Hôm nay,  

24 năm: Poutine và Âu châu

01/04/202410:14:00(Xem: 3680)
Thời cuộc

DarkRussia
Hí viện Crocus City Hall, cách Kremlin 20 km, hôm 22 tháng O3/2024, đang có buổi trình diển nhạc rock, bị tấn công bằng súng và bom làm chết 143 người tham dự và nhiều người bị thương cho thấy hệ thống an ninh của Poutine bất lực. Trước khi khủng bố xảy ra, tình báo Mỹ đã thông báo nhưng Poutine không  tin, trái lại, còn cho là Mỹ kiếm chuyện khiêu khích.
    Không có gì thảm hại hơn kẻ muốn làm người mạnh, kiểm soát dân chúng không để một con ruồi xâm nhập được, lại tự phơi bày cái yếu kém thật của mình. Từ 24 năm qua, Poutine nắm chặt vận mạng nước Nga. Dựa vào vốn liếng được đào tạo làm KGB, Poutine xây dựng cho mình một tư thế cai trị tuyệt đối, tập trung quyền lực theo chiều dọc, để đem lại cho dân Nga, không phải tự do mà sự an ninh. Nhưng thật ra là an ninh cho chế độ tồn tại hơn là an ninh của dân.

Nga vẫn là mục tiêu của Hồi giáo khủng bố

Khủng bố Hồi giáo ở Khorassan (EI-K) có nhiều lý do để tấn công nhà cầm quyền ở Kremlin vì năm 2015, Nga can thiệp ở Syrie cứu bạo chúa Bachar el-Assad, yểm trợ nhà độc tài Emomali Rahmon cầm quyền từ 30 năm nay ở Tadjikistan, gây chiến tranh Tchétchènes năm 1990-2000, can thiệp ở Afghanistan suốt những  năm 1970.
    Từ lúc xâm lăng Ukraine năm 2022, Poutine liên kết với Iran, trùm Hồi giáo khủng bố và với cánh « Huynh đệ Hồi giáo », chấp nhận hy sanh mối bang giao lâu dài với Do thái, đồng thời lên án Mỹ và Âu châu âm muu với Ukraine tìm cách làm cho nhà cầm quyền ở Nga sụp đổ.
    Phải mất 3 ngày, Poutine mới thừa nhận vụ khủng bố ở Moscou hôm 22/03/24 là do Hồi giáo nhưng vẫn tìm cách giải thích có liên hệ với Ukraine để tránh cho hệ thống an ninh nga mang tiếng thất bại. Và cũng để né tránh trách nhiệm khi bác bỏ thiếu suy nghĩ những thông tin nghiêm chỉnh của tình báo Mỹ.  Poutine có tiếng tài giỏi né tránh sai lầm của mình mà cho là của người khác. Đó là điều bất hạnh cho dân Nga!
    Khủng bố Hồi giáo chỉ có thể ngăn chặn và tiêu diệt được nhờ một thế hợp tác quốc tế chặt chẽ, quả quyết. Với khủng bố Hồi giáo, Nga, Âu châu và Huê kỳ đều là một thứ kẻ thù vì tất cả đều là những « người không biết tin nhà Tiên tri » (infidèles – ngoại đạo) nên Hồi giáo phải thanh toán để được lên thiên đàng.
    Bản tánh của Poutine không dám nhìn thẳng sự thật nên việc nghĩ có thể thỏa thuận với hắn về một vấn đề gì đều khó thực hiện.

Hợp tác và căng thẳng

Vào đầu những năm 2000, ai dám nghĩ Tây phương và Nga sẽ xung  đột nhau, trở thành kẻ thù sanh tử vì chiến tranh ở Ukraine? Thuở đó, Nga hợp tác với Tây phương cùng chống khủng bố Hồi giáo. Nga đã từng chấp thuận cho Huê kỳ thiết lập căn cứ quân sự ở Trung Á để yểm trợ những cuộc hành quân của Nga ở Afghanistan. Những buổi họp thượng đỉnh thường xuyên tổ chức mỗi năm 2 kỳ giữa Liên-Âu và Nga, với cả Huê kỳ tham dự. Và Liên-Âu đã dự định ký kết hợp tác chiến lược với Nga.
    Đó là lúc Poutine thắng cử qua cuộc bầu cử được kiểm soát chặt chẽ. Liên-Âu và NATO đồng thời cũng mở rộng  qua Trung và Đông Âu. Năm 2002, Moscou vẫn đồng ý thành lập Hội đồng NATO-Nga và giữa những năm 2003 và 2005, kết thúc những cuộc thảo luận về «bốn không gian» hợp tác giữa Liên Âu-Nga, về đề nghị của Pháp và Đức: một không gian kinh tế; một không gian tự do, an ninh và công lý; một không gian về nghiên cúu, giáo dục và văn hóa; một không gian về an ninh ngoài lãnh thổ.
    Nhưng Nga từ chối dự án chánh sách láng giềng hòa thuận với nhau của Liên-Âu đưa ra. Như đề nghị thỏa thuận quản lý không gian hậu Liên-Xô, hợp tác an ninh lãnh thổ của Liên-Xô cũ và Liên-Âu.
    Năm 2006, Liên-Âu đưa ra đề nghị thảo luận hai thỏa thuận mới song song với Ukraine cũng như với Nga. Thảo luận với Nga bị chặm lại do Ba-lan và Lituanie nhưng sau đó cũng tiến hành năm 2008. Qua năm 2010, ở Hội nghị Thượng đỉnh tại Rostov, một thỏa thuận hợp tác về hiện đại hóa giữa Liên Âu-Nga được ký kết và nhờ đó, qua năm sau, 2011, Nga gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (OMC).
    Tới đây, giữa Liên-Âu và Nga, mọi chuyện vẫn còn êm đẹp. Nhưng không có nghĩa là sóng  gió chưa chuyển động.
    Năm 2005, Liên-Âu khơi chuyện về nhơn quyền với Nga thì cuộc nói chuyện đã diễn ra như giữa hai người điếc nói với nhau. Tây phương đề nghị Nga rút quân khỏi cuộc xung đột cũ từ thời Liên-Xô ở Géorgie, Moldavie vì Tây phương cho rằng trong việc này, Nga vi phạm nhơn quyền. Thế là Poutine tỏ ngay thái độ cứng rắn. Năm 2005, Poutine lấy làm hối tiếc cho rằng « Liên-xô sụp đổ là một thảm họa đía chánh quá lớn của thế kỷ XX ». Qua năm sau, 2006, Poutine bắt đầu hăm dọa Tây phương, tỏ ý muốn nhìn nhận sự độc lập của Kosovo, áp dụng luôn như cùng giải pháp cho những nơi tranh chấp có từ thời Liên-Xô sau đó đã bị đóng băng. Qua năm 2007, tại Hội nghị an ninh ở Munich, Poutine đọc một bài diễn văn với lời lẽ hăm dọa Tây phương và cả Huê kỳ. Đồng thời, Poutine bắt đầu ra tay thanh trừng nội bộ ác liệt, thanh toán những người phê phán ông ta, chống đối chế độ, kể cả bạn xưa.

