Hôm nay,  

Lại Chất Độc Nowitschok!

03/09/202008:46:00(Xem: 4461)


Bài của Georg Mascolo và Holger Stark*

Người dịch: Phạm Hồng-Lam


Chính phủ Đức vừa loan tin, nhà đối lập Alexej Nawalny ở Nga bị ám hại vì chất độc Nowitschok. Cách đây hai năm, ông Sergej Sripal người Nga ở Liên Hiệp Vương Quốc (Anh) và người con gái cũng bị hai sĩ quan tình báo từ Nga sang đầu độc bằng chất này. Chất độc này có tính năng ra sao? Và tại sao thế giới phương tây nhận diện được loại độc chất này? Bài viết sau đây cho biết một vài sự kiện liên quan.



Vào một buổi chiều tối giữa thập niên 90 có một người lạ đứng trước cổng Cơ Quan Tình Báo nước Đức (BND) ở Pullach, bang Bayern. Người này tự giới thiệu là một nhà khoa học từ Nga và yêu cầu được vào cửa. Cuộc hẹn đã được chuẩn bị từ trước. Những người trong cuộc cho hay, trước đó người lạ đã cho biết là ông muốn rời bỏ Nga để về với nước Đức. Ông đã trải qua một cuộc hành trình cam go, băng qua Ukraina và Áo để tới Đức. Và giờ đây ông đang đứng ở đây, và ông hứa vợ mình sẽ mang tới cho Đức một mẫu hoá chất bí mật đang được âm thầm nói tới, và sự kiện này sẽ mang lại những hệ quả gia trọng cho chính sách an ninh.

Mẫu hoá chất mà người vợ của anh điệp viên tìm cách chuồn qua biên giới Nga sau đó không lâu, để đưa vào Đức, chỉ cân nặng vài miligram, nhưng phải vô cùng cẩn trọng khi tiếp xúc với nó. Đây là một hợp chất gồm hai thành tố, mà theo lời điệp viên kia, nó là một vũ khí hoá học gây liệt thần kinh cực độc như chưa bao giờ có.

Chất độc này được biết dưới tên Nowitschok, tiếng Nga có nghĩa là „chất mới“, một hợp chất nổi tiếng thế giới từ dạo tháng Ba vừa rồi, khi cựu điệp viên nga Sergej Skripal và con gái của ông bị đầu độc ở Salibury, Anh quốc.

Sở dĩ phương tây biết được loại vũ khí hoá học này là nhờ một điệp vụ của Đức. Helmut Kohl, Thủ Tướng nước Đức lúc đó, đã tự quyết định chia sẻ cái biết độc quyền này cho một số thành viên quan trọng trong khối Nato. Trễ nhất là cho tới lúc đó người Anh biết được các chi tiết về Nowitschok.

Những hiểu biết của Đức đã góp phần giúp Thủ Tướng nước Anh, bà Theresa May, có thể cho thế giới biết, Skripal và con gái đã bị đầu độc bởi Nowitschok, chỉ trong vòng mấy ngày sau khi sự việc xẩy ra. Nhưng những thông tin tình báo của Đức đồng thời cũng cho thấy sự khó khăn trong việc xác định thủ phạm. Là vì cũng như một sản phẩm xe hơi, tuy cùng một loại nhưng lại có nhiều kiểu khác nhau, thì Nowitschok cũng được tiếp tục chế tác thành nhiều loại, mang những tên bàn giấy như A230, A232 hay A234. Và từ những năm 1990s nhiều quốc gia đã biết được công thức của chất đó; và chẳng hạn như Hoa-kì đã hoà trộn các chất đó với liều lượng nhỏ, để cải tiến các biện pháp để phòng của mình. Còn một số nước khác, ít nhất nhờ những tiết lộ của Đức, đã nắm được công thức của loại chất độc đó.

