Hôm nay,  

Nước Mỹ và đàn cừu

27/03/202600:00:00(Xem: 604)

nuoc-my-va-dan-cuu
Bài học rút ra từ hai câu chuyện này là: 1. Niềm tin khi bị lạm dụng sẽ biến thành hoài nghi, 2. Khi khả năng hoài nghi không còn, người ta sẽ mất luôn khả năng tự bảo vệ mình. Hình ảnh nước Mỹ năm 2026 cũng trong tình trạng này, một xã hội đứng giữa hai câu chuyện về sói: vừa mệt mỏi vì bị hù dọa, vừa quá dễ tin lời kẻ trà trộn xin giữ hộ đàn cừu của mình. 
 
Kho tàng ngụ ngôn Aesop có hàng trăm câu chuyện, trong đó có hai hai câu chuyện sau đây đáng suy ngẫm trong tình hình hiện nay của nước Mỹ. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch.

Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.

Bài học rút ra từ hai câu chuyện này là: 1. Niềm tin khi bị lạm dụng sẽ biến thành hoài nghi, 2. Khi khả năng hoài nghi không còn, người ta sẽ mất luôn khả năng tự bảo vệ mình. Hình ảnh nước Mỹ năm 2026 cũng trong tình trạng này, một xã hội đứng giữa hai câu chuyện về sói: vừa mệt mỏi vì bị hù dọa, vừa quá dễ tin lời kẻ trà trộn xin giữ hộ đàn cừu của mình.

Trong xã hội hiện nay, biểu hiện của trạng thái vừa đa nghi vừa cả tin ấy không khó nhận ra. Một mặt, không ít người Mỹ xem vắc-xin như một thứ “thí nghiệm trên dân chúng”, dù các mũi chủng ngừa căn bản đã được chứng minh an toàn và hữu hiệu suốt nhiều thập niên.

Mặt khác, chính những người này lại yên tâm đưa vào người đủ loại thuốc tăng năng lực, dược phẩm bổ sung, “liệu pháp thải độc” không ghi rõ xuất xứ nguyên liệu, thiếu chứng minh khoa học. Người ta dè chừng những dòng tên hóa chất lắt nhắt dán trên nhãn thực phẩm để bảo vệ người tiêu dùng, nhưng làm lơ những quyết định cho phép doanh nghiệp xả thêm khói bụi, hóa chất vào không khí và nguồn nước – những thứ gây ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe gia đình và cộng đồng.

Ở lãnh vực tài chánh cũng vậy. Một số người không còn tin ngân hàng, quỹ đầu tư, hay hệ thống tài chính truyền thống. Các cuộc khủng hoảng tài chánh và các vụ bê bối của thị trường Wall Street đã khiến họ mất đi niềm tin, từ đó họ xem mọi thứ mang nhãn “chính thống” đều là trò dối trá. Quay lưng với những cơ chế chính thống có kiểm tra và giám sát, người ta đem tiền tiết kiệm cả đời đặt vào những dự án tiền mã hóa bấp bênh, các quỹ đầu tư mạo hiểm, những trò cá cược giả danh “tự do tài chính”, các tài khoản ẩn danh điều hành bởi những “chuyên gia tự xưng” trên mạng – những người giỏi biến lòng tham và nỗi sợ của người khác thành nghề kiếm sống.

