Hôm nay,  

Câu Chuyện Bầu Cử

22/11/202400:00:00(Xem: 2178)

Tổng thống Ngô Đình Diệm đang bỏ phiếu
Tổng thống Ngô Đình Diệm đang bỏ phiếu (ngày 4 tháng 3 năm 1956).


Nhân bầu cử Tổng thống Mỹ nhớ tới bầu cử ở quê nhà Việt Nam. Nhớ, như vào siêu thị nhớ ngôi chợ làng quê. Thấy đồ hộp màu mã đẹp đẽ nhớ thuở đùm thức ăn trong tàu lá chuối.

Từ trong truyền thống, nước ta có nền quân chủ đã vài nghìn năm. Vua cha già yếu truyền ngôi cho con, triều đại này suy mạt có triều vua khác anh minh thay thế. Cổ kim, chưa hề  có một cuộc bầu cử nào để dân chúng cùng nhau chọn ra một vị đứng đầu nước như thể chế dân chủ.

Năm 1945 có tuyên ngôn độc lập, Vua Bảo Đại thoái vị, chấm dứt chế độ quân chủ. Năm 1946, Việt Minh đang nắm chính quyền, có tổ chức một cuộc bầu cử gọi là chọn dân biểu - người thay mình tham dự vào việc trị nước. Chỉ là bầu tới hàng dân biểu mà thôi.

Chức danh Chủ tịch nước của Hồ Chí Minh là do Việt Minh dành được chính quyền tháng 8-1945 rồi Cụ mần Chủ tịch luôn cho tới khi mãn đời, được ướp lạnh, 1969. Hồ ngỏm, tất cả các đời chủ tịch nước về sau, đều do nội bộ Đảng đề cử, dân không có quyền bầu chọn.  

Tôi có cơ duyên, đi cùng các cuộc bầu cử, từ 1946 tới 2024, qua nhiều thời kỳ, các thể thế chính trị, tại quê nhà, cả trên xứ Mỹ, ghi lại đây chút sự đời, có vui lẫn buồn, dân chủ lẫn độc tài.
 
- Bầu phiếu toàn quốc thời Việt Minh, 1946.

Hồi này tôi lên mười.
Kháng chiến chống Pháp chưa nổ ra.
Do sự hạn chế giáo dục của người Pháp, cai trị nước ta, ít trường học, hơn chín mươi phần trăm dân chúng là mù chữ.
Mỗi huyện chỉ có một trường tiểu học. Phủ [lớn hơn huyện] có hai trường. Mỗi tỉnh có một trường trung học, chỉ vài lớp đầu cấp. Học trò các tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định phải đến trường Quốc Học [Huế] học hết bậc trung học. Việc đi lại xa xôi, đò xe rất hiếm. Mãi tới 1945, cả một xứ Trung Kỳ, giải đất dài từ Thanh Hóa tới Phan Thiết, trên nghìn cây số, chưa có một trường đại học nào.

Đi bỏ phiếu, mà cử tri không biết đọc biết viết, là một trở ngại lớn. Chính quyền mỗi địa phương liền sáng tác một bài vè. Cử tri học thuộc lòng. Tới phòng phiếu, thư ký hỏi, Bầu cho ai? Cử tri cứ đọc theo tên ứng cử viên có tên trong vè,  thư ký ghi vào phiếu bầu, xong.

 Tên các ứng cử viên có trong bài vè toàn là người của / hoặc thân với Việt Minh. Nên kết quả phiếu bầu thường là thành công 99%. Nay, non tám mươi năm đã qua kể từ 1946, tôi vẫn còn nhớ vè bầu cử. Đơn vị nửa tỉnh phía nam Quảng Nam của tôi giới thiệu ứng cử viên như thế này, ghi vài câu tiêu biểu, xem chơi:

“Chọn người tài giỏi chớ quên
Phan Thao Võ Sạ đã quen ta nhiều
Quế Sơn đồng chí Phan Diêu,
Anh Nguyễn Xuân Nhĩ đủ điều kinh luân”.

Vì quá ít người biết chữ, nên tép riu như tôi, thiếu niên học lớp ba [cours Élémentaire], trường thuộc địa thi bằng Yếu lược, vẫn được gọi tới phòng phiếu để ghi tên vào lá phiếu giúp cử tri. Một anh lớn tuổi, có bằng Primaire  [tiểu học] là chính, tôi phụ.