 Việc hồi chánh của nhà khoa học nga đã đẩy thủ tướng Kohl vào một tình cảnh khó khăn: Nước Đức có được phép tìm hiểu thứ vũ khí hoá học bị thế giới lên án không, cho dù đó là một mẫu thí nghiệm? Và Đức phải đối xử với Nga ra sao về việc khám phá ra thứ vũ khí bí mật bị cấm này, trong lúc Nga vừa để cho Đức được thống nhất đất nước? Nhưng Đức đồng thời cũng cần tới phe Đồng Minh!  

Qua các trao đổi với nhiều nhân vật trong cuộc ta có thể mô tả lại diễn tiến điệp vụ vô cùng tế nhị về mặt chính trị thời đó như sau: Phủ Thủ Tướng, Bộ Quốc Phòng, Cơ Quan Tình Báo từ chối cho biết í kiến, vì sợ lộ bí mật, mà cũng vì ngại làm nóng thêm những cuộc tranh luận về Nowitschok và về chính sách của Nga hiện nay.

Đầu thập niên 90, khi khối Đông Âu đang trên đường tan rã, tình báo Đức đã có được sự cộng tác của một nhà khoa học nga vốn làm việc trong chương trình vũ khí hoá học của Nga.

Lúc đầu, nhà khoa học này còn chần chừ, nhưng sau đó đã đồng í cộng tác. Ông còn quả quyết, là mình có thể lấy được một mẫu hoá chất giết người mà mình đang nghiên cứu. Tình báo đức như vừa bị điện giật vừa bị báo động. Bị điện giật, vì mới đây họ nghe phong phanh tin đồn, là Nga đang âm thầm chế biến một loại vũ khí hoá học mới, có lẽ xuất phát từ „nhóm các chất có chứa phốt-pho“. Nhưng cụ thể đó là chất nào thì họ mù tịt. Bị báo động, là vì theo các Thoả Ước Paris nước Đức trẻ sau 1954 không được phép tái võ trang các loại vũ khí có khả năng giết người hàng loạt – đặc biệt không được đụng đến hoá chất độc, mà trước đây Đức đã sản xuất và đã sử dụng trong Thế Chiến I. Giờ đây bỗng dưng họ lại có trong tay một thứ vũ khí loại đó, dù đấy mới chỉ là một mẫu thí nghiệm.

 Vấn đề được đưa lên tới Thủ Tướng và Quốc Vụ Khanh đặc trách tình báo, ông Bernd Schmidbauer. Hai người này nghĩ ra một kế để tránh hậu quả về sau: Schmidbauer trình bày tóm tắt sự việc cho Kohl trên một mẩu giấy màu vàng, và khi đọc xong thì Kohl huỷ ngay mẩu giấy này. Như thế chẳng để lại một dấu tích gì trong hồ sơ, và về sau, nếu cần, Kohl có thể chối là mình đã chẳng được thông tin về chuyện này. 

Những người trong cuộc nhớ lại rằng, trên mẩu giấy vàng đó Schmidbauer đã cho Kohl hay về nhân vật quy chánh và mẫu hoá chất. Sau ngày xuất hiện của nhà khoa học nga, Phủ Thủ Tướng triệu tập một cuộc họp trong vòng rất nhỏ, trong đó có mặt Konrad Porzner, Giám Đốc BND, và Volker Foersch, trưởng ban đặc trách những tình báo viên từ Nga. 

Câu hỏi quan trọng nhất của cuộc họp: phải làm sao với mẫu hoá chất có trong tay? Người Đức tự mình có thể có khả năng phân chất mẫu này. Nhưng các luật gia trong Phủ Thủ Tướng cảnh báo, việc mình sở hữu mấy miligram hoá chất kia là một vi phạm Thoả Ước Paris. Hơn nữa, Đức cũng vừa chuẩn nhận thoả ước cấm chế tạo và phổ biền các loại vũ khí hoá học vào năm 1994. „Chúng ta nhất thiết không muốn tạo cho người ta có cảm tưởng, rằng mình thích thú với những thứ vũ khí hoá chất như thế“, một nhân vật có mặt lúc đó đã nói như thế.