Bắt đầu những xung đột

Năm 2008, Poutine chấp nhận yêu cầu của Tây phương và nhứt là của Huê kỳ, là không làm Tổng thống Nga quá 2 nhiệm kỳ, như Hiến pháp nga qui định. Nhưng có lẽ do ảnh hưởng di sản Liên-Xô, khi đã nắm được quyền bính trong tay rồi, thì muốn giữ chặt càng lâu càng tốt, Poutine tự hợp thức hóa quyền hành theo ý của mình, đồng thời thay đổi thái độ cứng rắn đối với Tây phương và Huê kỳ. Cụ thể như trong vụ Géorgie, Poutine phản đối thương lượng theo đề nghị của Sarkozy, Tổng thống Pháp. Tiếp theo, trong vụ xung đột Lybie, Poutine cũng phản đối NATO can thiệp do Hội đồng An ninh LHQ cho phép theo Nghị quyết 1973.
    Năm 2012, hiến pháp Nga được sửa đổi, Poutine tiếp tục làm Tổng thống nhiệm kỳ là 6 năm. Năm 2004, Ukraine bị khủng hoảng do cuộc « Cách mạng Cam » ở Kiev nhưng nhờ sự can thiệp phối hợp giữa TT Chirac của Pháp với Thủ tướng  Gerhard Schroeder của Đức làm cho tình hình lắng dịu. Lúc đó Huê kỳ do TT Obama lãnh đạo nên quan hệ giữa hai nước không còn căng thẳng như thời Bush thường khuyến khích những cuộc « cách mạng màu » nổi lên ở Géorgie và Ukraine và muốn đưa những nước này gia nhập vào NATO.
    Liên Âu thương lượng với Nga và cả Ukraine về một thỏa hiệp cho một vùng trao đổi tự do nhưng Tổng thống Ukraine từ chối do áp lực của Poutine phía sau, điều này dẫn tới cuộc cách mạng Maidan năm 2013 hạ bệ ông Tổng thống Ukraine thân Nga.
    Khi  Poutine chiếm vùng Donbass, quan hệ giữa Nga và Liên Âu chấm dứt. Hết những hội nghị thượng đỉnh, những thảo luận về đối tác. Những biện pháp trừng phạt, như phong tỏa về tài chánh của Liên-Âu đối với Nga bắt đầu công bố. Pháp và Đức muốn hòa giải nhưng không hiệu quả. Tây phương vừa siết mạnh thêm những biện pháp trừng phạt Poutine, vừa viện trợ ồ ạt Ukraine tuy cho tới nay, Ukraine vẫn chưa thu hồi lại được vùng đất bị Poutine chiếm.
    Hiện nay thật khó nghĩ một viễn ảnh ngưng chiến ở Ukraine khi Poutine vừa đắc cử 6 năm nữa. Và có thể còn thêm 6 năm nữa nếu hắn muốn và chưa chết. Trong lúc đó Âu châu đang vất vả lo vừa giúp Ukraine trong cuộc chiến, vừa đối phó với Poutine vì chưa biết Huê kỳ sẽ ứng xử thế nào sau bầu cử tháng 11 tới đây. Theo truyền thống trước đây, thì Cộng hoà lo đối ngoại giữ Huê kỳ là cường quốc lãnh đạo thế giới tự do, Dân chủ lo ổn định nội tình. Nhung nay, với Cộng hòa, thấy truyền thống chánh trị xưa của Huê kỳ dường như đã thay đổi. Huê kỳ sẽ ngưng hẳn giúp Ukraine, bỏ Ukraine rơi vào bàn tay đẫm máu của Poutìne chăng?
Và không phải chỉ có Ukraine mà lần lượt, ít nhứt, là các nước  trong khối cộng sản cũ, rồi mới tới Tây Âu, để Poutine thực hiện lý tưởng muôn thuở của Nga từ thời Catherine là biên giới của Nga khó xác định, không biết đâu là biên giới nơi quân đội Nga dừng chơn.

-- Nguyễn thị Cỏ May

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.