Hôm nay,  

Miệng Đời

14/11/201900:00:00(Xem: 5823)

Hậu về ôm bà Hai nức nở thủ thỉ:

- Con khổ quá mẹ, bác sĩ nói con vô sinh!

Bà Hai vỗ về:

- Bác sĩ nói nhưng mình cứ cố gắng hết sức, chừng nào không thể được hẵng hay.

- Con đã đi bác sĩ Tây y, Đông y, cầu tự… đã làm đủ cách mọi người chỉ bảo nhưng hoàn toàn không có kết quả. Con nghĩ  chắc số phận con như thế rồi! 

Bà Hai thở dài, lặng im một lát rồi hỏi:

- Vậy  ý chồng con thế nào?

- Anh ấy rất thương và thông cảm với con. Anh ấy nói dù thế nào cũng không bỏ con. Anh ấy còn bảo có thể nhận trẻ mồ côi về làm con. Con rất cảm động với tình yêu anh ấy dành cho con, nhưng lòng con vẫn  đầy lo lắng. Mẹ biết không? Vô sinh đã là nỗi đau lớn ấy vậy mà nhiều người hết sức nhẫn tâm. Họ noí bóng gió sau lưng con:” Cây độc không trái, gái độc không con”. Con có đắc tội với ai đâu mà họ nỡ lòng làm cho vết thương lòng càng thêm đau.

Bà Hai lòng dạ cũng đau không kém gì con mình, tâm can như cào xé, gịong bà trở nên thiểu não:

- Miệng đời vốn hay đơm đặt, đưa đẩy những chuyện không hay. Họ cười cợt trên nỗi đau của người khác, biết làm sao được hả con, thôi thì mình giữ phận mình, gắng sống cho tử tế, giữ tròn phận mình thì trời Phật sẽ gia hộ.

Hậu im lặng, lòng thấy thương mẹ vô cùng, mình vô tình làm cho mẹ thêm buồn lo. Hậu gượng cười:

- Thôi mẹ đừng buồn nữa, con sẽ không sao đâu, sông có khúc người có lúc mà!

Bà Hai tiễn con ra cữa nhìn theo bóng dáng Hậu cho đến khi  khuất nơi cuối phố mới quay vào nhà. Bà gọi ông:

- Ba con Hậu đâu rồi?

Ông từ trên lầu bước xuống hỏi:

- Có chuyện gì mà bà kêu tui vậy?

- Thì chuyện con gaí của mình chứ chuyện gì!

- Con gái mình sao?

- bác sĩ noí nó vô sanh.

Ông thở dài bảo:

- Tôi cũng biết rồi, thiệt tình tui nghe hết  hai mẹ con bà tâm sự. Tui vẫn khấn nguyện cho con, vẫn hồi hướng công đức cho con và các pháp giới chúng sanh. Mình làm hết khả năng của mình thôi, vô sinh kể cũng bất hạnh thật nhưng con gái cũng còn dư phước, gặp được thằng chồng hết lòng yêu thương và tử tế biết bao. Đời mà bà , nhiều khi mất cái nọ laị được cái kia!

Hậu về đến nhà thấy Hỷ đã về từ trước bèn noí:

- Tan sở em ghé về thăm mẹ nên về trễ.

Hỷ cười noí:

- Em khoẻ không? thỉnh thoảng tranh thủ ghé thăm mẹ cho mẹ vui

- Em đã noí với mẹ chuyện vô sinh rồi,

- Thế mẹ có nói gì không?

- Mẹ buồn và an uỉ em nhiều lắm. Mẹ khuyên sống tử tế. Anh, cuối tuần này mình lên chùa lễ Phật nghe anh?

- Ừ, thì đi!

Cuối tuần chùa khá nhộn nhịp, sau thời kinh mọi người thọ trai xong lần lượt ra về, chờ vãng khách Hậu mới thưa với thầy:

- Con bị vô sinh, đã chạy chữa moị cách nhưng hoàn toàn vô vọng. Thầy ơi! Không biết kiếp trước thế nào mà kiếp này con chịu đau khổ thế này?