Thủ Tướng và các cố vấn đã quyết định không khám nghiệm mẫu đó ở Đức. Họ uỷ cho BND tìm liên lạc với một nước trung lập, để giúp việc này. Và Thuỵ-điển đã bằng lòng giúp. Với những thận trọng tuyệt đối mẫu thử đã được chuyển tới Thuỵ-điển.

Kết quả đã có được sau nhiều tuần khám nghiệm. Theo đó, đây là một thứ „vũ khí hoá học lạ gồm có hai thành tố“; nó rất độc và „phe Nato chưa có biện pháp nào để chống lại nó“. Thuỵ-điển gởi công thức về cho Đức. Nowitschok được phát hiện từ ngày đó.

 Quái lạ, không hiểu sao mà người Nga đã dấu sản phẩm bí mật đó được lâu như thế. Là vì từ tháng Năm 1971 Hội Đồng Bộ Trưởng của Liên-Xô và Uỷ Ban Trung Ương đảng cộng sản đã quyết định đẩy mạnh việc phát triển một loại vũ khí hoá học mới, thuộc đời thứ tư. Chương trình nghiên cứu này mang mật danh „Foliant“, được điều hợp bởi một viện nghiên cứu nằm chìm lấp giữa khu kĩ nghệ ở ngoại ô Moskau. Năm 1973 các nhà khoa học nga cho hay, họ đã thành công liên kết được một hợp chất hữu cơ phốt-pho cực độc; hợp chất này có khả năng ngăn chặn một enzym đặc biệt của cơ thể, gây co rút cơ bắp khiến ngạt thở và dẫn tới tê liệt cơ tim. 

Với thời gian, chất này được chế biến tinh tế hơn. Trong thập niên 80 Nga đã thành công phát triển được một hợp chất gồm hai thành tố hợp pháp vốn vẫn được dùng trong nông nghiệp. Nó chỉ trở nên độc hại, khi hai thành tố đó được hoà lẫn với nhau, ngay trước khi sử dụng. Với cách đó chương trình vũ khí hoá học được họ „núp dưới chiêu bài sản xuất sản phẩm thương mại hợp pháp“, như lời của nhà khoa học có tham gia chường trình „Foliant“ Wil Mirsajanow nhiều năm sau cho biết. Theo nhân vật này, trải qua nhiều năm Nga đã đưa vào kho vũ khí hoá học của mình ít nhất hai dị bản Nowitschok. Chúng tác động mạnh hơn loại độc chất VX gấp năm tới tám lần.

Năm 1987 tổng bí thư đảng cộng sản Michail Gorbatschow công khai tuyên bố, là Liên-Xô đã chấm dứt việc chế biến vũ khí hoá học. Sau đó, trong một thoả ước chung với Hoa-kì, ông hứa sẽ bạch hoá toàn bộ kho vũ khí hoá học của Liên-Xô. Để thiên hạ tin hơn vào lời tuyên bố đó, ông cho phép một nhóm kí giả và nhà ngoại giao ngoại quốc bay tới quan sát phòng thí nghiệm vũ khí hoá học bí mật của Hồng Binh tại tỉnh nhỏ Schichany. Nhưng ông im bặt về danh xưng Nowitschok; Nga dấu tiệt sự có mặt của loại vũ khí này.

Nhà khoa học hồi chánh trên đây không những đã nhờ vợ giúp chuyển sang Âu châu một mẫu hoá chất, mà còn cho người Đức biết, là ông cũng là kẻ có tham gia vào việc phát triển hoá chất đó. Do đó mấy giọt hoá chất lỏng chết người đã biến thành một vụ chính trị có khả năng gây hệ quả toàn cầu. Thủ tướng Kohl phải làm sao đây?

