Hôm nay,  

Nước Mỹ và đàn cừu

27/03/202600:00:00(Xem: 40)

nuoc-my-va-dan-cuu 
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch.

Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.

Bài học rút ra từ hai câu chuyện này là: 1. Niềm tin khi bị lạm dụng sẽ biến thành hoài nghi, 2. Khi khả năng hoài nghi không còn, người ta sẽ mất luôn khả năng tự bảo vệ mình. Hình ảnh nước Mỹ năm 2026 cũng trong tình trạng này, một xã hội đứng giữa hai câu chuyện về sói: vừa mệt mỏi vì bị hù dọa, vừa quá dễ tin lời kẻ trà trộn xin giữ hộ đàn cừu của mình.

Trong xã hội hiện nay, biểu hiện của trạng thái vừa đa nghi vừa cả tin ấy không khó nhận ra. Một mặt, không ít người Mỹ xem vắc-xin như một thứ “thí nghiệm trên dân chúng”, dù các mũi chủng ngừa căn bản đã được chứng minh an toàn và hữu hiệu suốt nhiều thập niên.

Mặt khác, chính những người này lại yên tâm đưa vào người đủ loại thuốc tăng năng lực, dược phẩm bổ sung, “liệu pháp thải độc” không ghi rõ xuất xứ nguyên liệu, thiếu chứng minh khoa học. Người ta dè chừng những dòng tên hóa chất lắt nhắt dán trên nhãn thực phẩm để bảo vệ người tiêu dùng, nhưng làm lơ những quyết định cho phép doanh nghiệp xả thêm khói bụi, hóa chất vào không khí và nguồn nước – những thứ gây ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe gia đình và cộng đồng.

Ở lãnh vực tài chánh cũng vậy. Một số người không còn tin ngân hàng, quỹ đầu tư, hay hệ thống tài chính truyền thống. Các cuộc khủng hoảng tài chánh và các vụ bê bối của thị trường Wall Street đã khiến họ mất đi niềm tin, từ đó họ xem mọi thứ mang nhãn “chính thống” đều là trò dối trá. Quay lưng với những cơ chế chính thống có kiểm tra và giám sát, người ta đem tiền tiết kiệm cả đời đặt vào những dự án tiền mã hóa bấp bênh, các quỹ đầu tư mạo hiểm, những trò cá cược giả danh “tự do tài chính”, các tài khoản ẩn danh điều hành bởi những “chuyên gia tự xưng” trên mạng – những người giỏi biến lòng tham và nỗi sợ của người khác thành nghề kiếm sống.

Trong chính trị và đời sống công cộng, tình hình không khả quan hơn. Đa số người Mỹ không còn tin vào những cơ quan chuyên môn từng được xem là chỗ dựa uy tín: cơ quan kiểm soát dịch bệnh, viện nghiên cứu khoa học, trường đại học, báo chí chuyên nghiệp... Trong mắt họ, tất cả giờ chỉ là một “nhóm tinh hoa“ có “âm mưu lớn”, từ đó bất cứ điều gì từ nhóm này đưa ra đều mặc nhiên bị xem là đáng nghi ngờ. Ngược lại, những nhân vật sống nhờ nỗi sợ ấy – người dẫn podcast bán “thuốc giải độc”, những ‘youtuber’ rao bán tin giả, doanh nhân tung đồng tiền vàng mã nhân danh “cứu tương lai tài chính”, chính trị gia dựng sự nghiệp trên hoài nghi vắc-xin – lại được xem là những kẻ “dám nói thật”. Hơn ai hết, những kẻ trục lợi này hiểu rõ lợi ích của việc càng làm khán giả hoang mang, càng dễ kiếm tiền và củng cố quyền lực.

Trong bối cảnh này chính trị nước Mỹ ngày nay, các quyết định liên quan đến vắc-xin là ví dụ tiêu biểu. Khi người đứng đầu ngành y tế liên bang can thiệp để trang web của cơ quan đặc trách vắc-xin rút lại câu xác định “vắc-xin không gây tự kỷ”, thay bằng những dòng chữ lơ lửng, đó không chỉ là chuyện chỉnh sửa câu chữ, mà việc này gửi đi một tín hiệu: ngay cả những kết luận đã được củng cố bằng hàng loạt nghiên cứu lớn cũng có thể bị đặt lại dấu hỏi, nhất là khi điều đó ăn khớp với nỗi nghi ngờ sẵn có trong công chúng. Cùng lúc, bệnh sởi – từng được tuyên bố xóa sổ ở Mỹ – lại bùng phát ở nhiều tiểu bang, buộc những gương mặt như Mehmet Oz, vốn lâu nay nổi tiếng nhờ các tiết mục gieo lo âu trên truyền hình, phải quay lại màn ảnh với một giọng điệu khác hẳn: nài nỉ người dân “hãy đưa con đi tiêm chủng, chúng ta đã có sẵn vắc-xin”.

Hình ảnh một người từng góp phần bôi xóa ranh giới giữa khoa học và giải trí, nay lại đứng ra vá lại chiếc bình niềm tin chủng ngừa đã nứt vỡ – là một trong những cảnh tượng ngang trái của nước Mỹ hiện tại. Nó cho thấy: khi xã hội lạm dụng hoài nghi với những nguồn thông tin đáng tin cậy, thì đến lúc cần khôi phục lòng tin, ngay cả những nhân vật có thế lực cũng không còn đủ uy tín để thuyết phục nữa.

