Hôm nay,  

Lễ Phật Đản và Mùa Dịch

15/05/202110:54:00(Xem: 3458)

 


 Thế là cơn dịch Coronavirus hoành hành sang năm thứ hai, tình hình dịch bệnh ở Âu-Mỹ đã lắng xuống và nhịp đời dần trở lại bình thường. Tuy nhiên ở Lào, Thái lan, Campuchia thì lại trở nặng, đặc biệt Ấn Độ – quê hương của đức Phật thì rơi vào tồi tệ kinh khủng. Người nhiễm bệnh và người chết đều tăng đột biến, bệnh viện không còn khả năng chữa trị, Oxy hết, những lò thiêu và bãi thiêu xác đỏ lửa suốt ngày đêm. Cơn dịch này quả thật đáng sợ, cái đáng sợ hơn là những chủng biến thể mới nguy hiểm hơn và không ai có thể biết khi nào sẽ hết dịch. Các bác sĩ, nhà dịch tể học, nhà khoa học… không một ai biết và dám nói dịch sẽ chấm dứt lúc nào. 

 Mùa Phật đản năm trước, hầy như tất cả các chùa viện trong nước cũng như hải ngoại đều đóng cửa. Mùa Phật đản năm nay có lẽ sẽ làm lễ được, nhưng vẫn phải hạn chế số lượng và quy mô buổi lễ, đồng thời vẫn phải tuân thủ những biện pháp phòng tránh dịch bệnh của chính quyền địa phương. 

 Việc tổ chức lễ Phật đản với quy mô lớn hay nhỏ, đông hay ít quả thật có ảnh hưởng tích cực đến số đông dân chúng và xã hội. Riêng với những Phật tử thuần thành, chân chánh và hiểu biết chánh pháp thì việc tổ chức lễ lớn hay nhỏ không thành vấn đề. Tổ chức lễ mừng Phật đản sanh để tỏ lòng biết ơn, tôn kính và mến yêu đức Phật. Tổ chức lễ Phật đản để tưởng nhớ công hạnh vô biên của ngài, để cúng dường và cũng có ý nghĩa “ biểu diễn” làm gương cho những người chưa có niềm tin vững chắc, chưa có sự hiểu biết nhiều về Phật đạo. Tổ chức lễ Phật đản cũng là một cách đem đạo vào đời, đem Phật pháp đến với mọi người trong xã hội. Với những Phật tử hiểu biết chánh pháp thì việc biết ơn Phật, cúng dường Phật một cách thiết thực và đúng bản hoài của Thế Tôn cũng như chư Phật ba đời mười phương là học và hành theo đúng chánh pháp.