Thầy từ tốn noí:

- Vô sinh kể cũng buồn thật, theo lẽ đời thì cho là bất hạnh nhưng theo lý đạo thì có thể con không có ân oán gì nên kiếp này họ không đến tìm con! Theo thầy thì con cũng có thể nhận trẻ mồ côi về làm con. Xã hội này cò biết bao nhiêu phận đời hẩm hiu. Con là Phật tử thuần thành  hãy coi trẻ mồ côi cũng như con ruột thì ít ra cũng cưú vớt được một người. Ấy cũng là niềm vui của con mà cũng là phước đức của cả hai.

- Thưa thầy, vợ chồng con cũng tính như thế! Thầy biết không ? vô sinh đã là nỗi đau buồn ấy vậy mà nhiều người độc miệng cứ bảo:” Cây độc không trái, gái độc không con.”

nghe là tủi lắm. Con phải làm gì với những lời bóng gió này?

- Con chẳng cần làm gì cả, con cứ sống tốt, cứ giữ phận mình. Trời đất quỉ thần biết. Bồ tát gia hộ con. Con không biết rằng miệng đời vốn độc sao? người mình vốn hay cười cợt trên nỗi đau của người  khác, đem những khiếm khuyết của người ta gắn vào tên mà gọi như: Tám cụt,  Tư rỗ, Bảy thọt… Người mình nhẫn tâm đặt ra những câu như:” Nhứt lé nhì lùn tam hô tứ sún” hoặc như:

“Những phường ti hí mắt lươn

Trai thì trộm cướp gái buôn chồng người”

Con thấy đấy! người Nhật, Hàn, Tàu, Việt… phần nhiều mắt ti hí không lẽ ai cũng trộm cướp, làm điếm hết sao? đặc điểm về hình thức nhân chủng chẳng liên can gì đếm tư cách, phẩm chất con người! ấy vậy người mình vẫn cứ tin, vẫn cứ nói… Họ vô tình làm cho nỗi đau của những kẻ bất hạnh càng đau thêm. Họ vô tình tạo nghiệp bất thiện về miệng. Mình học Phật, tu theo Phật phải có chánh kiến, phải biết “chấn tác” những cái sai quấy và nếu có thể mình mạnh dạn phân tích cho người chung quanh mình hiểu.  Giờ quay laị việc của con, con hãy vững tin vào Tam Bảo đừng vì cái bất hạnh của mình mà sanh lòng suy thoái hay có ý nghi ngờ nghe con!

 Hậu cùng chồng đồng đứng dậy  chắp tay xá thầy:

- Chúng con cảm ơn thầy chỉ dạy, chúng con nhất định làm theo lời thầy!

Trên đường về Hậu cảm thấy lòng nhẹ nhõm hơn rất nhiều. Hậu vòng tay ôm lấy Hỷ thỏ thẻ:

- Em cảm thấy an tâm nhiều lắm, nhờ thầy an ủi, chỉ dạy. Em cũng biết ơn anh nhiều lắm, vì em vô sinh mà anh vẫn không bỏ em!

Hỷ cười ấm áp:

- Anh sẽ không cho em chạy thoát khoỉ tay anh đâu, dù em có tìm cách bỏ trốn anh cũng sẽ bắt em về , dù cho thế nào đi nữa anh cũng không bỏ em.

Hậu siết chặt vòng tay ôm Hỷ, duị mặt vào lưng Hỷ giọt lệ nóng  từ khoé mắt thấm qua làn áo Hỷ. Hỷ cảm nhận được và anh noí tiếp:

- Bây giờ mình sẽ nhận một bé mồ côi về nuôi dưỡng, sau này dư dả hơn anh muốn nhận thêm sao cho đủ một đội banh. Lúc đó em tha hồ mà chăm sóc!

Hậu đấm lưng Hỷ:

- Trời! mười một cầu thủ cộng anh nữa là thành mười hai sứ quân, chắc “ chiến tranh” trong nhà sẽ liên miên đây!

Cả hai cùng cười to trên đường về chiều lộng gió.

 

Đồng Thiện

Đồ Bàn thành, 2018 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.