Hôm nay,  

Ngã Tư Quốc Tế

23/05/202500:00:00(Xem: 1550)

nga tu

Thỉnh thoảng, tôi vẫn gặp phải một câu hỏi khó:

– Thế những tác giả ngoại quốc ông thường đọc là những ai?

Tôi lí nhí:

– Gần như chả có ai ngoài Kim Dung và lâu lâu tôi cũng có đọc Ernest Hemingway, Mario Puzo, Boris Pasternak, hay Solzhenitsyn thôi…
– Úy Trời! Sao cũ mèm hết trơn vậy, cha nội?
– Bị hồi đó, ở miền Nam, hầu hết sách của những tác giả này đều được dịch ra tiếng Việ
– Bộ không đọc được tiếng Anh, tiếng Pháp gì sao?
– Dạ, ráng thì cũng được nhưng … ngại lắm!

Nói nào ngay thì khi còn trẻ tôi cũng có ráng, với đôi chút làm dáng, khi vào cà phê Tùng với La 25ème Heure hay Of Mice and Men trên tay. Cái thời sung sức, và hơi nặng phần trang sức, này đã qua lâu lắm rồi.

Cũng từ lâu lắm rồi, tôi đã thôi mặc áo quần từ tiệm giặt ủi, thôi soi gương, thôi chải đầu, và gần như chỉ đọc những tác giả bất đồng chính kiến đang sống ở VN.

Đọc họ rất “khoẻ,” trừ Nguyễn Ngọc Tư. Nhà văn này làm tôi hay bị … mệt. Đang đọc phải bỏ ngang.

Bà hay đặt những vấn đề gây quá nhiều xúc cảm quá khiến tôi, đôi khi, cảm thấy bị chới với. Riêng bài này (“Có Còn Người Không?”) tôi đọc cho tới dòng chữ cuối vì nó quá ngắn, chưa kịp bỏ xuống thì đã tới câu kết mất rồi:

Câu hỏi đó thằng nhỏ hỏi mỗi ngày mỗi ngày mỗi ngày, khi đói khát, khi bị đánh đập cấu nhéo, khi phơi trần ra dưới nắng mưa. Khi nó nằm trên mặt đường và kêu khóc khản giọng. Nó hỏi vào đám đông lướt qua nó, hỏi ai đó dừng chân cho nó (chính xác là cho những kẻ chăn dắt nó) chút tiền lẻ. Nó hỏi những kẻ bắt nó nằm lăn lóc kêu khóc trên đường để kiếm tiền, để nhởn nhơ ăn mòn tấm thân bé nhỏ non nớt của nó.

Nhưng tôi tưởng tượng thôi, trong lúc ngồi uống một ly cà phê mặn chát. Dường như cả quán hôm đó cũng có cùng cảm giác, sau khi giở tờ báo sáng, và nhìn thấy hình ảnh của thằng bé ăn xin. Nó nhỏ đến mức chỉ biết khóc. Ở truồng và khóc. Ướt và khóc. Bị đánh đau và khóc. Chấp chới giữa dòng người ngược xuôi đông đúc như con vịt con ngơ ngác mà người ta dùng để câu nhắp cá lóc. Em bé – con mồi sống không nói gì hết, mà tôi tưởng như nó hỏi, người ơi, người ở đâu?

Tôi đã nhận được câu hỏi đó bao nhiêu lần trong đời? Không đếm được. Có đứa thậm chí còn không khóc. Nó ngủ mềm oặt, xanh rớt trên tay người đàn ông ngồi ở một góc đường. Một kiểu ngủ mụ mị vì tác dụng của thuốc. Buổi tối tôi đi qua chỗ đó và em lại hỏi bằng vẻ câm lặng im lìm. Như cái chết. Có còn người không?

Đám đông không lên tiếng. Không Lục Vân Tiên nào, đại diện công quyền nào đưa cả hai con người rách rưới về, gạn hỏi coi có thật là cha con như gã đàn ông phân trần, hay chỉ là kẻ chăn dắt với con mồi. Em bé ngủ vì thuốc ngủ hay vì sốt cao? Em cần một mái ấm hay một bệnh viện cho qua cơn đau? Bàn tay mỏng đó không quá khó để người đời nắm lấy. Nhưng dòng người lũ lượt không ai dừng lại.