Thời của chúng tôi, chưa có nhiều phương tiện thay cái viết, máy đánh chữ chẳng hạn, nên học trò viết chữ đẹp lắm. Các môn tập viết, tập làm văn, viết chính tả, điều kiện để viết chữ đúng và đẹp, trước tiên là chữ Pháp, chiếm nhiều giờ học trong tuần.

Nơi bỏ phiếu là vườn nhà chủ tịch xã. Dựng một cái rạp lá, che nắng mưa. Kê bàn ghế, có trà nước. Hai thư ký ngồi chỗ cái bàn dài. Cử tri thuộc lòng bài vè, nói tên người mình muốn bầu, thư ký ghi vào phiếu. Cử tri mang tới bỏ vào thùng phiếu.

Thùng phiếu là một cái thúng tre đan có nắp đậy. Anh an ninh xã hai tay cầm cái nắp, đậy he hé một chút, chừa cái khe bỏ lá phiếu vào. Có người hỏi:

- Sao không đóng một cái thùng gỗ, khoét một cái khe trên nắp thùng, chắc ăn?

Chủ tịch xã giải thích:

- Bỏ trong cái thúng tiện hơn, ta làm chủ tình hình.

Ý của chủ tịch xã là, dở cái nắp thúng, biết ngay  số phiếu, so sánh với danh sách cử tri, xem ai chưa đi bầu, thì mình ghi thêm phiếu bầu dùm cho người ta. Còn phải thi đua với làng  xóm khác. Phải đạt 100 phần trăm số người đi bầu.  

Thùng phiếu được cột chung quanh bằng sợi dây thừng, loại sợi nhỏ. Thắt nút dây kỹ lưỡng. Niêm phong bằng cách dán một mảnh giấy đỏ có chữ ký và con dấu chủ tịch xã lên sợi dây dính liền vào nắp thúng. Chủ tịch xã, và nhân viên an ninh, sau khi tiệc tùng, liên hoan xong, đạp xe đạp chở lên huyện. Nơi đây kiểm tra, tổng kết.  

Hồi này an bình, dân chúng, cán bộ còn  hiền hòa, chưa biết nhiều trỏ xỏ lá mưu mô.

Cử tri bỏ phiếu xong ai nấy về, tắm rửa hay làm việc nhà, vài giờ sau trở ra đình làng ăn liên hoan. Ai rảnh rỗi ngồi lại hàn huyên tán dốc. Toàn là cách mạng, độc lập, đế quốc bóc lột, phong kiến hủ lậu. Đàn ông còn rất nhiều người ăn trầu, nước bả trầu đỏ hoét mồm như anh ho lao tới hồi hộc máu.

Bầu cử nghe chơi chơi vậy mà xử tử hai con heo to bự, chúng la hét om tỏi cả thôn xóm.Vì, là ngày vui. Từ thuở Hùng Vương tới nay mới có ngày nhân dân được làm chủ đất nước. Có thêm mấy chục lít rượu đế. Heo quay, heo luộc, tiết canh heo, heo giả cầy, gỏi tai heo. Chè chén ra trò. Hồi này dân chúng còn giàu có. Chưa đói cơm rạt gáo, như những năm kháng chiến cơ cực về sau.
 
- Bầu cử thời Đệ nhất Cộng Hòa [1955-1963]

Việt Nam Cộng Hòa chỉ vỏn vẹn 21 năm, từ  1954-1975, nhưng có hai thời kỳ. Đệ nhất Cộng hòa là thời Tổng thống Ngô Đình Diệm cầm quyền, [1955-1963]   

Từ cuộc bầu cử 1946 đến mãi 10 năm sau, cả nước không có cuộc nào khác. Cuối năm 1946 Pháp đổ bộ toàn diện mong tái chiếm nước ta. Chiến tranh chống Pháp bùng nổ. Pháp chiếm các thành phố, thị trấn đông dân. Mặt trận Việt Minh cố thủ các vùng làng mạc thôn quê và rừng núi. Không vùng nào có tổ chức bầu cử
  
Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Việt Nam bị chia làm hai từ vĩ tuyến 17. Miền Bắc, Cộng sản. Miền Nam, Cộng hòa.

Đây nói về Miền Nam.

Hai vị đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại,  và Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Lúc đó hai người đều ở nước ngoài. Cụ Diệm về nước [Sàigòn] ngay khi hiệp định Geneve 1954 được ký kết để lo việc nước. Bảo Đại ở lại Paris, lo việc riêng nhiều hơn việc chung.


