chỉ vâng theo chứ đâu dám tự tiện!

 Vương nói:

  - Việc tôn trí các tôn tượng Sakyamuni Phật vốn có từ nhiều đời, các tiên vương cũng sùng Phật, ta cũng tin Phật. Ta đã đọc qua giáo lý của ngài và chấp nhận đời là vô thường, là khổ … Ta cũng ban rải tình thương bằng cách giảm thuế khoá, bớt phu phen tạp dịch, tha bổng hình ngục…. Ta cũng cho tạc tượng Sakyamuni Phật thờ ở tháp Đồng nhưng ta vẫn không quên mình là con thần Brama. Ta vẫn sợ thần Shiva nổi giận, khanh cần cẩn trọng kẻo không thần sẽ giáng tai họa diệt vong xuống thành Vijaya này!

 Phó vương dập đầu:

  - Thần vâng mệnh!

Năm ấy việc thờ Phật Sakyamuni lan rộng toàn cõi Champa, thành Vijaya nối tiếp thành Indrapuka xây tháp thờ Sakyamuni tuy nhiên không hưng thịnh bằng, việc chiêm bái ngày càng sâu rộng trong hoàng gia nhưng ngoài dân chúng laị chưa được là bao.

Thiền sư Thảo Đường từ Bắc Tống sang giảng pháp cho vương và hoàng thân quốc thích. Sứ giả Đaị Việt mang tặng vật của vua Trần gởi mấy bộ kinh và tôn tượng Sakyamuni Phật bằng đồng đen. Cả thành Vijaya và hoàng gia hoan hỷ mến mộ Phật đạo cho dù vẫn còn tôn thờ phạm thiên. Cũng năm ấy, vua Chân Lạp biếu tặng một viên ngọc xá lợi, vua Tiêm La tặng bộ kinh tiểu bộ.  Ngày rằm tháng trăng tròn Vesak. Vương dẫn bá quan và cả các thầy tư tế lên đồi đem ngọc xá lợi an trí trên ngôi tháp cao nhất của thành Vijaya. 