Trong những năm này, Kohl đang ở trong một hoàn cảnh rất tế nhị của một quốc gia vừa mới được thống nhất. Đối với người Mĩ, ông vận động họ triệt thoái hết kho vũ khí hoá học trên đất nước mình; tháng Bảy 1990 quân đội hoa-kì cho đóng 120.000 đầu đạn vào trong những thùng hàng kín cùng 437 tấn Sarin và VX xuống tàu chuyển về Hoa-kì. Phía Liên-Xô, Kohl thoả thuận được với Gorbatschow và sau đó với Jelzin triệt thoái toàn bộ quân đội và vũ khí nguyên tử ra khỏi phần đất Đông Đức cũ.

Jelzin lên thay Gorbatschow vào mùa hè 1991. Giữa Jelzin và Kohl nẩy sinh tình thân. Jelzin giới thiệu gia đình ông với Kohl và cả hai cùng đi tắm hơi trong biển Baikal. Nhờ sự thân thiết đó sự thống nhất của hai nước Đức đã có thể diễn tiến xuôi chảy. „Đã có một không khí đầy lạc quan và một sự tin cậy vững chắc giữa hai bên“, quốc vụ khanh Schmidbauer thời đó đã cho hay như thế.

Nhưng kết quả phân chất của phòng thí nghiệm thuỵ-điển đã làm xáo trộn tình trạng hài hoà ngoại giao. Nước Nga đã không ngừng nói láo trong quá khứ, nay họ vẫn còn chối về sự hiện diện của các vũ khí hoá học. Kohl và Schmidbauer đưa ra hai quyết định: Họ lệnh cho BND thông báo sự việc tới những thành viên quan trọng nhất của Nato: Hoa-kì, Anh, Pháp, Hoà-lan và Canada. Tình báo của sáu quốc gia này lập thành một nhóm, cùng nghiên cứu và trao đổi với nhau suốt nhiều năm về Nowitschok.  Quyết định thứ hai là một tín hiệu cho Moskau. Nhân một phái đoàn của Đức lại sang Nga, người đại diện của Kohl đã kéo người của Jelzin, trong đó có vị trưởng tình báo quốc ngoại của Nga, ra một nơi và cho họ biết, rằng Đức đã biết về thứ vũ khí hoá học kia rồi. Đức chẳng đưa ra lời đe doạ hoặc yêu sách nào cả, chỉ cho họ biết, là mình đã nắm được bí mật mà thôi. Người Nga đón nhận thông tin trong im lặng. Họ hiểu cái tín hiệu của Đức: Phương tây không muốn làm lớn chuyện Nowitschok và không muốn làm bẽ mặt Jelzin, nhưng vẫn ráo riết theo dõi mọi hành vi của Nga.

Sở dĩ công luận biết được sự có mặt của Nowitschok là nhờ nhà khoa học Will Mirsajanow, người làm việc tại viện nghiên cứu hoá học hữu cơ và kĩ thuật ở Moskau; viện này cũng tham dự vào việc chế biến Nowitschow. Tháng Mười 1991 Mirsajanow công bố một luận văn trên một tờ báo ở Moskau, trong đó ông bật mí cho biết, Nga đã thành công chế biến được một hoá chất cực độc mới, nhưng ông đã không đá động gì tới danh xưng Nowitschok. Một năm sau, tháng Chín 1992, ông phổ biến một bài thứ hai, bị bắt một thời gian, sau đó được di cư sang Hoa-kì vào năm 1995. Năm 2008 ông cho xuất bản một phần công thức của hoá chất độc đó.

Cho tới nay các học giả bên ngoài vẫn chưa nắm vững được công thức chính xác của Nowitschok. Nhưng nhờ sự trở về của nhà khoa học nga trên đây và nhờ thêm những người hồi chánh sau này khi Liên-Xô tan rã, phương tây đã nắm vững từ hơn 20 năm nay các chi tiết về loại hoá chất đó.

Mirsajanow vẫn còn sống ở Hoa-kì; ông cho biết, chất đó độc đến nỗi, chỉ có cấp quốc gia mới chế biến và sử dụng được nó. Wladimir Ugljow, một chuyên viên nga khác có liên hệ với Nowitschok, cho hay, muốn di chuyển chất đó tới địa điểm khủng bố hay đầu độc, cần phải có một thùng chân không thật kín để chứa các nắm bông gòn nhỏ và bột. Ở Salisbury người ta đã quệt chất này vào nắm cửa phòng của Skripal và ông này đã vô tình đụng vào.