Nhanh chóng, Thủ tướng Ngô Đình Diệm cũng cố quyền lực. Hơn năm sau, thấy rõ ràng vị trí bù nhìn của Bảo Đại là không cần thiết, Cụ Diệm truất phế Bảo Đại. Để được danh chính ngôn thuận, lòng dân là ý trời, một cuộc trưng cầu dân ý được mở ra. Đó là cuộc bầu cử đầu tiên chọn Tổng thống tại Việt Nam Cộng Hòa.
 
1956, tôi đủ tuổi bầu cử nên có đi bỏ phiếu lần này. Khác với mười năm trước, 1946, tôi có tham dự, nhưng là anh thư ký nhí.

Cuộc bầu cử 1956 đã tạo không ít lời ra tiếng vào trong dân chúng. Họ nghi ngờ cách lên ngôi của cụ Diệm. Theo đạo lý Đông phương, khi khẩu hiệu giăng đầy, “Đả đảo Bảo Đại” “Truất phế Bảo Đại” là một hình thức soán ngôi của Tiên đế, chẳng khá chi Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung một thuở. Chê bai cụ Ngô Đình Diệm, vào một thời khai phóng như thế này là rất lỗi thời, bất công, nhưng cũng là chút tì vết đối với Cụ.

Cuộc bầu cử này cũng có cái lạ, không khác chi cách vận động “thuộc vè” trước kia. Phiếu bầu được in hai loại màu. Xanh dành cho Bảo Đại. Màu đỏ là bầu cho cụ Diệm. Và, dân chúng đã được truyền miệng kỹ lưỡng “Xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì”. Cụ Diệm thắng cử.

Cuộc bầu cử 1960 cụ Diệm tái tranh cử. Không có ứng cử viện nào khác, cụ độc diễn, tự do thắng cử, [nhiệm kỳ 1960-1964].
 
- Bầu cử thời Đệ Nhị Cộng Hòa [1967-1975]

Mùa Phật Đản 1963, Phật giáo nổi dậy chống chính phủ kỳ thị tôn giáo, dân chúng chống Tổng thống họ Ngô chính sách gia đình trị, chính trường Miền Nam cực kỳ rối loạn lọan.

Tháng 11, cùng năm, các tướng lĩnh đảo chính. Lúc khuẩn bách, Tổng thống Ngô Đình Diệm cùng người em ruột là cố vấn Ngô Đình Nhu thoát khỏi Dinh Gia Long, lẫn tránh vào Nhà thờ Cha Tam, Chợ Lớn. Quân đội đưa xe thiết giáp đến vây bắt. Trên đường giải về bộ Tổng tham mưu, nơi đầu não của cuộc đảo chính, Cụ Diệm và cố vấn Nhu, bị bắn chết ngay trong lòng xe thiết giáp M.113, khi đang di chuyển trên đường Trần Hưng Đạo. Dù chống chính phủ, nhưng khi biết tin này, nhìn hình ảnh mặt mày nát nẩm bê bết máu của hai ông,  mọi người kinh hoàng, thương xót.

Các tướng lĩnh thay nhau đảo chính lẫn nhau. Năm bảy tháng một chính phủ. Tướng già tướng trẻ, tướng thân Pháp, tướng thân Mỹ, tướng vô tài bất  tướng, chọi nhau kịch liệt. Nhiều tướng rất cẩn trọng, đã mời các chính khách có uy tín như Trần văn Hương, Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát đứng ra lập nội các dân sự, nhưng đâu vào đó, vẫn bị lật đổ.

Mãi năm 1967, tình hình tạm ổn, sau một cuộc dàn xếp bầu bán, liên danh Thiệu - Kỳ đắc cử. Năm 1971, Tổng thống Thiệu tái tranh cử. Cũng như Ngô Đình Diệm trước kia, mưu mô loại tất cả các ứng viên đối lập, một mình độc diễn. Thắng cử dễ dàng.

Thời Nguyễn văn Thiệu [1967-1975] gọi là Đệ Nhị Cộng Hòa.

Miền Nam luôn xui xẻo. Hai vị tổng thống chẳng ai “ngồi ghế” suôn sẻ, cho hết nhiệm kỳ của mình. Tổng thống Diệm bị giết khi đương chức. Tổng thống Thiệu phải rời chức, để đào tẩu sang Đài Loan, một tuần trước khi Sàigòn thất thủ.