Trong chính trị và đời sống công cộng, tình hình không khả quan hơn. Đa số người Mỹ không còn tin vào những cơ quan chuyên môn từng được xem là chỗ dựa uy tín: cơ quan kiểm soát dịch bệnh, viện nghiên cứu khoa học, trường đại học, báo chí chuyên nghiệp... Trong mắt họ, tất cả giờ chỉ là một “nhóm tinh hoa“ có “âm mưu lớn”, từ đó bất cứ điều gì từ nhóm này đưa ra đều mặc nhiên bị xem là đáng nghi ngờ. Ngược lại, những nhân vật sống nhờ nỗi sợ ấy – người dẫn podcast bán “thuốc giải độc”, những ‘youtuber’ rao bán tin giả, doanh nhân tung đồng tiền vàng mã nhân danh “cứu tương lai tài chính”, chính trị gia dựng sự nghiệp trên hoài nghi vắc-xin – lại được xem là những kẻ “dám nói thật”. Hơn ai hết, những kẻ trục lợi này hiểu rõ lợi ích của việc càng làm khán giả hoang mang, càng dễ kiếm tiền và củng cố quyền lực.

Trong bối cảnh này chính trị nước Mỹ ngày nay, các quyết định liên quan đến vắc-xin là ví dụ tiêu biểu. Khi người đứng đầu ngành y tế liên bang can thiệp để trang web của cơ quan đặc trách vắc-xin rút lại câu xác định “vắc-xin không gây tự kỷ”, thay bằng những dòng chữ lơ lửng, đó không chỉ là chuyện chỉnh sửa câu chữ, mà việc này gửi đi một tín hiệu: ngay cả những kết luận đã được củng cố bằng hàng loạt nghiên cứu lớn cũng có thể bị đặt lại dấu hỏi, nhất là khi điều đó ăn khớp với nỗi nghi ngờ sẵn có trong công chúng. Cùng lúc, bệnh sởi – từng được tuyên bố xóa sổ ở Mỹ – lại bùng phát ở nhiều tiểu bang, buộc những gương mặt như Mehmet Oz, vốn lâu nay nổi tiếng nhờ các tiết mục gieo lo âu trên truyền hình, phải quay lại màn ảnh với một giọng điệu khác hẳn: nài nỉ người dân “hãy đưa con đi tiêm chủng, chúng ta đã có sẵn vắc-xin”.


Hình ảnh một người từng góp phần bôi xóa ranh giới giữa khoa học và giải trí, nay lại đứng ra vá lại chiếc bình niềm tin chủng ngừa đã nứt vỡ – là một trong những cảnh tượng ngang trái của nước Mỹ hiện tại. Nó cho thấy: khi xã hội lạm dụng hoài nghi với những nguồn thông tin đáng tin cậy, thì đến lúc cần khôi phục lòng tin, ngay cả những nhân vật có thế lực cũng không còn đủ uy tín để thuyết phục nữa.

Đây không phải là chuyện ít thấy. Nhiều nhà nghiên cứu đã thử gọi tên trạng thái tâm lý – chính trị này là một kiểu “chủ nghĩa âm mưu mới”, nơi xã hội bị tẩu hỏa nhập ma với vô số cáo buộc vô căn cứ đến mức người ta không còn phân biệt được chuyện gì giả, chuyện gì thật, điều gì đúng, điều gì sai. Điểm đáng chú ý là những thuyết âm mưu mới ấy hiếm khi đưa ra kế hoạch thay thế hay vẽ ra mô hình nào tốt hơn. Chúng chỉ cần phá thối niềm tin của mọi người nhằm để lại một khoảng trống để dễ dàng thao túng. Cái “thay thế” thực sự chiếm chỗ, ngoài đời, là dược/thực phẩm chức năng không rõ công dụng, là súng ống và đồ ăn “ngày tận thế” chất đầy nhà, là đồng tiền kỹ thuật số đổi lấy tiền thật, là mất khả năng hiểu chuyện thực hư, đổi lại cái cảm giác ngây ngất tưởng rằng “mình hiểu bệnh tật và chính trị hơn bọn chuyên gia”.

