Hôm nay,  

Hoài Niệm Vu Lan

20/09/202013:50:00(Xem: 4995)
vu-lan-pghh-1
(Hình tài liệu Viêt Báo.)



Mỗi độ thu sang, lá vàng lá úa xác xao rụng rơi trong gió, như âm vang ai oán của điệu vãn than cuối cùng, đang cuốn trôi vào định luật vô thường của vũ trụ, rồi hóa kiếp về cùng cát bụi, đắm chìm trong sương khói của thời gian…

Tôi chợt nhớ mùa Vu Lan đang đến, vội cài lên ngực áo đóa hồng trắng, nghe lòng tê tái một niềm đau. Nhìn cánh hoa tang bất hạnh đã gắn liền trên ngực áo của tôi, của những người con, những chúng sanh vì nghiệp nặng phước mỏng, đã sớm vắng bóng mẹ hiền... để rồi cả một đời còn lại sẽ phải lang thang lạc lõng khắp hang cùng, ngõ hẹp, để tìm bóng dáng của tình thâm, dù vẫn biết rằng: sự hiện hữu của Tổ Tiên tôi, của ông bà tôi và cả cha mẹ tôi nữa, vốn dĩ luân lưu trong huyết thống… Chính cội nguồn thương yêu thiết tha đó vẫn luôn nhắc nhở chúng ta công lao tạo dựng nên “thân mạng” cho những người con được sanh ra trên cõi đời nầy, điều mà đã in sâu trong tâm thức của chúng ta. Đó là một ý nghĩa nhân văn sâu sắc nằm trong một truyền thống biết yêu thương và mang ơn Tổ Tiên ông bà cha mẹ của mình. Đó là ân đầu tiên trong bốn trọng ân mà  Đức Tôn Sư đã ân cần nhắc nhở chúng ta như:

“Ta sanh ra cõi đời được có hình-hài để hoạt động từ thuở bé cho đến lúc trưởng thành, đủ trí khôn ngoan, trong khoảng bao nhiêu năm trường ấy, cha mẹ ta chịu biết bao khổ nhọc; nhưng sanh ra cha mẹ là nhờ có tổ-tiên, nên khi biết ơn cha mẹ, cũng có bổn phận phải biết ơn tổ-tiên nữa.

Muốn đền ơn cha mẹ, lúc cha mẹ còn đang sanh tiền, có dạy ta những điều hay lẽ phải ta rán chăm-chỉ nghe lời, chớ nên xao-lãng làm phiền lòng cha mẹ. Nếu cha mẹ có làm điều gì lầm lẫn trái với nhân-đạo, ta rán hết sức tìm cách khuyên-lơn ngăn-cản. Chẳng thế, ta cần phải lo nuôi dưỡng báo đền, lo cho cha mẹ khỏi đói rách, khỏi-bệnh hoạn ốm đau, gây sự hòa-hảo trong đệ huynh, tạo hạnh-phúc cho gia-đình, cho cha mẹ vui lòng thỏa-mãn. Rán cầu cho cha mẹ được hưởng điều phước thọ. Lúc cha mẹ quá vãng, hãy tu cầu cho linh hồn được siêu-thăng nơi miền Phật cảnh, thoát đọa trầm-luân.

Còn đền ơn tổ-tiên, là đừng làm điều gì tồi tệ, điếm nhục tông môn, nếu tổ-tiên có làm điều gì sai lầm, gieo họa đau thương lại cho con cháu, ta phải quyết chí tu cầu và hy-sinh đời ta làm điều đạo-nghĩa, rửa nhục tổ-đường”.

Ân dầy nghĩa nặng của cha mẹ có thể kết thành những dòng thơ mật ngọt, tuyệt tác, cao vời nhất. Hạnh hiếu được coi là một đức tính cao đẹp nhất, được đề cao nhiều nhất mà bút mực không sao nói hết cái trọng ân của cha mẹ.

Chúng ta, phải hiểu ơn công lao bể trời của đấng sanh thành để chúng ta biết gần gũi yêu thương, chăm sóc ngay mẹ cha khi còn sanh tiền. Đừng chần chờ vì vô thường sẽ đến trong phút giây, đừng để hối tiếc, đừng để một ngày mai bóng tối bao trùm mà hạnh hiếu ta chưa kịp đáp đền. Đức Tôn Sư cũng thường nhắc nhở trong Sấm Thi Quyển Ba:

“Nếu ai biết chữ tu trì,
Cha mẹ còn sống vậy thời cho ăn.
Không làm để ở lung lăng,
Chưởi cha mắng mẹ lăng xăng thiếu gì.
Ở cho biết nhượng biết tùy,
Vui lòng cha mẹ vậy thời mới ngoan”.