Lúc số phận Miền Nam tơ mành, người kế nhiệm Thiệu là Phó Tổng thống Trần văn Hương, một nhân sĩ Miền Nam, thanh liêm đức độ, từng giữ chức Đô trưởng Đô thành Sàigòn, Thủ tướng chính phủ. Lúc này cụ Hương đã già yếu lắm. Mái tóc trắng, lưng còng, đôi kính đen, tay chống gậy, được một người dìu lên lễ đài nhận chức Tổng thống. Mấy hôm sau, Sàigòn thất thủ.
 
- Bầu cử thời Xã hội Chủ nghĩa, sau 1975
Sau  tháng Tư 1975, không còn chức danh tổng thống mà là chủ tịch nước. Chỉ có bầu cử quốc hội, không có bầu chủ tịch nước.

Thể thức bầu cử gọi là “Đảng cử dân bầu”. Nghĩa là người dân chỉ được lựa chọn trong số người đã được đảng chọn sẵn trước, để xử dụng lá phiếu của mình.

Cách bầu phiếu này đã trường kỳ 69 năm kể từ 1946 trên đất Bắc, và đã 49 năm kể từ 1976 tại Miền Nam, cho tới tới nay, chưa hề có “Đổi mới”.

Một đơn vị cần hai dân biểu, đảng sẽ chọn một danh sách bốn người, in trên phiếu bầu hẳn hoi, được giới thiệu toàn là tài năng đức độ, cử tri theo đó chọn hai người. Đơn vị cần ba dân biểu thì trên phiếu bầu đã sẵn 5 người, cử tri chọn  ba, gạch bỏ hai.

Nếu cử tri thấy rõ những người được đề cử là không xứng đáng, ít học, có tì vết, tham lam, cũng chịu thôi. Không có cách nào khác để thực hiện ý nguyện của mình. Anh không đi bầu, kết quả bầu cử vẫn rực rỡ thành công “chăm phần chăm”

“Đảng cử dân bầu” là một loại ung bướu đành mang, nhưng nhìn dưới góc độ hài hước ta cũng thấy ra nụ cười. Nụ cười, đâu lúc nào cũng ngọt ngào.
So với cách bầu bán của người Mỹ, “Đảng cử dân bầu” là rất đơn giản, chẳng cần “tranh cãi cọ” gì nhiều.

Nói túm cái ống quần, “Đảng cử dân bầu”, là nhân đạo. Chẳng vợ chồng nào phải bỏ nhau, vì em mê Trump, anh cảm tình với Harris. Vì một người mà triệu người bỏ ăn, không chung giường, chung bàn. Bao cuộc ly tan. Anh em bè bạn bao nhiêu năm tri âm tri kỷ, nay cạch mặt nhau. Thuốc đau đầu, thuốc trợ tim, thuốc ngủ khan hiếm.

Có người thắc mắc, Vì sao bầu cử tổng thống Mỹ rắc rối như rứa, mà dân chúng trong nước bình loạn đấm đá nhau hết mình, làm như chính họ mới là người bầu tổng thống Mỹ? Dân Mỹ là phụ, đi chỗ khác chơi. Trả lời ư? Thì rằng là, thiếu / thèm cái gì mơ ước cái đó.

Có chút trớ trêu, cái có thật, được cầm lá phiếu, tự do bầu bán, nó ở  tuốt luốt bên kia bờ đại dương. Bên này quê nhà là trống hoang cái sa mạc chờ mong.

Có người đa tình, nhại thơ một nhà thơ tiền chiến để cảm thán, sống qua ngày:

“Bầu bán bên người ta ở đây,
Chơ mong phương nọ, ngóng phương này
Tương tư đôi chốn tình ngàn dặm
Vạn lý sầu lên núi tiếp mây”

Không có con cá thật thì ăn con cá gỗ. Chuyện ăn cá gỗ là câu chuyện ngậm ngùi, có thật trong truyền khẩu dân gian Việt Nam. Ăn qua hơi, ngửi theo hình. Sống mãi trong khí hậu Đảng cử dân bầu, thấy rầu máu, nay nhìn bầu cử Mỹ tha hồ tung hê. Vui thôi mà. Thà là ăn cá gỗ. Cũng là một tự do lựa chọn.  