Đây không phải là chuyện ít thấy. Nhiều nhà nghiên cứu đã thử gọi tên trạng thái tâm lý – chính trị này là một kiểu “chủ nghĩa âm mưu mới”, nơi xã hội bị tẩu hỏa nhập ma với vô số cáo buộc vô căn cứ đến mức người ta không còn phân biệt được chuyện gì giả, chuyện gì thật, điều gì đúng, điều gì sai. Điểm đáng chú ý là những thuyết âm mưu mới ấy hiếm khi đưa ra kế hoạch thay thế hay vẽ ra mô hình nào tốt hơn. Chúng chỉ cần phá thối niềm tin của mọi người nhằm để lại một khoảng trống để dễ dàng thao túng. Cái “thay thế” thực sự chiếm chỗ, ngoài đời, là dược/thực phẩm chức năng không rõ công dụng, là súng ống và đồ ăn “ngày tận thế” chất đầy nhà, là đồng tiền kỹ thuật số đổi lấy tiền thật, là mất khả năng hiểu chuyện thực hư, đổi lại cái cảm giác ngây ngất tưởng rằng “mình hiểu bệnh tật và chính trị hơn bọn chuyên gia”.

Hannah Arendt, khi phân tích các phong trào toàn trị đã đề cập đến “hỗn hợp kỳ lạ giữa cả tin và hoài nghi” xuất hiện ở mọi tầng lớp. Những người trong lưới này vừa đủ cả tin để nuốt hết những huyền thoại được tô vẽ, vừa đủ hoài nghi để bác bỏ mọi bằng chứng ngược lại. Với kẻ giăng lưới, chỉ cần đủ lạnh lùng để sử dụng chính sự cả tin đó như một công cụ. Nước Mỹ hôm nay, trên nhiều mặt, đang vận hành trong chính thứ hỗn hợp tâm lý mà Arendt từng mô tả: người dân vừa tin quá nhiều vào những kẻ nói điều mình muốn nghe, vừa nghi quá mức mọi nguồn thông tin không khớp với thế giới quan của họ.

Trong một môi trường vừa nhẹ dạ vừa đa nghi như vậy, những phong trào như MAGA có quá nhiều thuận lợi. Từ nhiều năm nay, Donald Trump liên tục lặp lại những câu chuyện sai sự thật về “bầu cử bị đánh cắp”, “phiếu qua thư là gian lận”, “máy kiểm phiếu bị thao túng”, bất chấp kiểm phiếu lại, phán quyết của tòa và các báo cáo chính thức đều không tìm thấy chứng cứ như ông nói. Phần lớn lãnh đạo Đảng Cộng hòa không những không bác bỏ mà còn lặp lại, hoặc né tránh đối mặt với những lời nói dối đó, khiến chúng dần trở thành một thứ “chân lý phe mình” trong mắt nhiều cử tri.

Khi báo chí, tòa án, cơ quan bầu cử bị gán nhãn “fake news”, “kẻ thù nhân dân”, còn các kênh truyền thông và tài khoản chuyên gieo thuyết âm mưu lại được xem như nguồn tin “dám nói thật”, việc phân biệt đâu là sự kiện, đâu là hư cấu trở nên gần như bất khả. Những người ủng hộ Trump cho rằng chỉ có ông mới dám “nói thẳng nói thật”, bất chấp cách ông công kích người nhập cư, báo chí, đối thủ chính trị đầy mâu thuẫn và sai sự thật.

Dĩ nhiên, cánh tả Mỹ cũng không miễn nhiễm với thuyết âm mưu. Ở phe nào cũng có những người thích một lời giải thích đơn giản cho một thế giới phức tạp, chưa kể đổ lỗi cho người khác luôn dễ dàng hơn chấp nhận sự việc khó nuốt. Tự kỷ thì tại vắc-xin, bệnh tật thì tại “thực phẩm độc”, con cái “trở chứng” thì tại trường đại học và cái gọi là “woke” đã “tẩy não” chúng; còn chuyện không nhà, không việc, lạm phát – tất cả đều do người nhập cư gây ra. Cách giải thích “chỉ dựa vào một lý do” giúp người có đầu óc đơn giản vừa đỡ mệt vừa thấy mình thông thái, đồng thời mở toang cánh cửa cho định kiến và thù hằn.

Phần còn lại của câu chuyện thuộc về mỗi người. Trong một thế giới mà dữ liệu và luận thuyết tràn ngập, không ai có đủ thời gian để tự mình kiểm chứng mọi điều. Sớm muộn gì, mỗi người cũng phải chọn mình nên tin ai, nghi ai. Có lẽ đó là điểm khởi đầu ít ỏi còn lại cho nước Mỹ lúc này – và cho bất cứ xã hội nào đang trượt vào vùng nhẹ dạ – đa nghi.

Sau cùng, điều quyết định vẫn là bản lãnh của mỗi người trước câu chuyện thiệt hư.
 
Nina Hòa Bình Lê
 
Tham khảo: 1. “Gullible, Cynical America” của Adam Serwer, đăng trên The Atlantic ngày 9.3.2026. 2. The Origins of Totalitarianism của Hannah Arendt, A Lot of People Are Saying của Nancy Rosenblum & Russell Muirhead; 3. Bản tin về RFK Jr., dịch sởi và các tuyên bố gian lận bầu cử của Donald Trump trên The New York Times, PBS, Politico.

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.