Hôm nay,  

Văn Hóa ‘Kệ’

08/08/202500:00:00(Xem: 6860)

van hoa ke
Hình minh họa: ảnh gốc từ istockphoto.
 
Tôi có một người bạn viết lách văn nghệ. Chị cho rằng mình có chút tài nghệ, đủ để khi cần móc túi lấy ra xài. Chị không viết đều. Chỉ viết khi thích – đôi khi chị viết gửi vài tạp chí mạng, có khi chỉ viết để đó, không gửi ai. Chị sống trên căn gác nhỏ, gọi đó là "giang sơn sáng tác" của riêng mình.

Mỗi ngày chị dậy lúc gần trưa, pha ly cà phê nguội, rồi mở máy tính. Có bài chị viết ngay sau ngụm cà-phê đầu tiên – vài chục phút là xong – gửi đi ngay rồi gập máy, đi ngủ tiếp. Có bài để ba năm hôm, không sửa gì cả, gửi đi như vậy. Tôi hỏi: “Sao không đọc lại?” Chị nhún vai:

– Lúc viết là thật nhất. Sửa nhiều, mất hồn.

Tôi hỏi tiếp: Không sợ thiếu sót? Chị cười, chỉ tay lên bức thư pháp dán lệch trên tường:

“Tri túc giả phú” (Biết đủ là đủ).

Chị tin vào điều đó – nhẹ nhàng, không cố thuyết phục ai, cũng không cần người khác đồng tình. Chị viết cũng như làm việc - sao cho đủ sống, đủ tiêu. Không màng giàu sang, không mưu cầu in sách. Ai biết đến thì mừng. Ai khen thì thích. Bài được đăng thì vui. Không đăng cũng chẳng sao. – “Mình không viết hơn ai. Viết chỉ để viết. Mà nếu không ai đọc, thì thôi”, chị nói.

Lối viết của chị – và cả cách sống nữa – nhẹ nhàng, thong thả, vừa đủ để không tệ, không đủ để gọi là hay. Chị tự hào cho rằng đó là lối sống tự tại. Mọi chuyện chỉ cần không thừa, không thiếu, không gấp. Chẳng việc gì phải tới nơi tới chốn cho mệt thân. Như thể sống chỉ cần nổi trên mặt nước – không chìm là may, còn trôi về đâu thì… kệ.

Đôi khi tôi tự hỏi lối sống đó sẽ đưa chị đi đâu, có làm chị an vui. Mỗi lần đọc bài chị viết, tôi thấy – như một dòng nước không rõ nguồn – chảy nhẹ qua trang giấy, rồi trôi tuột. Mỗi khi nhớ đến chị, tôi nhớ đến cái “kệ” – không phải cái kệ sách còn rất nhiều cuốn chị “không có thì giờ” đọc, mà là cái ‘kệ” chị khiêng đặt vào mọi khía cạnh ngõ ngách trong đời: “Kệ bà nó. Chết thằng tây nào đâu chứ”, chị luôn vui vẻ nói thế.

Làm lưng chừng, sống lừng khừng

Không ít người gọi đó là ‘bí quyết’ sống. Làm cho xong việc. Nói cho có chuyện. Học cho có bằng cấp. Tài nghệ “trời cho” sẽ giúp họ che lấp những khiếm khuyết. Mà dĩ nhiên, chị bạn tôi ít khi thấy mình thiếu sót. Bài viết có người đọc, rồi lại có người ‘like’, đủ để ‘tự sướng’, “đòi hỏi gì nữa,” chị dài giọng.

Lối làm vừa đủ, lối sống lưng chừng dần trở thành một thứ triết lý ngầm: ai làm hơn thì bị cho là bon chen, ai làm kỹ thì bị bảo là cầu toàn thái quá, ai tươm tất, gọn gàng là sống hình thức “bề ngoài”, ai cầu tiến là sân si, ai đặt chuẩn mực tự động bị xếp vào hạng người “quá cao” khó hòa hợp.

Trong chiếc áo khoác mang tên “tự tại”, cái không-tới-nơi bỗng trở thành một lựa chọn sống ‘sâu sắc’.