Vị đại sứ đương nhiệm của Nga tại London quả quyết: „Chúng tôi không chế tạo và dự trữ Nowitschok.“ Dấu hiệu cho thấy người Nga nhúng tay trong vụ này đã rõ, nhưng chứng cứ cho thấy chính họ là thủ phạm quả thật còn thiếu. Anh cho biết, loại Nowitschok được sử dụng tại Salisbury là một sản phẩm của lò thí nghiệm tại Schichany, một thành phố nhỏ của Nga, nơi mà trong thập niên 80 Gorbatschow đã cho một nhóm nhà báo và nhà ngoại giao tới quan sát. Có thể chúng ta sẽ biết rõ hơn, khi so sánh độ tinh chất giữa mẫu của BND trước đây và mẫu lấy được ở Salisbury.

Nhà khoa học nga đứng trước cổng Sở Tinh Báo BND giữa thập niên 90 trước đây là một người hành động vì lí tưởng, chứ hoàn toàn không phải vì tiền; một người trong cuộc cho biết như thế. Ông đã đưa được vợ và các con sang với mình. Vụ Salisbury chứng minh cho thấy có thể xẩy ra những gì đã tiên đoán. BND đã tạo cho ông có một căn cước mới và đã bảo vệ ông trong nhiều năm. Kể từ 1998 sự bảo vệ này được chuyển qua tay quân đội. Nhưng tới nay ông vẫn không ngừng lo cho mạng sống của mình, vì ông biết, bà mẹ Nga của ông thù dai lắm.

    