Hannah Arendt, khi phân tích các phong trào toàn trị đã đề cập đến “hỗn hợp kỳ lạ giữa cả tin và hoài nghi” xuất hiện ở mọi tầng lớp. Những người trong lưới này vừa đủ cả tin để nuốt hết những huyền thoại được tô vẽ, vừa đủ hoài nghi để bác bỏ mọi bằng chứng ngược lại. Với kẻ giăng lưới, chỉ cần đủ lạnh lùng để sử dụng chính sự cả tin đó như một công cụ. Nước Mỹ hôm nay, trên nhiều mặt, đang vận hành trong chính thứ hỗn hợp tâm lý mà Arendt từng mô tả: người dân vừa tin quá nhiều vào những kẻ nói điều mình muốn nghe, vừa nghi quá mức mọi nguồn thông tin không khớp với thế giới quan của họ.

Trong một môi trường vừa nhẹ dạ vừa đa nghi như vậy, những phong trào như MAGA có quá nhiều thuận lợi. Từ nhiều năm nay, Donald Trump liên tục lặp lại những câu chuyện sai sự thật về “bầu cử bị đánh cắp”, “phiếu qua thư là gian lận”, “máy kiểm phiếu bị thao túng”, bất chấp kiểm phiếu lại, phán quyết của tòa và các báo cáo chính thức đều không tìm thấy chứng cứ như ông nói. Phần lớn lãnh đạo Đảng Cộng hòa không những không bác bỏ mà còn lặp lại, hoặc né tránh đối mặt với những lời nói dối đó, khiến chúng dần trở thành một thứ “chân lý phe mình” trong mắt nhiều cử tri.

Khi báo chí, tòa án, cơ quan bầu cử bị gán nhãn “fake news”, “kẻ thù nhân dân”, còn các kênh truyền thông và tài khoản chuyên gieo thuyết âm mưu lại được xem như nguồn tin “dám nói thật”, việc phân biệt đâu là sự kiện, đâu là hư cấu trở nên gần như bất khả. Những người ủng hộ Trump cho rằng chỉ có ông mới dám “nói thẳng nói thật”, bất chấp cách ông công kích người nhập cư, báo chí, đối thủ chính trị đầy mâu thuẫn và sai sự thật.

Dĩ nhiên, cánh tả Mỹ cũng không miễn nhiễm với thuyết âm mưu. Ở phe nào cũng có những người thích một lời giải thích đơn giản cho một thế giới phức tạp, chưa kể đổ lỗi cho người khác luôn dễ dàng hơn chấp nhận sự việc khó nuốt. Tự kỷ thì tại vắc-xin, bệnh tật thì tại “thực phẩm độc”, con cái “trở chứng” thì tại trường đại học và cái gọi là “woke” đã “tẩy não” chúng; còn chuyện không nhà, không việc, lạm phát – tất cả đều do người nhập cư gây ra. Cách giải thích “chỉ dựa vào một lý do” giúp người có đầu óc đơn giản vừa đỡ mệt vừa thấy mình thông thái, đồng thời mở toang cánh cửa cho định kiến và thù hằn.

Phần còn lại của câu chuyện thuộc về mỗi người. Trong một thế giới mà dữ liệu và luận thuyết tràn ngập, không ai có đủ thời gian để tự mình kiểm chứng mọi điều. Sớm muộn gì, mỗi người cũng phải chọn mình nên tin ai, nghi ai. Có lẽ đó là điểm khởi đầu ít ỏi còn lại cho nước Mỹ lúc này – và cho bất cứ xã hội nào đang trượt vào vùng nhẹ dạ – đa nghi.

Sau cùng, điều quyết định vẫn là bản lãnh của mỗi người trước câu chuyện thiệt hư.
 
Nina Hòa Bình Lê
 
Tham khảo: 1. “Gullible, Cynical America” của Adam Serwer, đăng trên The Atlantic ngày 9.3.2026. 2. The Origins of Totalitarianism của Hannah Arendt, A Lot of People Are Saying của Nancy Rosenblum & Russell Muirhead; 3. Bản tin về RFK Jr., dịch sởi và các tuyên bố gian lận bầu cử của Donald Trump trên The New York Times, PBS, Politico.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.