Nhiều người biện minh: xã hội này vốn không công bằng, làm nhiều chưa chắc được gì, cố gắng dễ thành uổng phí. Làm đại khái lại là sống khôn ngoan. Có thể họ đã từng mơ, từng dốc lòng, từng lao vào đời với tin yêu rồi bị dập tắt, bị coi thường, bị làm ngơ. Cũng có thể họ chỉ không đủ sức vượt qua, nên họ thu mình lại – không hẳn vì lười, mà vì sợ bị tổn thương thêm một lần nữa. Cái kệ trở thành cái vỏ – che đậy một niềm tin đã từng rạn vỡ.

Cũng có người biện minh kiểu hay-dở, xấu-đẹp, cao-thấp tùy cách nhìn của mỗi người. Miễn là sống đúng với “chính mình”. Miễn là hạnh phúc, là bình yên trong lòng. Làm theo khả năng, sống theo bản năng – là đủ. Tự mãn với cái gọi là “chân thật với bản thân” nên không thấy nhu cầu cần vươn lên. “Trèo cao té đau”, họ thường nói.  Nhưng cái “mình là chính mình” mà họ vịn vào – đôi khi chỉ là cái cớ để xoa dịu lòng tự ái, một thứ tự tôn khoác áo tự ti. Như người cộng sản khi vào Sài Gòn sau 1975 – bất cứ thứ gì họ không có hay không “với tới”, họ nhanh chóng liệt chúng vào sản phẩm đồi trụy của Mỹ ngụy, cấm không đụng tới.

Tự nhủ những điều trên mức mặc định là không cần thiết hay không “màng tới”, người ta yên tâm mặc kệ, để lối sống dễ dãi trở thành thói quen. Điều đáng lo không chỉ là mất đi đam mê, hoài bão, mà là mất luôn cảm giác cần đi tới nơi tới chốn, cần làm công việc đủ trách nhiệm. Không dừng lại sửa một câu. Không cần rà soát lỗi. Không cảm nhận cảm xúc. Để hấp tấp trở thành nhịp sống, lâu dần, cái "làm cho xong" trở thành bình thường. Và người ta ngộ nhận sự lè phè, thờ ơ, làm biếng là biết sống, biết an vui.

Chị bạn tôi có lần than thở thế giới bây giờ nhanh quá, làm gì cũng thiếu “chất lặng”. Chị rủ tôi đi khóa thiền ba ngày. Tôi từ chối vì đúng ngày làm báo. Chị phẩy tay: – “Có gì mà ‘hệ trọng’ dữ. Để chị giúp em hôm nay, ngoáy cái xong liền”. Chị muốn tôi đi cùng, để thỉnh thoảng nếu “chán” hai chị em còn có thể lẻn ra xe ngồi... tán dóc. Một điều chị không thể hiểu, vấn đề không nằm ở thế giới, mà là ở chính bản thân, kể cả khi chị muốn lặn sâu hơn, thói quen sống trên bề mặt vẫn khiến chị lềnh bềnh.

Vượt Lên Chính Mình

“Chúng ta là kết quả của những gì mình lặp đi lặp lại. Sự xuất sắc, vì thế, không phải là hành động nhất thời, mà là sự tập luyện.”
– Aristotle.

Có người vẽ mãi vẽ hoài không xong một bức tranh. Mỗi ngày lại sửa, mỗi tuần lại thay màu sắc, đổi ánh sáng. Ba năm trôi qua, người ta tưởng ông đã bỏ ngang. Nhưng rồi bức tranh hoàn thành – là tác phẩm để đời The Last Supper của Leonardo da Vinci.