 Hơn hai mươi lăm thế kỷ trước, khi đức Phật thị hiện ở vườn Lâm tỳ Ni ( Lumbini), có thể nói đây là một sự kiện vĩ đại của loài người và chư thiên. Một vị chánh đẳng chánh giác đến với thế gian này để khai mở con đường giải thoát cho loài người, để đem ánh sáng giác ngộ phá tan tăm tối vô minh từ lịch kiếp. Thích Ca Mâu Ni là một vị Phật hiện tại, một vị Phật có nhân thân được lịch sử loài người ghi nhận. Ngoài yếu tố lịch sử ra, còn có những yếu tố tâm linh và truyền thuyết, những yếu tố ấy mang nhiều ý nghĩa rất sâu sắc. Khi ngài được sanh ra và đi bảy bước trên hoa sen, chúng ta có thể hiểu cái ý nghĩa tượng  trưng: Bảy hoa sen như là thất chúng, cũng có thể hiểu cách khác là tượng trưng cho ba thời và bốn phương. Phật có ở ba đời và khắp bốn phương hay mười phương cũng đồng một ý nghĩa. Thất chúng hay nói khác đi, rộng hơn là tất cả chúng sanh ai cũng có Phật tánh và ai cũng có thể thành Phật. Phật giống như hoa sen, hoa sen mọc trong bùn dơ nhưng vươn lên trên không để tỏa hương. Đức Phật cũng từ vũng bùn ngũ dục nhưng rồi ngài vượt qua, thoát ra, buông xuống để trở thành một người tỉnh thức, một bậc giác ngộ, một vị Phật chánh đẳng chánh giác. Đức Phật sơ sinh chỉ trời chỉ đất nói:” Trên trời dưới đất chỉ có mình ta”, Lời này, bài kệ này có nhiều dị bản nhưng chúng ta có thể hiểu căn bản là: Đức Phật là bậc tôn quý ở thế gian và xuất thế gian, chỉ có giáo pháp của đức Phật là con đường duy nhất để thoát khổ, là phương pháp đúng duy nhất để ra khỏi luân hồi, chấm dứt sanh tử. Đức Phật “ biểu diễn” cho loài người xem: Thị hiện đản sanh, xuất gia tu tập, giác ngộ khai minh, thành đẳng chánh giác, tam chuyển pháp luân, độ sanh giáo hóa, vô dư niết bàn...Sở dĩ đức Phật thị hiện như một con người, sống như một con người để rồi buông bỏ và tu tập thành đẳng chánh giác, rồi ra đi như một con người… là để chứng minh cho mọi người thấy, ai  cũng có thể thành Phật, nếu y cứ theo lời dạy của ngài. Đức Phật từng nói:” Ta là Phật đã thành, các ngươi là phật sẽ thành”. 

 Vì sao đức Phật thị hiện ở thế gian này mà không phải ở cõi nào khác? Bởi vì chỉ có con người mới có khả năng tu hành để trở thành bậc giác ngộ. Cõi trời vốn nhiểu phước báo, còn đắm say sự hưởng thụ dục lạc, dù là dục sắc giới hay vô sắc giới. Cõi địa ngục thì trường cửu thống khổ. Cõi ngạ quỷ triền miên đói khát và tối tăm. Cõi súc sanh thì mê mờ trong tham ăn, ngủ và giao phối. Cõi Atula (có thể kể riêng một cảnh giới, có thể là tính cách của những chúng sanh trong một số cõi khác) thì hung hăng loạn động...Tóm lại chỉ có cõi người, loài người mới có thể dễ dàng thọ nhận và tu học Phật pháp. Con người dễ dàng tiếp nhận Phật pháp nhưng cũng cần phải có các căn đầy đủ, tinh thần không bệnh, có tín tâm… Làm người mà mắc vào tám nạn thì cũng khó tiếp cận được Phật pháp. Làm người nhưng cũng đừng quá nghèo, vì quá nghèo “Chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi” thì tâm tư đâu nữa mà học Phật. Làm người cũng đừng quá giàu, quá giàu thì ngày tháng sống trong hoan lạc cũng chẳng có tâm tư để học Phật. Bởi thế mà nhà Phật thường nói :” Bần cùng bố thí nan, giàu sang học đạo khó” là vậy! 

 Có được thân người đã khó, nghe được pháp còn khó hơn, “ Nhơn thân nan đắc Phật pháp nan văn”, nghe mà hành theo thì “ nan trung chi nan”, học và hành theo đúng chánh pháp thì lại “ Nan quá thử nan”! Thế gian này có không ít người có biết đến Phật pháp nhưng lại hành sai lệch, hiểu phiến diện, thậm chí cố tình bày vẽ hay diễn dịch theo ý riêng. 