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất lăng thành, 6/2019

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lúc còn nhỏ thì không để ý. Nay lúc tuổi già, hồi tưởng lại tâm linh dân tộc, suy nghĩ lại câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” hoặc “A Di Đà Phật” của dân mình mới thấy nó có một ý nghĩa linh thiêng và đẹp tuyệt vời. Nó không phải chỉ nằm trong phạm vi tôn giáo mà còn hòa nhập thành truyền thống văn hóa dân tộc. Nó trở thành phong cách sống hài hòa giữa đạo và đời. Khi đi chùa gặp nhau, hoặc trong các lễ hội Phật, chúng ta cất tiếng “A Di Đà Phật !” thì tiếng “A Di Đà Phật” trở thành một câu chào hỏi, một lời thân thiện, một lời mừng rỡ rằng ta còn có nhau, một lời chúc tụng, một sự kính trọng, một ước vọng sau này (khi vãng sinh) sẽ lại gặp nhau trên Quốc Độ Thanh Tịnh của Phật A Di Đà.
Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy những cầu thủ đồng hương tranh tài. Thiệt không có gì để có thể phàn nàn. Các em chơi rất tới, rất hết mình, và rất đáng ngợi khen. Đây cũng là lần đầu tiên tôi được nghe những lời bình, bằng tiếng mẹ đẻ, trong một trận túc cầu. Bình luận viên hay nhắc đi nhắc lại những cụm từ rất nặng nề: xử lý tình huống, quật khởi, nỗ lực kiên cường, phương cách đá, tham gia lấy bóng, khoảng cách lợi thế, sự tiếp cận, sự thay người, toả sáng…
Herschel Walker vừa chấm dứt hi vọng tái tranh cử tổng thống của Trump. Herschel Walker loạng choạng, lầm bầm, lóng ngóng cuối cùng đã thất bại trong cuộc đua vào Thượng viện Georgia. Nhưng trong khi Walker có thể sẽ rời khỏi chính trường và chìm vào tình trạng mờ mịt, người đàn ông đã lôi kéo ông Walker vào cuộc đua và áp đặt một ứng cử viên rõ ràng không đủ tiêu chuẩn vào Đảng Cộng Hòa Georgia, hiện đang gặp khó khăn trong việc giải quyết thiệt hại...
Theo Phật Học Từ Điển của Thiện Phúc, “Chánh Niệm (Sammasati/Phạn, Samyaksmrti/ Sankrit, Right mindfulness /Anh Ngữ ) là , ”Nhớ đúng, nghĩ đúng là giai đoạn thứ bảy trong Bát Thánh Đạo. Nhìn vào hay quán vào thân tâm để luôn tỉnh thức.
Người dân Nam Bộ thường phê bình kẻ nói một đường làm một nẻo là “xạo ke”. Sau ngày 30/04/1975, đảng Cộng sản thu đất nước về một mối, nhưng không làm như đã hứa khiến dân Nam Bộ lại phải gọi Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa là “xạo hết chỗ nói”...
Một phong trào biểu tình chống chế độ và chống Xi, do dân chúng và phần đông giới trẻ, sinh viên các Đại học, phát động hôm 24/11/22, nhiều người cho là lớn nhứt từ 33 năm nay. Dân chúng các thành phố lớn, sinh viên từ nhiều Đại học xuống đường tố cáo biện pháp ác ôn « Zéro Covid » của Xi chống dịch Vũ Hán là giết người, trong lúc thế giới cũng chống dịch nhưng không ai làm như vậy...
Coi như là hết thuốc! Bây giờ thì tôi hiểu thế nào là một nhà tù lớn. Tuy không có chấn song nhưng kẻ ở bên trong cũng hoàn toàn bị cắt đứt mọi liên lạc với thế giới bên ngoài...
Đến hôm nay thứ sáu 2 tháng 12 giải túc cầu thế giới năm 2022 đã đi được nửa đoạn đường. Cũng như bất kỳ một cuộc tranh đua thể thao nào phải có kẻ thắng người thua. Kẻ thắng thì vui mừng hớn hở vì đã đem lại vinh quang cho xứ sở và dân tộc mình. Kẻ thua thì viện lý do nầy hay lý do khác vì mình đã bị xử ép để tránh sự chỉ trích của những người hâm mộ. Nhưng đó là những sự kiện thường tình lúc nào cũng xẩy ra.
Bài này sẽ phân tích về một số ý chỉ trong hai hội đầu trong Cư Trần Lạc Đạo Phú của Vua Trần Nhân Tông (1258-1308), người sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm. Bài phú này có 10 phần, chữ xưa gọi là 10 hội, chỉ ra đường lối của Thiền Trúc Lâm.
Một người nghĩ rằng, người kia làm chuyện lầm lỗi, vì muốn chống đối, người này làm chuyện có lỗi để gây tiếng vang, phản đối lại sự lầm lỗi của người kia. Vậy thì ai có lỗi? Và lỗi nào nặng hơn? Có lẽ, bạn đọc nghĩ rằng, tôi đang muốn nói về chuyện luật tử hình. Lý luận này: một kẻ cố ý giết người, hoặc giết nhiều người, cần phải đền tội bằng cái chết. Mắt đền mắt. Răng đền răng. Đúng và hữu lý. Nhưng lý luận kia: Trong xã hội văn minh, trừng phạt là thứ yếu, giáo dục, cải thiện người xấu trở thành tốt mới là mục tiêu nhân bản. Người phạm tội, có quyền được hưởng, ít nhất, một cơ hội để hối lỗi, để trở thành người tốt hơn. Cả hai lý luận đều đúng. Có lý luận thứ ba: Giết người là có tội, dù là lý do gì, ngoại trừ phải tự vệ trong tình trạng khẩn cấp. Như vậy, khi tòa án kết tội tử hình, chính tòa án (luật pháp, thẩm phán, và công tố viên) đã phạm tội giết người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.