Hôm nay,  

Kinh Tế Hai Tốc Độ Cho Vn?

15/02/200500:00:00(Xem: 13520)
Trong năm 2005, lãnh đạo Việt Nam phải chuẩn bị Đại hội đảng Cộng sản vào năm tới và nhiều vấn đề về đường lối chính sách sẽ được đặt ra. Kinh tế VN sẽ đi hướng nào"
Đài RFA tìm hiểu những chọn lựa về đường hướng kinh tế, qua phần trao đổi sau đây cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa như sau.
Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, theo lịch trình thì trong năm 2006 tới đây, đảng Cộng sản Việt Nam sẽ có Đại hội toàn đảng khóa thứ 10. Như thông lệ thì việc tổ chức đại hội được chuẩn bị cả năm trước; tức là suốt năm 2005 này, nhiều cuộc thảo luận và vận động về đường lối, chính sách và nhân sự sẽ được lặng lẽ tiến hành. Trong phạm vi kinh tế, ông cho là những vấn đề gì đáng được nêu lên trong các cuộc thảo luận này"
-- Để trả lời câu hỏi này, tôi xin được phân tách bối cảnh vấn đề trước khi đi vào nội dung của những chọn lựa được đặt ra cho giới lãnh đạo Việt Nam ngày nay. Năm 2005 là năm bản lề với nhiều yếu tố sẽ chi phối nhận thức và quyết định của những người trong cuộc. Chính thức thì 2005 là năm kết thúc kế hoạch năm năm 2001-2005, thực tế thì đây là năm mà kinh tế Á châu sẽ có thay đổi, bất lợi nhiều hơn là thuận lợi. Năm 2005 có tiêu đích là Việt Nam cố gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO và còn là cơ hội tổng kết về thành quả 30 năm cầm quyền tuyệt đối của đảng Cộng sản Việt Nam trên cả nước thống nhất, không chiến tranh. Việc kiểm điểm tình hình và chọn lựa giải pháp cho tương lai vì vậy kéo dài cho đến giữa năm tới, nhưng bị chi phối bởi những gì sẽ thấy năm nay.
Hỏi: Nói về việc tổng kết 30 năm cầm quyền, ông có nhận xét ra sao về thành quả này"
-- Tôi thiển nghĩ là trong suốt Tháng Tư, ta sẽ có dịp làm công việc tổng kết ấy, ở đây tôi chỉ xin phát biểu ngắn gọn là 30 năm qua, ta đã chứng kiến 15 năm cao trào của xã hội chủ nghĩa sau khi lãnh đạo Việt Nam đòi “tiến nhanh, tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” và tiến tới cuộc khủng hoảng năm 1990. Sau đó là thời thoái trào chậm rãi của chủ nghĩa, với cái gọi là “đổi mới kinh tế”, trong khi lãnh đạo chưa định hình được mô thức cai trị của một đảng, một nhà nước và một guồng máy chính quyền trong một xứ sở văn minh. Việc minh định vai trò này nên là một đề tài tìm hiểu và thảo luận.
Hỏi: Trở lại đề tài kỳ này, ông đánh giá thế nào về tình hình kinh tế hiện nay và về những vấn đề đang đặt ra cho giới lãnh đạo Việt Nam"
-- Với tốc độ tăng trưởng ở khoảng 7-8% một năm như hiện nay, nếu có bảo rằng Việt Nam đang đi vào một chu kỳ khủng hoảng thì khó ai tin, nhất là sau khi đã chứng khiến sự nguy kịch của thời kỳ 1986-1989. Nhưng, tương lai vốn không là một đường thẳng được vạch sẵn từ quá khứ nên người ta nên dự trù những đột biến bất ngờ. Năm 1995 mà nói là Đông Á sẽ bị khủng hoảng kinh tế vào giữa năm 1997 thì cũng khó tin. Nhìn theo viễn ảnh dài thì tôi cho là Việt Nam cũng tương tự như nhà Mãn Thanh vào năm 1910, hoặc gần hơn, như Việt Nam dưới triều Tự Đức, trước khi sóng gió nổi lên từ bên ngoài và sẽ làm đảo lộn cái trật tự bấp bênh mà người trong cuộc cứ tưởng là vững chãi lắm.
Hỏi: Xin ông trình bày rõ ràng hơn cho thính giả những yếu tố ông gọi là bấp bênh đó.