Cung Tích Biền
Garden Grove 11- 2024. 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong vài tháng qua, người dân Mỹ, dù muốn hay không muốn, cũng đã có nhiều cơ hội để nhìn về một bức tranh mà trong đó có quá nhiều sự tương phản. Những mảnh ghép từ hai tầm nhìn, hai chiến lược, hai mục đích hoàn toàn khác biệt đã dần dần rơi xuống, để lộ ra hai con đường hoàn toàn khác biệt cho người Mỹ lựa chọn. Dù có một bức màn đã rơi xuống (như nữ hoàng Oprah Winfrey đã ví von) cho một thuyền trưởng bước ra, trao lại cho người dân sự hy vọng, lòng tin, trách nhiệm, thì sâu thẳm bên trong chúng ta vẫn muốn biết, những giá trị thực của một triều đại đã mang lại. Từ đó, niềm tin sẽ được củng cố.
Bi hài kịch “ngoại giao cây tre”, với hoạt cảnh mới nhất là “cưỡng bức đặc xá”, đã giúp chúng ta nhận ra rằng, dẫu khác nhau nước lửa, “phóng sinh” và “hiến tế” vẫn có thể hội tụ ở ý nghĩa “triều cống” khi phải chiều lòng hai cường quốc ở hai đầu mút của hai hệ tư tưởng trái ngược nhau. Để đẹp lòng bên này thì phải nhẫn tâm “hiến tế”, mà để làm hài lòng bên kia thì phải diễn tuồng “phóng sinh” để có một dáng dấp khai phóng, cởi mở. “Chiến lược ngoại giao” này, phải chăng, là một trò chơi “ăn bù thua” mà, diễn đạt bằng ngôn ngữ toán học của Game Theory, là có tổng bằng không?
Trận Điện Biên Phủ kết thúc vào hôm 7 tháng 5 năm 1954. Bẩy mươi năm đã qua nhưng dư âm chiến thắng, nghe chừng, vẫn còn âm vang khắp chốn. Tại một góc phố, ở Hà Nội, có bảng tên đường Điện Biên Phủ – cùng với đôi dòng chú thích đính kèm – ghi rõ nét tự hào và hãnh diện: “Tên địa danh thuộc tỉnh Lai Châu, nơi diễn ra trận đánh quyết liệt của quân và dân ta tiêu diệt tập đoàn cứ điểm thực dân Pháp kéo dài 55 ngày đêm”.
JD Vance đã chứng tỏ một “đẳng cấp” khác, rất “Yale Law School” so với thương gia bán kinh thánh, giày vàng, đồng hồ vàng, Donald Trump. Rõ ràng, về phong cách, JD Vance đã tỏ ra lịch sự, tự tin – điều mà khi khởi đầu, Thống đốc Walz chưa làm được. Vance đã đạt đến “đỉnh” của mục tiêu ông ta muốn: lý trí, ôn hoà, tỉnh táo hơn Donald Trump. “Đẳng cấp” này đã làm cho Thống Đốc Tim Walz, người từng thẳng thắn tự nhận “không giỏi tranh luận” phải vài lần phải trợn mắt, bối rối trong 90 phút. Cho dù hầu như trong tất cả câu hỏi, ông đã làm rất tốt trong việc phản biện lại những lời nói dối của JD Vance, đặc biệt là câu chất vất hạ gục đối thủ ở phút cuối: “Trump đã thua trong cuộc bầu cử 2020 đúng không?” JD Vance đáp lại câu hỏi này của Tim Walz bằng hàng loạt câu trả lời né tránh và phủ nhận sự thật. Và dĩ nhiên, rất “slick.” “Trump đã chuyển giao quyền lực rất ôn hoà.” Cả thế giới có thể luận bàn về sự thật trong câu trả lời này.
Phải nhìn nhận rằng chuyến đi đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Mỹ đã được giới chức ngoại giao Việt Nam thu xếp để ông gặp được nhiều lãnh đạo, xem như xã giao ra mắt để hợp tác, hỗ trợ Việt Nam trong nhiều lãnh vực trong tương lai. Bài diễn văn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc chỉ lặp lại các chính sách đối ngoại của Hà Nội, nên không được truyền thông quốc tế chú ý nhiều như các diễn văn của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, là đại diện cho những quốc gia trực tiếp liên can đến các xung đột ở Trung Đông, ở Ukraine mà có nguy cơ lan rộng ra thế giới. Ông Lâm mới lên làm chủ tịch nước kiêm tổng bí thư Đảng Cộng sản được vài tháng, sau khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng qua đời, nên ông muốn dịp đến Liên Hiệp Quốc là dịp để thể hiện vai trò lãnh đạo của mình và nhấn mạnh đến chính sách ngoại giao du dây của Hà Nội.