 Khi Bà Ma Gia phu nhơn hạ sanh thái tử, nhân loại thăng lên một tầm vóc mới. Thế gian này có một thánh nhân ra đời, một bậc giác ngộ khai phá con đường sáng. Giáo pháp của ngài sẽ độ thoát vô số người. Đức Phật sanh ra với thân phận thái tử, có thừa danh thơm tiếng tốt, sắc đẹp dục lạc, ăn uống ẩm thực, chơi bời nghỉ ngơi… nghĩa là có tất cả những thứ mà người thế gian dồn cả thân tâm để mưu cầu tranh đoạt, vậy mà ngài vứt bỏ như dép rách, như gạch bể ngói vụn. Ngài trải qua sáu năm khổ hạnh ở tuyết sơn. Ngài ngồi bốn chín ngày miên mật dưới cội cây bồ đề. Ngài đã hàng phục bao thứ ma quân sân hận, dục lạc… để rồi khi sao mai xuất hiện trên bầu trời thì thế gian chính thức có một vị Phật chánh đẳng chánh giác. Con đường trung đạo do ngài khai phá ra:” … Có hai cực đoan mà bậc xuất gia phải tránh: một là lợi dưỡng vốn hạ liệt, tục lụy, phàm phu, không thánh thiện, không lợi lạc; hai là khổ hạnh cũng không thánh thiện, không lợi lạc lại khổ đau” - kinh Chuyển Pháp Luân. Tuy lời kinh dạy các vị xuất gia nhưng hàng Phật tử tại gia vẫn có thể học và hành theo, vẫn có thể áp dụng vào trong đời sống. Phàm cái gì căng quá hay chùng quá đều chẳng thể tốt cả! 

 Đức Phật thị hiện và đem giáo pháp chỉ dạy loài người, chư thiên. Từ đó nhiều người thoát sanh tử luân hồi, lớp lớp người vượt qua khổ đau, ràng buộc mà sống đời an lạc.

 Đạo Phật ngày nay đã có mặt khắp năm châu. Người con Phật giờ đây đủ các sắc tộc màu da khác nhau, đủ các sắc thái văn hóa truyền thống khác nhau. Cái thân tứ đại tuy khác, cái tập quán văn hóa khác nhưng tánh giác thì hoàn toàn như nhau. Dù màu da nào, dù chủng tộc nào cũng đều có thể tu tập và có thể giác ngộ cả, nếu y cứ theo chánh pháp ! 

 Ngày Phật đản sanh là ngày vui, ngày thiêng liêng và trọng đại của nhân loại. Dù là với truyền thống nào, tông môn pháp phái nào, dù ở quốc độ nào… Người con Phật cũng đều hoan hỷ và thanh tịnh thân tâm để tưởng niệm đức Phật. Xu thế chung hôm nay và cũng được liên hiệp quốc công nhận, lễ Vesak là ngày lễ chung của toàn thể Phật giáo đồ nói riêng, của liên hiệp quốc nói chung. Lễ Vesak bao gồm cả ngày đản sanh, ngày thành đạo và ngày nhập niết bàn của đức Phật. Đây là ba dấu mốc quan trọng tiêu biểu trong cuộc đời thị hiện của đức Phật cũng như của đạo Phật. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng như chư Phật ba đời mười phương. Các ngài thị hiện là vì một đại sự nhân duyên:” Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến” như kinh Pháp Hoa đã dẫn.

  Hoan hỷ và cung kính ngày đản sanh của đức từ phụ lưỡng túc tôn:

 Phật đã về đây sáng ánh dương

 Vô biên trí huệ với tình thương

 Bổn sư chỉ dạy con đường đạo

 Trời người ba cõi cả mười phương


 Thị hiện nơi này một sớm mai

 Dưới cội ưu đàm nhụy mãn khai

 Khắp xứ chim ca hoa ngát hương

 Chúng con kính lễ tưởng Như Lai


 Bên cội bồ đề chánh biến tri

 Lên đường giáo hóa kể từ khi

 Vườn Nai xe pháp ba lần chuyển 

 Mở đường liễu thoát khuyến tấn đi 


 Những việc cần làm nay đã xong

 Cát tường ngài ngọa dáng thong dong 

 Hàng cây song thọ an lành nhập

 Bản hoài đức Phật thật mênh mông 


 Trăng sáng nhân gian giữa tháng tư

 Tưởng nhớ Thế Tôn đấng đại từ

 Trời, người kính ngưỡng ơn sư phụ

 Đến đi giáo hóa thị chơn như 


ĐỒNG THIỆN

Ất Lăng thành, 05/2021

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.