Có người viết mãi một bản nhạc, mỗi lần mỗi bôi xóa, mỗi sửa, bẻ gãy giai điệu cũ. Giai điệu trong đầu luôn chạy đè lên giai điệu đã viết xuống. Ông viết, xóa, viết, xóa, viết lại. Không phải từ cảm hứng, mà từ sự vật lộn với trí óc. Bản giao hưởng số 5 của Beethoven ra đời – một trong những tác phẩm vĩ đại nhất lịch sử – là kết quả của sự không ngừng thử, không ngừng sai, không ngừng bắt đầu lại.
Trong lần làm việc thâu đĩa nhạc “Gội Đầu-Bay” của Trần Dạ Từ, tôi có dịp làm việc với một vài ca sĩ, từ những giọng hát mới đến những ca sĩ thượng thặng trong dòng âm nhạc Việt. Khi tất cả mọi người khác đã hài lòng với những bài hát đã thâu của mình, Khánh Ly vẫn tiếp tục ra vào phòng thâu, hát lại, làm lại, hát lại, làm lại nữa. Cuối cùng khi bài hát đã được thâu ‘hoàn chỉnh’, Cô lại nói: ‘Các anh chị xin tiếp tục nghe lại, còn gì cần sửa thì sẽ sửa, phải sửa.’ Tôi vẫn nghe nhiều người nói Khánh Ly có giọng hát trời phú, riêng tôi hiểu để đạt đến vị trí của mình, Cô không dựa vào tài năng trời phú, mà vào sự nghiêm chỉnh, siêng năng, lương tâm nghề nghiệp, tôn trọng thính giả, và lòng tự trọng - luôn đặt cho chính mình tiêu chuẩn cao nhất, hoàn mỹ nhất.

Trong tòa soạn Việt Báo có một người luôn được mọi người gọi đùa là "Ông Từ giữ chùa" – không phải vì ngày nào Ông cũng đến sớm, về trễ, hiện diện bất kể giờ nào; cũng không vì Ông kiên trì, tỉ mỉ, không bỏ qua một chi tiết nào dù nhỏ nhất, mà vì Ông không bao giờ ngưng sửa "sản phẩm cuối cùng". Báo lên khuôn rồi, Ông vẫn còn tiếp tục chỉnh sửa. Có khi đứng chờ báo in ra ở nhà in, đọc lại thấy còn có thể sửa một câu, ông nằng nặc đòi bỏ tiền túi ra in lại. Hỏi vì sao phải "khổ" thế – đâu ai thấy khác biệt? Ông trả lời: "Tôi thấy." Ai làm việc với ông đều nhớ mãi bài học về sự nghiêm cẩn trong từng việc nhỏ, nhất là đối với bản thân, vượt lên chính mình, luôn làm hết sức có thể. Mọi người tuy càm ràm, nhưng ai nấy đều hiểu nhờ những nguyên tắc không kệ, không thỏa hiệp, tờ Việt Báo luôn ở cấp bậc chuyên nghiệp, và cái nghề này vẫn còn giữ được một chuẩn mực đúng phẩm giá.

Tự mãn khoác áo tự tại

Khi dễ dãi với chính mình, người ta dần dễ dãi với mọi thứ xung quanh.

Một người nói năng lủng củng vẫn được khen là “dễ thương”. Một bài nói chuyện không chuẩn bị trước, thiếu đầu đuôi, vẫn được cho là “có tâm”. Một tổng thống phát ngôn sai ngữ pháp, lời lẽ ngây ngô thô thiển, vừa thiếu chữ vừa tự cao tự đại – vẫn được tung hô là “nói thật”. Từ việc cho qua những lỗi căn bản, người ta dần bỏ qua luôn cả điều quan trọng hơn: sự trung thực, sự tử tế, sự sâu sắc. Và khi dễ dãi đã thành thói quen, không còn ai nhận ra đó là dễ dãi nữa.

“Tuân tử khuyến học” – không có công mài sắc, sao có ngày nên kim? Không đủ trí tuệ căn bản để tự soi xét, người ta dễ lầm giữa sơ sài và giản dị, giữa tùy tiện và tự nhiên. Và khi cái dở không còn bị nhận ra là dở, nó trở thành thước đo mới – rồi lan rộng, rồi bám chặt như một nếp sống.

Dân gian gọi đó là “ếch ngồi đáy giếng” – thấy trời chỉ nhỏ bằng miệng giếng, và tưởng rằng thế giới bao trọn trong đó. Miệng giếng càng hẹp, sự tự mãn càng lớn.

Trong xã hội hiện nay, lắm người viện dẫn triết lý “biết đủ” để sống an nhiên. Nhưng nếu không biết rõ “đủ” là gì, không phân biệt được đâu là giới hạn, đâu là khả năng, đâu là cái cớ để dừng lại – thì cái gọi là “biết đủ” ấy thật ra chỉ là một kiểu tự mãn ngọt ngào. Khi đó, sự tự tại không còn là thanh thản – mà là tự xoa dịu; không phải là bình an – mà là né tránh.

