Hôm nay,  

Mại Dô, Mại Dô

16/10/201900:00:00(Xem: 6267)

“Kính thưa bà con cô bác, hườn này bổ nhất, tật bệnh tiêu trừ, phẻ như ông kẹ, tể này thậm phê, ông uống bà khen… maị dô, maị dô, tiền trao cháo múc, mua một tặng hai… maị dô, maị dô…” gánh Sơn Đông Mãi Võ của nhóm Thập Môn Đường vừa múa võ bán thuốc tể, hườn, đan, cao đơn hoàn tán…Anh lực sĩ nằm trên bàn chông cho người khác lấy búa tạ đập mà không hề hấn gì. Người ta xếp lớp vòng trong vòng ngoài, vừa coi vừa reo hò thán phục; tiếng vỗ tay rào rào, tiếng bạc cắt quăng vào lon bơ lẻng xẻng. Xéo bên góc Trần Bình một nhóm khác đang biểu diễn môtô bay. Cái thùng gỗ như thùng nước mắn nhưng to ơi là to. Các tay xiếc cho xe chạy vòng vèo bên trong thùng, tiếng reo hò ầm ĩ, tiếng xe inh ỏi gầm rú, mùi khói xăng dầu xông lên muốn ngạt thở… ấy vậy mà gã cùng cậu em họ coi say mê, một suất chưa đủ phải chen lấn mua coi thêm xuất nữa…

  Chợ lớn những tháng ngày năm ấy thật đẹp và êm đềm. Gã thích ra chợ lớn đi dạo quanh tượng ông Thông Hiệp (tên thật là Quách Đàm) có bốn con rồng chầu phun nước! sỡ dĩ người ta kêu là Thông Hiệp vì có người tặng ổng câu đối:

Thông thương sơn hải

Hiệp quán càn khôn

 (Thông thương sơn hải thì hợp lý, có lẽ vì ông là tay thương lái cự phách, mua bán nông-lâm-hải sản cự phách, tất cả sản vật của núi rừng, biển cả hay ruộng vườn… xuất đi khắp các xứ xa gần. Câu sau thì đaị ngôn, quá lối làm gì mà đến hiệp quán càn khôn, tác giả tâng bốc quá đáng!)

 Đã ra chợ Lớn thì phải ghé qua hàng trái cây, chạy dọc mé Trần Bình. Mùi sầu riêng, xoài…thơm bể lỗ mũi, không chỉ muì trái cây mà còn mùi sình lầy cống rãnh thum thủm bốc lên, mùi rác rến úng thối…nó quyện vào nhau làm thành một cái mùi không sao tả được, dù đã ba mươi năm mà không thể quên được mùi trái cây ở mé đường Trần Bình.

 Gã và người em họ đèo nhau trên chiếc xe đạp rong ruổi quanh chợ Lớn, những khu vực sau lưng chợ Lớn như cầu Ba li Kao, những con kênh đặc quánh rác, đen ngòm; những địa danh như: lò Gà, lò Đất…rặt người Hoa, không có một mống Việt, Tiếng Tiều là dĩ nhiên. Những khu này nó giống những thị trấn nào đó bên Tàu ở thế kỷ 18… cuộc sống, lịch sử gần như dừng ở đây mặc ngoài kia xe cộ nườm nượp, phát triển thế nào thì phát. Gã thích ăn hàng, những xe bột chiên, trái cây, sương xáo… quả thật bá cháy! đặc biệt xe kem Tân lạc Viên là không thể nào quên với món kem sầu riêng. Sau ba mươi năm nhưng bây giờ nó vẫn còn đấy những xóm người Hoa vẫn như ngày nào! Dù chưa về ghé thăm nhưng qua những người thân thì những xóm ấy vẫn thế, không có gì thay đổi mấy, vẫn mãi  giống như những tiểu trấn Tàu ngày xưa. Mặt tiền bên ngoài với những: Trang Tử, Đồng Khánh, Châu Văn Liêm… vẫn là những China Town như những China Town khác trên thế gian này! cái đặc trưng tương đồng nhau: tiếng Hoa thống trị, mua bán đủ thứ, ồn ào, dơ dáy…và thức ăn thì…người Việt mê tít thò lò!  Người Hoa dù đi đâu, sống ở đâu, dù bao đời…Họ vẫn nói tiếng Tàu, viết tiếng Tàu…Họ chỉ biết có Taù của họ thôi. Họ gần như không đếm xỉa gì đến những miền đất nuôi họ, dung chứa họ. Tâm hồn họ, ngôn ngữ họ, chủng tộc họ, phong cách họ… chỉ có một chữ Tàu, cho dù họ sống ở Chợ Lớn, Paris, London, Los Angeles… thậm chí ở mặt trăng! Họ có thể là những ông trùm, những băng đảng, hay những người lao động hiền lành chấc phác…

 Chợ Lớn không phải là trái tim của Sài Gòn nhưng nó là đãy bạc, là nồi cơm của Sài Gòn. Những ngày tháng ấy, Chợ Lớn cung cấp cho SàiGòn, cho cả nước… những món hàng gia dụng cho cuộc sống hàng ngày. Ông Thông Hiệp là một tay cự phách, từ người di cư nghèo khổ mà gầy dựng nên cơ nghiệp lẫy lừng, hàng hoá nông sản xuất sang các xứ: Mã lai, Phi Luật Tân, Tân gia Ba…và cả Pháp nữa. Ngày ngay cơ nghiệp vẫn còn đấy: Nhà lồng Chợ Lớn, các dãy nhà quanh Chợ Lớn…Ông ra người thiên cổ nhưng gia sản vẫn còn đây! 

  Cứ mỗi mùa hè là gã được ngoaị dắt lên SàiGòn chơi. Gã với người em họ đèo nhau rong ruổi khắp SaìGòn- Chợ Lớn. Người em họ của gã là một tay tháo vát, chiếc xe đạp của y gắn toàn đồ xịn nên chạy nhẹ và êm lắm. Những năm ấy xe máy rất ít, chỉ có vài nhà còn giữ được, chiếc Honda Dame hay chiếc Honda 67. Nhớ có lần hai đứa đèo nhau từ Chợ Lớn lên Sài Gòn chơi. Gã sờ vào cánh cổng dinh tổng thống mà thấy xốn xang lạ lùng, một cảm giác thật không sao tả nổi! (rồi nhiều năm sau đi chơi Huế, gã laị sờ phiến đá của tường thành laị có một cảm giác cũng lạ lùng y như thế!) . Sài Gòn năm ấy còn ít người, xe cộ không bao nhiêu nên còn sạch sẽ, thơ mộng, xanh và đẹp lắm!  người ta đồn đại:” Ăn quận Năm, nằm quận Ba, hát ca quận Nhất” , quả không sai tí nào, muốn ăn ngon thì nhất định phải về Chợ Lớn. Người Hoa là vua của việc mua bán, nấu nướng mà!  mấy ông Xì Thẩu bụng phệ, cởi trần trùng trục, giắt cái khăn vào cạp quần xà lỏn, tay cầm hai cái xẻng xúc, cào lẻng xẻng trong cái chảo… mùi thức ăn thơm nức mũi, khách ngồi chờ nuốt nước miếng cái ực khi mà dĩa mì xào, hay hủ tiếu xào được mang ra!  Chợ Lớn là thế…Ba mươi năm rồi mà mùi trái cây và mì xào Chợ Lớn vẫn cứ thơm trong hốc mũi không phai.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng Thành, 2018

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.