Hôm nay,  

Lại Chất Độc Nowitschok!

03/09/202008:46:00(Xem: 4156)


Bài của Georg Mascolo và Holger Stark*

Người dịch: Phạm Hồng-Lam


Chính phủ Đức vừa loan tin, nhà đối lập Alexej Nawalny ở Nga bị ám hại vì chất độc Nowitschok. Cách đây hai năm, ông Sergej Sripal người Nga ở Liên Hiệp Vương Quốc (Anh) và người con gái cũng bị hai sĩ quan tình báo từ Nga sang đầu độc bằng chất này. Chất độc này có tính năng ra sao? Và tại sao thế giới phương tây nhận diện được loại độc chất này? Bài viết sau đây cho biết một vài sự kiện liên quan.



Vào một buổi chiều tối giữa thập niên 90 có một người lạ đứng trước cổng Cơ Quan Tình Báo nước Đức (BND) ở Pullach, bang Bayern. Người này tự giới thiệu là một nhà khoa học từ Nga và yêu cầu được vào cửa. Cuộc hẹn đã được chuẩn bị từ trước. Những người trong cuộc cho hay, trước đó người lạ đã cho biết là ông muốn rời bỏ Nga để về với nước Đức. Ông đã trải qua một cuộc hành trình cam go, băng qua Ukraina và Áo để tới Đức. Và giờ đây ông đang đứng ở đây, và ông hứa vợ mình sẽ mang tới cho Đức một mẫu hoá chất bí mật đang được âm thầm nói tới, và sự kiện này sẽ mang lại những hệ quả gia trọng cho chính sách an ninh.

Mẫu hoá chất mà người vợ của anh điệp viên tìm cách chuồn qua biên giới Nga sau đó không lâu, để đưa vào Đức, chỉ cân nặng vài miligram, nhưng phải vô cùng cẩn trọng khi tiếp xúc với nó. Đây là một hợp chất gồm hai thành tố, mà theo lời điệp viên kia, nó là một vũ khí hoá học gây liệt thần kinh cực độc như chưa bao giờ có.

Chất độc này được biết dưới tên Nowitschok, tiếng Nga có nghĩa là „chất mới“, một hợp chất nổi tiếng thế giới từ dạo tháng Ba vừa rồi, khi cựu điệp viên nga Sergej Skripal và con gái của ông bị đầu độc ở Salibury, Anh quốc.

Sở dĩ phương tây biết được loại vũ khí hoá học này là nhờ một điệp vụ của Đức. Helmut Kohl, Thủ Tướng nước Đức lúc đó, đã tự quyết định chia sẻ cái biết độc quyền này cho một số thành viên quan trọng trong khối Nato. Trễ nhất là cho tới lúc đó người Anh biết được các chi tiết về Nowitschok.

Những hiểu biết của Đức đã góp phần giúp Thủ Tướng nước Anh, bà Theresa May, có thể cho thế giới biết, Skripal và con gái đã bị đầu độc bởi Nowitschok, chỉ trong vòng mấy ngày sau khi sự việc xẩy ra. Nhưng những thông tin tình báo của Đức đồng thời cũng cho thấy sự khó khăn trong việc xác định thủ phạm. Là vì cũng như một sản phẩm xe hơi, tuy cùng một loại nhưng lại có nhiều kiểu khác nhau, thì Nowitschok cũng được tiếp tục chế tác thành nhiều loại, mang những tên bàn giấy như A230, A232 hay A234. Và từ những năm 1990s nhiều quốc gia đã biết được công thức của chất đó; và chẳng hạn như Hoa-kì đã hoà trộn các chất đó với liều lượng nhỏ, để cải tiến các biện pháp để phòng của mình. Còn một số nước khác, ít nhất nhờ những tiết lộ của Đức, đã nắm được công thức của loại chất độc đó.

 Việc hồi chánh của nhà khoa học nga đã đẩy thủ tướng Kohl vào một tình cảnh khó khăn: Nước Đức có được phép tìm hiểu thứ vũ khí hoá học bị thế giới lên án không, cho dù đó là một mẫu thí nghiệm? Và Đức phải đối xử với Nga ra sao về việc khám phá ra thứ vũ khí bí mật bị cấm này, trong lúc Nga vừa để cho Đức được thống nhất đất nước? Nhưng Đức đồng thời cũng cần tới phe Đồng Minh!  