Và “sống vừa đủ” trở thành cái bẫy trói buột khả năng con người.

Bề Mặt và Chiều Sâu

Sống trong thời đại thông tin, con người ngày càng sống trên bề mặt.

Đọc tin thì chỉ đọc tựa, quá lắm là đọc bản AI tóm tắt. Du lịch thì nhét vào thật nhiều danh lam thắng cảnh chỉ đủ giờ để chụp hình. Học thì lướt video, ghi chú vội vài dòng. Làm việc chỉ vừa đủ để khỏi bị xếp nhắc. Mọi thứ đều chỉ “đủ dùng”, “đủ biết”, “đủ quen”, “đủ vui”. Cái “đủ” ấy – là cái đủ qua loa – đủ để tạo thành những phiên bản đại khái của cuộc đời.

Và người ta sống giữa trăm nghìn thứ biết, chuyện gì cũng biết, nhưng hiếm khi biết rõ điều gì. Thay vì nhận ra rằng mình chỉ đang nỗi trên bề mặt biển thông tin – người ta viện cớ không đủ thời gian, hoặc không còn thói quen – để dừng lại và tìm hiểu. Phản ứng nhanh dần thay thế cho suy nghĩ kỹ. Một bài viết hay chỉ cần đánh giá qua số lượt ‘like’, một câu chuyện thật bị bỏ qua vì không đủ tít giật gân. Những điều phức tạp bị lướt qua, còn cái dễ hiểu – dù vô nghĩa – lại lan truyền nhanh chóng. Cái cạn thắng cái sâu. Cái rỗng át cái đầy.

Cái “kệ” giờ đây không chỉ nằm trong căn gác nhỏ của một người viết, mà len vào khắp nơi: từ phòng họp hành chính đến giảng đường đại học, từ phòng treo tranh đến chương trình nhạc hội, từ bản tin truyền hình cho đến lời ăn tiếng nói thường ngày. Và mỗi khi một người quyết định “kệ”, thế giới xung quanh lại mất đi một phần độ sâu.

Điều nguy hiểm là khi sống quá lâu trên bề mặt, con người không chỉ đánh mất khả năng chịu đựng chiều sâu, mà còn quên mất rằng mình từng có nó. Không phải vì không còn cảm xúc, mà vì thiếu kiên nhẫn để lắng lại. Chiều sâu đòi hỏi thời gian, nỗ lực, và cả sự can đảm để đối diện với chính mình. Trong khi bề mặt thì dễ hơn – nhanh, tiện, và không đau.

Kệ hay không kệ

Không ai bắt buộc chúng ta phải theo đuổi sự xuất sắc. Nhưng mỗi lần buông tay quá sớm, mỗi lần gật đầu với cái-không-tới mà không còn cảm thấy áy náy lương tâm, mỗi khi hài lòng với cái “tạm đủ” để phô trương chút tài mọn, là mỗi lần chúng ta dọn đường cho cái "kệ" trở thành mặc định.

Có lẽ chị bạn tôi – người viết trên căn gác – cũng chẳng muốn trở thành nhà văn nhà báo gì. Không phải vì chị không có tài, mà vì chị đã quen với sự “tự tại” – như một vỏ bọc cho những giới hạn chị không muốn vượt qua. Cho đến khi nào chị viết không vì thói quen cầm bút, mà vì một điều buộc mình phải đào sâu, phải gắng sức, phải thành thật đến tận cùng – thì lúc đó, ý tưởng mới chắp cánh đưa chị vượt khỏi cái ngưỡng giới hạn tự mãn với ‘chính mình’.

Stephen King viết: “Complacency—that’s what kills you.” Không phải thất bại, không phải bị từ chối, mà chính sự tự bằng lòng với cái-chưa-tới của bản thân – mới âm thầm giết chết tri thức con người.

Nina HB Lê

Ý kiến bạn đọc
09/08/202507:47:37
Khách
Bài viết hay. Sâu sắc. Đọc thích ghê!
Nina nên viết nhiều thêm!
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.