Và hơn hai ngàn năm trước, thời Đức Phật còn tại thế, trong một lần du hành Ngài gặp một đống xương khô, Ngài liền dừng lại đảnh lễ. Ngài Anan liền hỏi Phật vì sao mà phải lễ bái đống xương khô, Đức Phật dạy rằng: “Đống xương khô này hoặc Tổ Tiên đời trước, hoặc là cha mẹ nhiều đời của ta nên ta phải chí tâm kính lễ”.

Đức Phật cũng dạy ân đức cha mẹ khó đền đáp dù các con có báo hiếu bằng cách cắt thịt da dâng cho cha mẹ lúc cha mẹ đói khát cũng như dù có đốt thân cúng dường chư Phật cũng không đáp được công ơn cha mẹ.

Ngoài việc giữ tròn chữ hiếu với cha mẹ Đức Phật cũng dạy: Vì bổn phận làm con, chúng ta cũng phải biết khuyến khích cha mẹ thực hành thiện pháp. Chúng ta cũng cần làm các việc có lợi ích cho mọi người như bố thí và luôn thể hiện để quảng bá tư tưởng hiếu đạo đến mọi người, để luôn nhớ chữ hiếu trong Đạo Phật vô cùng quan trọng. Đạo Phật cũng được gọi là Đạo Hiếu, để biết rằng: Có gì sung sướng bằng, khi chúng ta còn mang trên ngực áo cánh hoa hồng thắm. Sự hiện hữu của cha mẹ trong gia đình khác nào sự hiện hữu của thiên thần, còn cha còn mẹ là còn thiên đường của cuộc đời, còn được lẽ sống ngày mai vì: “Trên vạn nẻo đường khó khăn về bến giác cha mẹ là vì sao sáng của vũ trụ bao la để hướng dẫn đời chúng ta ở con đường thiện lành mà hạnh hiếu là hạnh đầu tiên để chúng sanh lần bước vào cõi Phật”.

vu-lan-pghh2
(Hình tài liệu Viêt Báo.)



Hiếu là gốc là bước đầu căn bản để hành xử đạo nhân, đạo làm người và lòng yêu thương kính trọng ông bà cha mẹ lẫn đồng bào dân tộc. Ai mà không làm được những điều căn bản đó thì sẽ không phải là người tốt trong xã hội được. Chúng ta đã thấm nhuần căn bản giáo lý của nhà Phật, nên chúng ta phải thông hiểu cái đạo lý nầy:“Tột cùng thiện là hiếu, tột cùng ác là bất hiếu”.


Muốn đạt được tâm Phật không gì hơn gìn tâm hiếu. Chúng ta hãy chiêm ngưỡng nét đẹp tươi thắm của một đóa hồng nhung, mùi hương nồng nàn từ đấng sanh thành đã khó nhọc một quãng đời dài lao lý mà họ đã ban tặng cho chúng ta. Chúng ta đang hạnh phúc vì trên cõi vô thường thế gian vẫn còn có cha mẹ để mà phụng dưỡng, đền đáp phần nào công lao biển trời, sung sướng vì trên ngực áo của ta luôn có cánh hồng nhung, một đóa hồng duyên nghiệp mà chúng ta đã tác tạo nhiều đời kiếp.

Bông hồng cài áo là một phong tục đẹp và cao quí mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh đề xướng, chọn hoa hồng làm biểu tượng cho lễ Vu Lan, lễ mẹ hằng năm của nhà Phật, và viết ấn phẩm “Bông Hồng Cài Áo” vào tháng 8 năm 1962 vào mùa Vu Lan với mục đích để nhắc nhở cho con cháu chúng ta nhớ tới công ơn dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, ông bà, Tổ Tiên, mặt khác cũng nhắc cho chúng ta nhớ ơn những đóng góp to lớn của những anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước. Đồng thời giúp chúng ta tiếp cận được những ý nghĩa giáo dục đầy nhân bản của văn hóa nhân dân, đó là “Uống nước phải nhớ nguồn”, nhắc nhở mỗi con người của chúng ta bài học sâu sắc về chữ hiếu thiêng liêng và trọng trách của một người con. Chính vì vậy mà người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo cũng không bao giờ quên được lời vàng ngọc của Tôn Sư trong quyển sấm thi bài Giải Thoát Cửu Huyền:


“Rán tu đắc đạo cứu Cửu Huyền,
Thoát chốn mê đồ đến cảnh Tiên.
Ngõ đáp ơn dày công sáng tạo,
Cho ta hình vóc học cơ huyền”.
Và hơn thế nữa người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo cũng nằm lòng ghi nhớ để sớm ngày ân cần tu tập, thực thi lời giáo huấn của Ngài trong Quyển Ba của Sấm Giảng Thi Văn:
“Tu cầu cứu vớt Tổ Tông,
Với cho bá tánh máu hồng bớt rơi.
Tu cầu cha mẹ thảnh thơi,
Quốc vương thủy thổ chiều mơi phản hồi”.