Qua các trao đổi với nhiều nhân vật trong cuộc ta có thể mô tả lại diễn tiến điệp vụ vô cùng tế nhị về mặt chính trị thời đó như sau: Phủ Thủ Tướng, Bộ Quốc Phòng, Cơ Quan Tình Báo từ chối cho biết í kiến, vì sợ lộ bí mật, mà cũng vì ngại làm nóng thêm những cuộc tranh luận về Nowitschok và về chính sách của Nga hiện nay.

Đầu thập niên 90, khi khối Đông Âu đang trên đường tan rã, tình báo Đức đã có được sự cộng tác của một nhà khoa học nga vốn làm việc trong chương trình vũ khí hoá học của Nga.

Lúc đầu, nhà khoa học này còn chần chừ, nhưng sau đó đã đồng í cộng tác. Ông còn quả quyết, là mình có thể lấy được một mẫu hoá chất giết người mà mình đang nghiên cứu. Tình báo đức như vừa bị điện giật vừa bị báo động. Bị điện giật, vì mới đây họ nghe phong phanh tin đồn, là Nga đang âm thầm chế biến một loại vũ khí hoá học mới, có lẽ xuất phát từ „nhóm các chất có chứa phốt-pho“. Nhưng cụ thể đó là chất nào thì họ mù tịt. Bị báo động, là vì theo các Thoả Ước Paris nước Đức trẻ sau 1954 không được phép tái võ trang các loại vũ khí có khả năng giết người hàng loạt – đặc biệt không được đụng đến hoá chất độc, mà trước đây Đức đã sản xuất và đã sử dụng trong Thế Chiến I. Giờ đây bỗng dưng họ lại có trong tay một thứ vũ khí loại đó, dù đấy mới chỉ là một mẫu thí nghiệm.

 Vấn đề được đưa lên tới Thủ Tướng và Quốc Vụ Khanh đặc trách tình báo, ông Bernd Schmidbauer. Hai người này nghĩ ra một kế để tránh hậu quả về sau: Schmidbauer trình bày tóm tắt sự việc cho Kohl trên một mẩu giấy màu vàng, và khi đọc xong thì Kohl huỷ ngay mẩu giấy này. Như thế chẳng để lại một dấu tích gì trong hồ sơ, và về sau, nếu cần, Kohl có thể chối là mình đã chẳng được thông tin về chuyện này. 

Những người trong cuộc nhớ lại rằng, trên mẩu giấy vàng đó Schmidbauer đã cho Kohl hay về nhân vật quy chánh và mẫu hoá chất. Sau ngày xuất hiện của nhà khoa học nga, Phủ Thủ Tướng triệu tập một cuộc họp trong vòng rất nhỏ, trong đó có mặt Konrad Porzner, Giám Đốc BND, và Volker Foersch, trưởng ban đặc trách những tình báo viên từ Nga. 

Câu hỏi quan trọng nhất của cuộc họp: phải làm sao với mẫu hoá chất có trong tay? Người Đức tự mình có thể có khả năng phân chất mẫu này. Nhưng các luật gia trong Phủ Thủ Tướng cảnh báo, việc mình sở hữu mấy miligram hoá chất kia là một vi phạm Thoả Ước Paris. Hơn nữa, Đức cũng vừa chuẩn nhận thoả ước cấm chế tạo và phổ biền các loại vũ khí hoá học vào năm 1994. „Chúng ta nhất thiết không muốn tạo cho người ta có cảm tưởng, rằng mình thích thú với những thứ vũ khí hoá chất như thế“, một nhân vật có mặt lúc đó đã nói như thế.

Thủ Tướng và các cố vấn đã quyết định không khám nghiệm mẫu đó ở Đức. Họ uỷ cho BND tìm liên lạc với một nước trung lập, để giúp việc này. Và Thuỵ-điển đã bằng lòng giúp. Với những thận trọng tuyệt đối mẫu thử đã được chuyển tới Thuỵ-điển.

Kết quả đã có được sau nhiều tuần khám nghiệm. Theo đó, đây là một thứ „vũ khí hoá học lạ gồm có hai thành tố“; nó rất độc và „phe Nato chưa có biện pháp nào để chống lại nó“. Thuỵ-điển gởi công thức về cho Đức. Nowitschok được phát hiện từ ngày đó.