Chính xác là cũng có người bước tới cho vào cái ca nhựa bạc màu chút tiền lẻ, nghĩ sau đó mình sẽ nhẹ lòng. Tôi cũng vậy, tự lừa mình. Và cái góc đường trước Trung tâm văn hóa thông tin ám ảnh tôi dai dẳng dù em bé chỉ ở lại hai đêm rồi biến mất. Cuộc ra đi gây bất an hơn cả khi xuất hiện, bởi linh cảm em lại vạ vật ở một góc đường khác, bị nhấn chìm trong giấc ngủ khác. Ngủ là một cách hỏi, người đâu mất rồi?

Cũng như những em bé ăn xin mà bất cứ ai cũng có thể gặp một đôi lần trên đất nước này, chúng gọi con người bằng nhiều cách, bằng ánh mắt thất thần, bằng vẻ ngoài trần trụi và lem luốc, bằng tiếng khóc, tiếng hát, bằng bàn tay bẩn thỉu xòe ngửa, bằng những vết thương bầm tím trên da thịt… Ai đó nghe thấy tiếng gọi đó nhưng họ bận rộn, sợ hãi, bất lực, cũng có kẻ không nghe, không cảm nhận gì hết…

Và những đứa trẻ đường phố vẫn tồn tại, như một phép thử.

Thử coi người ta bất lực, rụt rè, ngại khó bao nhiêu? Bao nhiêu người đã từng đi qua, chứng kiến những thân phận nhỏ bé khốn khổ. Dù ngoái lại, dù áy náy, dù thấy thương và bất an… nhưng chậc, mình lại phải đi rồi… Họ không làm gì mà kêu mấy ông nhà nước làm gì đi chớ…

Tôi không thể đoán được “cái góc đường trước Trung Tâm Văn Hóa Thông Tin” của Nguyễn Ngọc Tư nằm trong cái thành phố nào, ở đất nước mình. Tôi đã đành đoạn quay lưng, bỏ cái quê hương khốn khổ của mình đi biền biệt từ lâu lắm rồi. Người xưa, cảnh cũ đều đã trở thành nhạt nhoà và phai mờ hết ráo.


Tôi hiện đang ở một đất nước khác. Chỗ tôi tạm cư có tên là Silicon Valley (hay còn gọi là Thung Lũng Hoa Vàng) nơi có vài chục sắc dân cùng ở bên nhau, cùng chia sẻ một cuộc sống an bình và phú túc. Những đứa bé ăn xin “trần trụi, lem luốc “vớinhững vết thương bầm tím trên da thịt” – tất nhiên – không thể hiện hữu ở một chốn văn minh như thế.

Tuy thế, từ cái Ngã Tư Quốc Tế này (hàng ngày) tôi vẫn nhìn thấy “ánh mắt thất thần …chấp chới giữa dòng người ngược xuôi đông đúc như con vịt con ngơ ngác mà người ta dùng để câu nhắp cá lóc” của vô số trẻ thơ – qua những phương tiện truyền thông.

Từ đây, tôi cũng nhìn thấy hàng trăm người đã mang thân mình làm đuốc, với hy vọng gây được sự chú ý của nhân loại về thảm kịch bị mất quyền tự chủ và nguy cơ bị đồng hoá của dân tộc họ.

Và cũng từ cái Ngã Tư Quốc Tế này – thỉnh thoảng – tôi vẫn được xem một cái thư kêu cứu, gửi từ những trại tù của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa. Nơi còn có tên gọi khác là Trung Quốc Đại Lục, hay Trung Cộng.

Thư sau được đăng tải trên New York Times, vào ngày 11 tháng 6 năm 2013, rồi được phổ biến rộng rãi khắp nơi, kể cả những trang tiếng Việt:
 
Bức thư được viết với những dòng chữ tiếng Anh nguệch ngoạc trên một tờ giấy mỏng và người viết nói rằng ông bị giam giữ tại một trại cải tạo lao động ở thị trấn phía Đông Bắc Trung Hoa. Ông cho biết ở đó các tù nhân phải làm việc vất vả bảy ngày một tuần, 15 giờ trong ngày họ bị ám ảnh về sự giám sát ác nghiệt của bọn cai tù tàn bạo.