Sự bất mãn lan rộng với các hệ thống thuộc chủ nghĩa tư bản hiện tại đã khiến nhiều quốc gia, giàu và nghèo, tìm kiếm các mô hình kinh tế mới. Những người bảo vệ nguyên trạng tiếp tục coi Hoa Kỳ là một ngôi sao sáng, nền kinh tế của nước này vượt xa châu Âu và Nhật Bản, các thị trường tài chính của nước này vẫn chiếm ưu thế hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, công dân của nước này cũng bi quan như bất kỳ công dân nào ở phương Tây.
Sau 38 năm quyết định “đổi mới hay là chết” (1986-2924) CSVN vẫn còn là quốc gia do một đảng độc quyền lãnh đạo; không có bầu cử tự do; không cho lập đảng đối lập và không có báo chí tư nhân. Vì vậy, những khẩu hiệu “nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”, hay “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” được Đại hội lần thứ X khẳng định là những khoe khoang nhàm chán...
Việc Donald Trump được gần phân nửa người Mỹ chấp nhận và ủng hộ trong những năm gần đây đã khiến nhiều người trí thức trong xã hội Hoa Kỳ đặt câu hỏi về sự tồn tại của “human decency”, hay dịch nôm na là “sự đàng hoàng, sự tử tế, đạo đức nhân tính của con người”. Liệu xã hội ngày nay đã hạ thấp chuẩn mực “đàng hoàng”, hay có thể nào sự đàng hoàng, tử tế giờ đây không còn là một nhân tính cần thiết trong giá trị nhân bản? Dĩ nhiên trong mỗi xã hội, mỗi người có mỗi “thước đo” riêng về mức độ của “đàng hoàng”, nhưng từ ngữ tự nó phải phần nào nói lên một chuẩn mực nhất định. Theo một số tự điển tiếng Việt, chúng ta có thể đồng ý rằng: 1. Đàng hoàng là một tính từ tiếng Việt mô tả cuộc sống đầy đủ, đáp ứng được các nhu cầu chung của xã hội. Ví dụ: cuộc sống đàng hoàng, công việc đàng hoàng, nhà cửa đàng hoàng. 2. Đàng hoàng còn được dùng để chỉ những biểu hiện về tính cách mẫu mực, hay tư cách con người tử tế đáng được coi trọng.
Thư tịch cổ ghi rằng… Lịch sử trên thế giới thật sự rất hiếm người tài vừa là vua đứng đầu thiên hạ vừa là một hiền triết. Nếu văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations” thì ở phương Đông hơn mười hai thế kỷ sau có Vua Trần Nhân Tông của nước Việt. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, triều đại của Vua Trần Nhân Tông là triều đại cực thịnh nhất của sử Việt. Ông là vị vua liêm chính, nhân đức, một thi sĩ, đạo sĩ Phật giáo. Do là một vị vua đức độ, trọng dụng nhân tài, nên ông thu phục nhiều hào liệt trong dân, lòng người như một. Quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật…Về văn thơ có những người uyên bác như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Vua Trần Nhân Tông thương dân như con, xem trung hiếu làm đầu, lấy đạo nghĩa trị quốc.
Biển Đông hiện như một thùng thuốc súng và, liệu nếu xung đột bùng ra, chúng ta có phải đối phó với một quân đội Trung Quốc man rợ mà, so với quân đội Thiên hoàng Nhật trong Thế chiến thứ hai, chỉ có thể hơn chứ khó mà bằng, đừng nói chuyện thua? Như có thể thấy từ tin tức thời sự, cảnh lính Trung Quốc vác mã tấu xông lên tàu tiếp tế của Philippines chém phá trông man rợ có khác nào quân cướp biển từ tận hai, ba thế kỷ trước? [1] Rồi cảnh chúng – từ chính quy đến dân quân biển, thậm chí cả ngư dân – trấn lột, cướp phá, hành hung và bắt cóc các ngư phủ Việt Nam từ hơn ba thập niên qua cũng thế, cũng chính hiệu là nòi cướp biển.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.