-- Bấp bênh hay bất trắc, vì những lý do sau đây. Thứ nhất, nguồn lợi tức tạo ra hình thức trù phú ngày nay không xuất phát từ trong nước, từ cái mà người ta hay gọi là “nội lực dân tộc”; thứ hai, hố dị biệt giàu nghèo đang bị đào sâu giữa nhiều thành phần dân cư và địa phương; thứ ba, chủ quyền kinh tế đang tan loãng vì tuột dần khỏi tay người Việt và thứ tư, đảng cầm quyền đang mất dần lý do lãnh đạo vì sự đổi chác giữa lý tưởng với lý tài, khi tưởng rằng cứ ban phát quyền lợi kinh tế thì bảo vệ được quyền lực. Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa khiến xã hội mất định hướng tinh thần và chính quyền không huy động được người dân, ngoài những khẩu hiệu hay tin tức trên truyền thông mà chẳng còn mấy ai tin. Nói ngắn gọn thì chính quyền ở trung ương đang mất dần khả năng điều động và nền kinh tế gồm hai khu vực sẽ phát triển với hai tốc độ sang hai hướng khác biệt. Rạn nứt và phân hoá vì vậy sẽ xảy ra.
Hỏi: Ông muốn nói đến hai khu vực phát triển theo hai hướng, bên trong và bên ngoài"
-- Thưa vâng mà sự thể có khi còn phức tạp hơn thế. Chúng ta có nền kinh tế hướng ngoại, sống nhờ xuất nhập cảng và làm giàu trong các vùng tiếp cận với thế giới bên ngoài, trong khi đa số dân cư vẫn sinh sống theo nếp cũ và không thấy cuộc sống được cải thiện nếu so sánh với khu vực hướng ngoại ấy. Thứ nhì, chúng ta có một nền kinh tế tư nhân rất năng động và có tiềm lực nhưng bị hạn chế và kiềm chế bởi hệ thống quốc doanh, của các ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước. Hệ thống này ít hiệu năng nhưng được bảo vệ vì lý do chính sách, tức là chính trị, và tiếp tục là hang ổ của tham ô lãng phí. Đầu tư nước ngoài được tập trung vào khu vực hướng ngoại, và ưu tiên trút vào doanh nghiệp nhà nước, nhưng sau nhiều năm lạc quan, giới đầu tư đã xét lại và rút dần, chủ yếu ngày nay chỉ còn giới đầu tư Á châu, cũng với sự lạc quan hồ hởi đã từng thấy tại Đông Á trước khi khủng hoảng bùng nổ năm 1997-1998. Tình trạng này không thể kéo dài được.

Hỏi: Trong hoàn cảnh đó, giới lãnh đạo Việt Nam có những giải pháp nào về kinh tế"
-- Thuần lý mà nói về mặt kinh tế, tôi thiển nghĩ là nhà cầm quyền Việt Nam không có nhiều chọn lựa. Tôi xin tạm đơn cử ba bốn giải pháp có tính lý thuyết sau đây. Thứ nhất là đổi mới việc đổi mới, tức là cải cách triệt để hơn, như Đài Loan đã làm từ 1992 đến 94 và nhờ đó thoát cơn khủng hoảng Đông Á năm 97 và nay đang có một chế độ dân chủ cao nhất Á châu, với một xã hội thuộc loại công bằng nhất thế giới. Giải pháp cải cách về cơ chế này cũng được Nam Hàn áp dụng sau vụ khủng hoảng, hoặc Thái Lan áp dụng kể từ năm 2000. Giải pháp này sẽ làm xã hội thay đổi tốt đẹp hơn nhưng trước mắt có thể làm đảng cầm quyền bị đào thải. Tôi không tin là giới lãnh đạo ngày nay lại yêu nước đến cỡ đó, nếu không, Việt Nam đã chả tụt hậu như ngày nay sau 30 năm thăng trầm vất vả.
Hỏi: Thế còn giải pháp thứ hai" Có cách gì cải cách mà lãnh đạo không sụp đổ chăng"
-- Tôi xin tạm gọi đó là giải pháp Nhật Bản hay Giang Trạch Dân. Đó là nín thở đẩy mạnh đà tăng trưởng của khu vực hướng ngoại bằng mọi giá, bất kể tới lời lỗ, trong khi cải tổ hệ thống quốc doanh sao cho êm thắm mà chủ yếu vẫn là bảo vệ hiện trạng và dân chúng có bất mãn đi khiếu kiện thì tắt đèn đàn áp. Tôi sở dĩ gọi đó là giải pháp Nhật Bản vì Nhật đã từng tập trung xây dựng khu vực xương sống của kinh tế quốc dân như vậy và gặp khủng hoảng năm 1990 cho đến nay vẫn chưa hồi phục. Đây là giải pháp trì hoãn cải tổ cơ cấu, với hậu quả sẽ còn tệ hại hơn cho xứ sở, nhưng trước mắt có thể cho lãnh đạo cầm quyền một cách cầm chừng và đảng viên cầm tiền thêm được một Đại hội nữa.