* Mascolo là trưởng nhóm liên kết nghiên cứu của tập hợp các hệ thống truyền thông tại Đức „Süddeutsche Zeitung“, NDR và WDR.  Trích „Die Zeit“ ngày 17.5.2018. Đầu đề bài nguyên là: Thông Báo Và Làm Thinh.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và công nghệ, toàn cầu hoá – vốn từng được xem là động lực chính thúc đẩy cho tăng trưởng và thịnh vượng – đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Tiến trình công nghiệp hoá và toàn cầu hoá đã đem lại nhiều thành tựu vượt bậc trong suốt thời gian dài qua, từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, đặc biệt là thông qua sự chuyên môn hoá, tự do thương mại và tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính, đại dịch toàn cầu, chiến tranh và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đã khiến mô hình toàn cầu hoá truyền thống bộc lộ nhiều tình trạng bất ổn...
Nhiều thế hệ sống ở Sài Gòn những năm của thập niên 80-90, khi con gà trống của Thương Xá Tax chưa bị bức tử, khi những hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng vẫn là nét thơ mộng của Sài Gòn, có lẽ đều quen thuộc với câu “Chương Trình Truyền Hình Đến Đây Là Hết…” Nó thường xuất hiện vào cuối các chương trình tivi tối, khi chưa phát sóng 24/24. Thời đó, mỗi ngày truyền hình chỉ phát sóng trong một số khung giờ nhất định (thường từ chiều đến khuya) nên hầu như ai cũng có tâm lý chờ đợi đến giờ ngồi trước màn ảnh nhỏ, theo dõi vài giờ giải trí. Đó cũng là chút thời gian quên đi một ngày cơ cực, bán mồ hôi cho một bữa cơm độn bo bo thời bao cấp. Nhắc nhớ chút chuyện xưa, để nói chuyện nay, đang diễn ra ở một đất nước văn minh hàng đầu, từng là niềm mơ ước của biết bao quốc gia về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận.
Trên mạng gần đây lan truyền một bức tranh chuỗi tiến hóa ngược nhại kiểu Banksy - vẽ hình ảnh tiến hóa quen thuộc từ khỉ tiến tới người, nhưng đến giữa chặng đường, một gương mặt ai cũng nhận ra quay lưng đi ngược lại về phía khỉ. Cái dáng ngoảnh đầu ấy khiến tôi chạnh lòng nghĩ đến hình ảnh nước Mỹ hôm nay. Giữa thế kỷ XXI, lẽ ra phải tiếp tục đi tới, nhưng thay vì mở rộng tự do học thuật – ngọn nguồn của sáng tạo – chúng ta lại thấy những dấu hiệu nước Mỹ thoái lui theo một quỹ đạo lạ lùng: thử nghiệm một kiểu “tiến hóa ngược”.
Từ khi Tối Cao Pháp Viện lật đổ Roe v. Wade, chúng ta đều biết câu chuyện không dừng lại ở đó. “Để tiểu bang tự quyết” chỉ là cái cớ. Và Texas, tiểu bang bảo thủ dẫn đầu, vừa chứng minh điều đó bằng một luật mới: trao cho bất kỳ ai quyền săn lùng và kiện những người dính dáng tới thuốc phá thai. Texas vốn đã có một trong những lệnh cấm khắc nghiệt nhất: phá thai bị cấm hoàn toàn, trừ vài ca y tế khẩn cấp. Không ngoại lệ cho thai dị tật chết non. Không ngoại lệ cho hiếp dâm. Không ngoại lệ cho loạn luân. Thế nên, nhiều phụ nữ Texas chỉ còn con đường tìm đến thuốc phá thai qua mạng, thường từ những nhà cung cấp ở ngoài tiểu bang. Luật mới nhắm thẳng vào cánh cửa mong manh ấy.
Suốt 250 năm, người Mỹ đồng ý rằng cai trị bởi một người duy nhất là sai lầm, rằng chính quyền liên bang vốn cồng kềnh, kém hiệu quả. Lẽ ra hai điều ấy đủ để ngăn một cá nhân cai trị bằng mệnh lệnh từ Bạch Ốc. Nhưng Trump đang làm đúng điều đó: đưa quân vào thành phố, áp thuế quan, can thiệp vào ngân hàng trung ương, chen vào quyền sở hữu công ty, gieo nỗi sợ để buộc dân chúng cúi đầu. Quyền lực bao trùm, nhưng không được lòng dân. Tỉ lệ chấp thuận của ông âm 14 điểm, chỉ nhỉnh hơn chút so với Joe Biden sau cuộc tranh luận thảm hại năm ngoái. Khi ấy chẳng ai lo ông Biden “quá mạnh”. Vậy tại sao Trump, dù bị đa số phản đối, vẫn dễ dàng thắng thế?
Có bao giờ bạn nói một điều rõ ràng như ban ngày, rồi nghe người khác nhắc lại với nghĩa hoàn toàn khác? Bạn viết xuống một hàng chữ, tin rằng ý mình còn nguyên, thế mà khi quay lại, nó biến thành điều bạn chưa từng nghĩ đến – kiểu như soi gương mà thấy bóng mình méo mó, không phải bị hiểu lầm, mà bị người ta cố ý dựng chuyện. Chữ nghĩa, rơi vào tay kẻ cố ý xuyên tạc, chẳng khác gì tấm gương vỡ. Mỗi mảnh gương phản chiếu một phần, nhưng người ta vẫn đem mảnh vỡ đó làm bằng chứng cho toàn bộ bức tranh. Một câu, một đoạn, một khẩu hiệu – xé khỏi bối cảnh trở nên lệch lạc – hóa thành thứ vũ khí đâm ngược lại chính ý nghĩa ban đầu. Câu chuyện của đạo diễn Trấn Thành gần đây là một minh họa. Anh chỉ viết đôi dòng thương tiếc chia buồn với sự ra đi của nghệ sĩ đàn bầu Phạm Đức Thành. Vậy thôi. Thế mà lập tức bị chụp mũ, bêu riếu, bị gọi “3 que,” “khát nước,” “Cali con.” Người ta diễn giải đủ kiểu, vẽ ra đủ cáo buộc: từ tội mê văn hóa Việt Nam Cộng Hòa đến tội phản quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.