Lễ Vu Lan cũng được phát nguồn từ sự tích Tôn Giả Mục Kiền Liên, một trong những đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Vì thương nhớ người mẹ vắng bóng, nên Ngài đã dùng thần thông tìm khắp các cõi. Thấy mẹ đang bị đọa vào cảnh ngạ quỷ, đói khát và bị hành hạ rất là khổ sở. Ngài liền đem cơm dâng cho mẹ. Nhưng, than ôi! Cơm đưa tới miệng thì bị hóa thành lửa. Ngài rất là đau lòng, vội vàng trở về xin gặp Đức Phật và xin với Phật, một cách thức để cứu mẹ. Phật dạy rằng: “Mẹ ông vì nghiệp ác quá nặng, một mình ông không thể cứu được, ông hãy nhờ vào oai lực của các chư tăng mười phương, trong ngày rằm tháng bảy”.
Y lời dạy của Phật, Bồ Tát Mục Kiền Liên đã cứu được mẹ. Phật cũng dạy chúng sanh: “Ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng cần làm theo cách nầy” và từ đó lễ Vu Lan ra đời.

Rằm tháng bảy âm lịch cũng là ngày “Xá Tội Vong Nhân” mà nhân gian gọi nôm na là ngày cúng thí thực, nên người ta sắm lễ vật và rất nhiều thức ăn, hoa quả để cúng dường các Đại Đức, Chư Tăng, Ni để các ngài nhơn danh Tam Bảo mà cầu nguyện cho Cữu Huyền Thất Tổ, thập loại chúng sanh khỏi bị đọa ở cảnh địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh... đồng thời cũng thí thực cho những vong hồn đang đói khổ, chưa siêu thoát, không nơi nương tựa không người cúng kiến.

Trong dịp nầy hầu hết các chùa cũng như các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo khắp nơi trên thế giới, trong tinh thần từ bi, và vì muốn cứu vớt mang tha lực đến các chúng sanh trong các cõi…mặt khác cũng trang nghiêm cầu siêu cho cha mẹ tổ tiên nhiều đời, nhiều kiếp được siêu thoát.

Ngày Rằm tháng Bảy cũng còn được gọi là ngày Tự Tứ. Vì thể lòng từ bi, nên tất cả các Tăng Ni phải tu học trong ba tháng an cư kiết hạ, kể từ rằm tháng tư cho đến hết rằm tháng bảy, vì thời tiết ở Ấn Độ xưa, ba tháng nầy mưa liên tục, đất rất là ẩm ướt, các loại côn trùng bò lên đầy đường. Tăng Ni đi khất thực sẽ dẫm đạp lên côn trùng, làm chết hại những chúng sanh nhỏ bé và cũng để tự mình tu học, để thấy những sai trái của mình. Đó là việc làm rất hay và hữu ích cho việc tiến tu. Người lớn thương chỉ lỗi, người nhỏ giác ngộ nhận lỗi và sửa đổi thì mới thành người tốt. Do đó, Đức Phật rất vui, nên ngày Tự Tứ cũng được gọi là ngày Phật hoan hỷ.

Nhân mùa Vu Lan, chúng tôi xin chia sẻ về ý nghĩa, tầm quan trọng của “Chữ Hiếu” trong tinh thần hiếu đạo, nhớ ơn sanh thành trong ý nghĩa “Ân giáo dưỡng một đời nên huệ mạng, nghĩa sanh thành muôn kiếp khó đáp đền”. Tất cả chúng ta được tác thành sinh mạng trên cõi đời nầy bởi tình yêu thiêng liêng của Tổ Tiên cha mẹ, tạo nên nền văn hóa nhân bản đầy tình thương, biết thọ ơn nhau để chan hòa trong tình thương đại chúng, chính những cội rễ văn hóa nhân loài đó đã mang một phương thức đền đáp ân nghĩa sanh thành, dưỡng dục để xây dựng một lối sống cao đẹp ứng xử trong trời đất và trải nghiệm với muôn vàn các mối liên hệ nhau để tồn tại và phát triển và cũng để cùng nhau hướng tâm tu học chuyển hóa thân tâm, thoát khỏi khổ đau.

Nhân mùa báo hiếu, chúng ta hãy cùng nhau thông qua lễ hội Vu Lan để yêu thương nhau, để luôn biết ơn cha mẹ ông bà và luôn hướng về gia đình và hãy luôn nhớ lời dạy vàng ngọc của Đấng Tôn Sư, hầu thấm nhuần bốn đại trọng ân mà Ngài đã ân cần nhắc nhở cho chúng ta, cho tín đồ của Ngài, trong đó có ân đầu tiên mà chúng ta cần phải thực hành, hy sinh gắng gổ mới mong làm tròn bổn phận của người Học Phật Tu Nhân, đó là: “Ân Tổ Tiên Cha Mẹ”. Hãy cùng nhau tạo phúc lành, cùng nhau hưởng hồng ân của đất trời, để được an trú trong miền đất an lạc, Niết Bàn trong cõi trần nầy vậy.

Lê Yến Dung (Vu Lan Tháng 7 Al/2020)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.