“Quý vị: Nếu quý vị thỉnh thoảng mua sản phẩm này, xin vui lòng chuyển thư này đến Tổ chức Nhân quyền Thế giới.

Đó là một đọan trong bức thư được nằm giữa hai ngôi mộ đá giả, nó rơi ra khi bà Julie Keith mở chiếc hộp trong phòng khách nhà bà vào tháng 10 năm ngoái. “Hàng ngàn người tù ở đây, những người đang bị nhà cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Cộng hành hạ, sẽ tri ân và nhớ đến quý vị mãi mãi.” (Đằng Sau Tiếng Khóc Kêu Cứu Từ Trại Cải Tạo Lao Động Trung Quốc” – “Behind Cry for Help From China Labor Camp”. Như Ngọc chuyển ngữ).


nga tu 2
Thư kế tiếp theo xuất hiện trên tờ Belfast Telegraph vào ngày 26 tháng 6 năm 2014. Qua ngày hôm sau trang web của Time đã có bản tin (“Another SOS Note From China Has Been Found In a Piece of Store-Bought Merchandise”) với đầy đủ những chi tiết cần thiết:

“SOS! SOS! SOS!… We are prisoners in the Xiang Nan Prison of the Hubei Province in China. Our job inside the prison is to produce fashion clothes for export. We work 15 hours per day and the food we eat wouldn’t even be given to dogs or pigs. We work as hard as oxen in the field.”

SOS! SOS! SOS!… Chúng tôi là tù nhân tại nhà tù Xiang Nan ở tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Công việc trong tù của chúng tôi là sản xuất quần áo thời trang đem xuất khẩu. Chúng tôi làm việc 15 tiếng một ngày, thực phẩm chúng tôi ăn thì đến chó và lợn cũng không thèm ăn. Chúng tôi phải làm việc nặng nhọc như trâu bò ở ngoài đồng. (Dương Long chuyển ngữ).

Những tiếng kêu cứu thảm thiết như trên, tuy được nhanh chóng phổ biến khắp mọi nơi nhưng rồi đều rơi ngay vào quên lãng, tựa như những viên sỏi nhỏ … rơi tõm xuống một cái ao bèo! Thái độ của cư dân nơi những cái Ngã Tư Quốc Tế, buồn thay, cũng (hờ hững) y như cái đám đông ở góc đường trước Trung Tâm Văn Hóa Thông Tin – gần nhà Nguyễn Ngọc Tư – thôi.

Không Lục Vân Tiên nào, đại diện công quyền nào bận tâm cả. Nhân loại (chắc) cũng có ai đó nghe thấy tiếng gọi đó nhưng họ bận rộn, sợ hãi, bất lực, cũng có kẻ không nghe, không cảm nhận gì hết… ráo!

Đã thế, ở nhiều nơi, những kẻ nhởn nhơ ăn mòn tấm thân của hàng triệu nạn nhân (khốn khổ) còn được long trọng đón tiếp nữa cơ:

RFA: Chủ tịch Trung Quốc phát biểu trước Quốc hội Việt Nam.
RFI: Luân Đôn Trải Thảm Đỏ Đón Chủ Tịch Trung Quốc.
BBC: Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tới Anh trong chuyến thăm bốn ngày mà Thủ tướng Anh David Cameron gọi là ‘kỷ nguyên vàng’ trong quan hệ hai nước.

Tôi thiếu điều muốn tự vận (luôn) vì xấu hổ về đồng bào, đồng loại, và thời đại của mình. Cái tốt sao mà nhỏ nhoi, lẻ loi, yếu đuối, cô đơn vậy. Công lý sao mà chậm chạp, nhợt nhạt vậy – hả Trời?