 Quái lạ, không hiểu sao mà người Nga đã dấu sản phẩm bí mật đó được lâu như thế. Là vì từ tháng Năm 1971 Hội Đồng Bộ Trưởng của Liên-Xô và Uỷ Ban Trung Ương đảng cộng sản đã quyết định đẩy mạnh việc phát triển một loại vũ khí hoá học mới, thuộc đời thứ tư. Chương trình nghiên cứu này mang mật danh „Foliant“, được điều hợp bởi một viện nghiên cứu nằm chìm lấp giữa khu kĩ nghệ ở ngoại ô Moskau. Năm 1973 các nhà khoa học nga cho hay, họ đã thành công liên kết được một hợp chất hữu cơ phốt-pho cực độc; hợp chất này có khả năng ngăn chặn một enzym đặc biệt của cơ thể, gây co rút cơ bắp khiến ngạt thở và dẫn tới tê liệt cơ tim. 

Với thời gian, chất này được chế biến tinh tế hơn. Trong thập niên 80 Nga đã thành công phát triển được một hợp chất gồm hai thành tố hợp pháp vốn vẫn được dùng trong nông nghiệp. Nó chỉ trở nên độc hại, khi hai thành tố đó được hoà lẫn với nhau, ngay trước khi sử dụng. Với cách đó chương trình vũ khí hoá học được họ „núp dưới chiêu bài sản xuất sản phẩm thương mại hợp pháp“, như lời của nhà khoa học có tham gia chường trình „Foliant“ Wil Mirsajanow nhiều năm sau cho biết. Theo nhân vật này, trải qua nhiều năm Nga đã đưa vào kho vũ khí hoá học của mình ít nhất hai dị bản Nowitschok. Chúng tác động mạnh hơn loại độc chất VX gấp năm tới tám lần.

Năm 1987 tổng bí thư đảng cộng sản Michail Gorbatschow công khai tuyên bố, là Liên-Xô đã chấm dứt việc chế biến vũ khí hoá học. Sau đó, trong một thoả ước chung với Hoa-kì, ông hứa sẽ bạch hoá toàn bộ kho vũ khí hoá học của Liên-Xô. Để thiên hạ tin hơn vào lời tuyên bố đó, ông cho phép một nhóm kí giả và nhà ngoại giao ngoại quốc bay tới quan sát phòng thí nghiệm vũ khí hoá học bí mật của Hồng Binh tại tỉnh nhỏ Schichany. Nhưng ông im bặt về danh xưng Nowitschok; Nga dấu tiệt sự có mặt của loại vũ khí này.

Nhà khoa học hồi chánh trên đây không những đã nhờ vợ giúp chuyển sang Âu châu một mẫu hoá chất, mà còn cho người Đức biết, là ông cũng là kẻ có tham gia vào việc phát triển hoá chất đó. Do đó mấy giọt hoá chất lỏng chết người đã biến thành một vụ chính trị có khả năng gây hệ quả toàn cầu. Thủ tướng Kohl phải làm sao đây?

Trong những năm này, Kohl đang ở trong một hoàn cảnh rất tế nhị của một quốc gia vừa mới được thống nhất. Đối với người Mĩ, ông vận động họ triệt thoái hết kho vũ khí hoá học trên đất nước mình; tháng Bảy 1990 quân đội hoa-kì cho đóng 120.000 đầu đạn vào trong những thùng hàng kín cùng 437 tấn Sarin và VX xuống tàu chuyển về Hoa-kì. Phía Liên-Xô, Kohl thoả thuận được với Gorbatschow và sau đó với Jelzin triệt thoái toàn bộ quân đội và vũ khí nguyên tử ra khỏi phần đất Đông Đức cũ.

Jelzin lên thay Gorbatschow vào mùa hè 1991. Giữa Jelzin và Kohl nẩy sinh tình thân. Jelzin giới thiệu gia đình ông với Kohl và cả hai cùng đi tắm hơi trong biển Baikal. Nhờ sự thân thiết đó sự thống nhất của hai nước Đức đã có thể diễn tiến xuôi chảy. „Đã có một không khí đầy lạc quan và một sự tin cậy vững chắc giữa hai bên“, quốc vụ khanh Schmidbauer thời đó đã cho hay như thế.

Nhưng kết quả phân chất của phòng thí nghiệm thuỵ-điển đã làm xáo trộn tình trạng hài hoà ngoại giao. Nước Nga đã không ngừng nói láo trong quá khứ, nay họ vẫn còn chối về sự hiện diện của các vũ khí hoá học. Kohl và Schmidbauer đưa ra hai quyết định: Họ lệnh cho BND thông báo sự việc tới những thành viên quan trọng nhất của Nato: Hoa-kì, Anh, Pháp, Hoà-lan và Canada. Tình báo của sáu quốc gia này lập thành một nhóm, cùng nghiên cứu và trao đổi với nhau suốt nhiều năm về Nowitschok.  Quyết định thứ hai là một tín hiệu cho Moskau. Nhân một phái đoàn của Đức lại sang Nga, người đại diện của Kohl đã kéo người của Jelzin, trong đó có vị trưởng tình báo quốc ngoại của Nga, ra một nơi và cho họ biết, rằng Đức đã biết về thứ vũ khí hoá học kia rồi. Đức chẳng đưa ra lời đe doạ hoặc yêu sách nào cả, chỉ cho họ biết, là mình đã nắm được bí mật mà thôi. Người Nga đón nhận thông tin trong im lặng. Họ hiểu cái tín hiệu của Đức: Phương tây không muốn làm lớn chuyện Nowitschok và không muốn làm bẽ mặt Jelzin, nhưng vẫn ráo riết theo dõi mọi hành vi của Nga.

Sở dĩ công luận biết được sự có mặt của Nowitschok là nhờ nhà khoa học Will Mirsajanow, người làm việc tại viện nghiên cứu hoá học hữu cơ và kĩ thuật ở Moskau; viện này cũng tham dự vào việc chế biến Nowitschow. Tháng Mười 1991 Mirsajanow công bố một luận văn trên một tờ báo ở Moskau, trong đó ông bật mí cho biết, Nga đã thành công chế biến được một hoá chất cực độc mới, nhưng ông đã không đá động gì tới danh xưng Nowitschok. Một năm sau, tháng Chín 1992, ông phổ biến một bài thứ hai, bị bắt một thời gian, sau đó được di cư sang Hoa-kì vào năm 1995. Năm 2008 ông cho xuất bản một phần công thức của hoá chất độc đó.

Cho tới nay các học giả bên ngoài vẫn chưa nắm vững được công thức chính xác của Nowitschok. Nhưng nhờ sự trở về của nhà khoa học nga trên đây và nhờ thêm những người hồi chánh sau này khi Liên-Xô tan rã, phương tây đã nắm vững từ hơn 20 năm nay các chi tiết về loại hoá chất đó.

Mirsajanow vẫn còn sống ở Hoa-kì; ông cho biết, chất đó độc đến nỗi, chỉ có cấp quốc gia mới chế biến và sử dụng được nó. Wladimir Ugljow, một chuyên viên nga khác có liên hệ với Nowitschok, cho hay, muốn di chuyển chất đó tới địa điểm khủng bố hay đầu độc, cần phải có một thùng chân không thật kín để chứa các nắm bông gòn nhỏ và bột. Ở Salisbury người ta đã quệt chất này vào nắm cửa phòng của Skripal và ông này đã vô tình đụng vào.

Vị đại sứ đương nhiệm của Nga tại London quả quyết: „Chúng tôi không chế tạo và dự trữ Nowitschok.“ Dấu hiệu cho thấy người Nga nhúng tay trong vụ này đã rõ, nhưng chứng cứ cho thấy chính họ là thủ phạm quả thật còn thiếu. Anh cho biết, loại Nowitschok được sử dụng tại Salisbury là một sản phẩm của lò thí nghiệm tại Schichany, một thành phố nhỏ của Nga, nơi mà trong thập niên 80 Gorbatschow đã cho một nhóm nhà báo và nhà ngoại giao tới quan sát. Có thể chúng ta sẽ biết rõ hơn, khi so sánh độ tinh chất giữa mẫu của BND trước đây và mẫu lấy được ở Salisbury.

Nhà khoa học nga đứng trước cổng Sở Tinh Báo BND giữa thập niên 90 trước đây là một người hành động vì lí tưởng, chứ hoàn toàn không phải vì tiền; một người trong cuộc cho biết như thế. Ông đã đưa được vợ và các con sang với mình. Vụ Salisbury chứng minh cho thấy có thể xẩy ra những gì đã tiên đoán. BND đã tạo cho ông có một căn cước mới và đã bảo vệ ông trong nhiều năm. Kể từ 1998 sự bảo vệ này được chuyển qua tay quân đội. Nhưng tới nay ông vẫn không ngừng lo cho mạng sống của mình, vì ông biết, bà mẹ Nga của ông thù dai lắm.

    

* Mascolo là trưởng nhóm liên kết nghiên cứu của tập hợp các hệ thống truyền thông tại Đức „Süddeutsche Zeitung“, NDR và WDR.  Trích „Die Zeit“ ngày 17.5.2018. Đầu đề bài nguyên là: Thông Báo Và Làm Thinh.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.