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
Kể từ năm 2019, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nhiều lần công khai bày tỏ mong muốn giành quyền kiểm soát Greenland, biến hòn đảo giàu tài nguyên và có vị trí chiến lược này trở thành một phần lãnh thổ của Hoa Kỳ...
Khi một chính đảng tự nhận là “đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân” nhưng lại phải bảo vệ ngày đại hội của mình bằng khí tài trấn áp bạo loạn, đó là lúc chúng ta cần nhìn thẳng vào sự rạn nứt sâu sắc giữa đảng Cộng Sản và nhân dân. Sự an ninh nghiêm ngặt này không phản ánh sức mạnh, mà thực chất là một lời thú nhận gián tiếp về sự yếu thế trong tính chính danh của đảng.
Nhắc lại Birmingham hôm nay không phải để tạc lại một pho tượng thánh thiện. King tự xem mình là một nhà hoạt động, sẵn sàng chấp nhận hiểm nguy, và kêu gọi người khác làm điều tương tự. Ông hiểu điều gì khiến xã hội chuyển động. Có những lúc, phải phơi bày cái sai trái trong ánh sáng gắt gao nhất thì lương tri mới thức tỉnh. Ngay cả Tổng thống John F. Kennedy khi ấy, nhìn tấm ảnh trên mặt báo, cũng thừa nhận: có lẽ chỉ bằng cách này, sự việc mới đi đến hồi kết.
Giữa thủ đô Washington, D.C., nơi mỗi ngày, dòng sông Potomac lặng lẽ soi bóng những lý tưởng cao đẹp của nước Mỹ, Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật John F. Kennedy (Kennedy Center) sừng sững như một biểu tượng của sự hợp nhất văn hóa và tự do nghệ thuật. Thế nhưng, vào Tháng Mười Hai năm 2025, di sản ấy đã đột ngột bị bẻ lái. Hội đồng quản trị của Kennedy Center do Donald Trump bổ nhiệm đã bỏ phiếu đổi tên thành "Trung tâm Tưởng Niệm Nghệ Thuật Biểu Diễn Donald J. Trump và John F. Kennedy.”
Tôi nghe tin ấy vào buổi sáng. Tin chưa kịp thành chữ trong đầu thì cơ thể đã vội phản ứng: tay lạnh ngắt, chân bủn rủn, tim đập dồn dập, như thể một bóng ma ký ức chôn sâu trong cơ bắp chợt bật nắp hòm ngồi dậy. Tôi phải ngồi yên hít thở thật sâu. Không nghĩ, không phân tích, nhưng rồi nhận ra trong cơn choáng váng, một phản xạ ký ức quen thuộc, rất cũ, tưởng đã bỏ lại ở một kiếp khác, trồi lên.
Các cuộc biểu tình chống chế độ thần quyền tại Iran vẫn còn đang tiếp diễn. Điểm đáng chú ý trong làn sóng biểu tình lần này là việc nhiều người dân công khai kêu gọi Reza Pahlavi — con trai của Quốc vương Shah bị lật đổ năm 1979, hiện sống lưu vong tại Hoa Kỳ — trở về Iran để nắm giữ vai trò lãnh đạo. Reza Pahlavi bất ngờ trở thành một gương mặt nổi bật trên chính trường đầy biến động khi ông tự xác định mình là đại diện của phe đối lập Iran ở hải ngoại.
Ngay khi trở lại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Donald Trump đặt thuế quan làm trung tâm trục chính kinh tế – chính trị. Ông hứa hẹn việc tăng thuế nhập khẩu sẽ đưa kỹ nghệ Mỹ hồi hương, khôi phục việc làm cho tầng lớp công nhân, buộc dân chúng ưu tiên hàng nội địa, và nhờ đó nước Mỹ sẽ lấy lại địa vị siêu cường trên cả hai mặt trận kinh tế lẫn ngoại giao. Trong các cuộc vận động quần chúng, ông thẳng thừng tuyên bố: “Thuế quan là phát minh vĩ đại nhất lịch sử loài người.” Giới chuyên gia kinh tế, trái lại, gần như nhất loạt phản đối. Các nhà kinh tế uy tín, từ phái tự do mậu dịch đến phái chủ trương điều tiết, đều chỉ rõ rằng thuế quan đẩy giá hàng nhập khẩu lên cao, kéo theo lạm phát gia tăng; làm giảm giá tr đồng lương thực tế của người lao động; tăng chi phí nguyên liệu đầu vào cho xưởng sản xuất; khiến phần lớn nền công nghiệp Hoa Kỳ rơi vào thế bất lợi trên trường quốc tế. Họ còn cảnh báo thị trường chứng khoán sẽ lao dốc, kinh tế toàn cầu có nguy cơ rơi vào vòng xoáy suy thoái mới
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.