Hỏi: Không tiến thì thoái, có khi nào đảng Cộng sản Việt Nam đảo ngược đổi mới chăng"
-- Giải pháp thứ ba này là điều bất khả. Thuần lý mà nói thì đảng và đảng viên có lợi lớn nhờ đổi mới nên sẽ không lui về đường lối gọi là cách mạng cũ, nghĩa là đóng cửa cải tạo lại cơ chế xã hội cho bình đẳng và nghèo khốn hơn, nhưng trong sự ổn định chính trị của đảng cầm quyền. Một sự thoái lui như vậy lập tức gây ra khủng hoảng và đảng sẽ sụp đổ.
Hỏi: Nếu vậy, ông cho là lãnh đạo Việt Nam còn một giải pháp nào khác không"
-- Tôi nghĩ đến một giải pháp mà Hồ Cẩm Đào và lớp lãnh đạo mới của Trung Quốc đang cố áp dụng. Đó là chủ động gia tăng khả năng quản lý và kiểm soát của trung ương và kêu gọi giới đầu tư quốc tế trút tiền vào những khu vực kém phát triển nhất. Giải pháp này khó thành công vì lệ thuộc vào những tính toán kinh doanh của thị trường bên ngoài trong khi vẫn đào sâu dị biệt giàu nghèo. Vả lại, nhiều thành phần trong đảng vẫn có thể nghĩ rằng tội gì mà nhường quyền lợi cho các vùng cao vùng sâu" Loay hoay mãi thì các thành phần tạm gọi là tiến bộ nhất cũng chỉ dám nghĩ đến giải pháp này mà thôi, nội dung các hội nghị Trung ương đảng hay của Quốc hội có thể sẽ phản ánh cuộc tranh luận đó.
Hỏi: Trong giả thuyết gọi là có cải cách, nhưng chỉ cầm chừng để đảng vẫn cầm quyền, thì những gì có thể xảy ra trong tương lai"
-- Tôi nghĩ rằng Việt Nam vẫn sẽ hội nhập vào thế giới bên ngoài chứ không thể ngăn sông cấm chợ như thời cách mạng ngày trước. Mà càng hội nhập thì quyền lực của đảng và lý cớ của ý thức hệ càng mất giá trị. Và hội nhập tự phát như vậy thì Việt Nam vẫn tiếp tục thua kém các nước lân bang. Đảng Cộng sản Việt Nam không thể tiếp tục can thiệp vào kinh tế bằng luật lệ nhiêu khê, không thể hạn chế tự do mậu dịch và đầu tư để duy trì quyền lợi đảng viên, đảng không muốn bảo vệ và phát huy quyền tư hữu và quyền tự do kinh doanh của tư nhân và không thể nuôi dưỡng nạn tham nhũng tràn lan trong khu vực nhà nước như hiện tại. Nếu không chủ động cải cách và chuẩn bị cho sự hội nhập tất yếu này, chính quyền sẽ không tránh khỏi khủng hoảng trong thời gian tới.
Hỏi: Ông hay nói đến chữ khủng hoảng, điều đó có thể xảy ra hay không"
-- Tôi cho rằng điều đó sẽ xảy ra sớm hơn những dự liệu lạc quan của chính quyền. Đây là ta chưa nói đến những mâu thuẫn có thể xảy ra từ trong nội bộ khi có nạn “quân phân bất tề” vì chia chác quyền lợi không đều. Yếu tố có thể châm ngòi cho sự việc đó là những bất ổn kinh tế bùng nổ từ bên ngoài. Năm 2004, giá cả thương phẩm đã lên tới mức kỷ lục mà kinh tế Đông Á vẫn tăng trưởng ngoạn mục chủ yếu là nhờ tiền rẻ khi Hoa Kỳ hạ lãi suất tới mức thấp nhất. Bây giờ lãi suất đã và sẽ còn tăng khiến Đông Á, kể cả Trung Quốc và Việt Nam, cũng phải nâng lãi suất và kinh tế Đông Á có thể bị suy trầm từ giữa năm nay trở đi, Trung Quốc có khi bị khủng hoảng. Đại hội X của đảng Cộng sản Việt Nam có thể nhóm họp giữa năm tới, ngay giữa vụ khủng hoảng. Lúc đó, các vấn đề thật của một nền kinh tế hai khu vực và hai tốc độ sẽ phát tác và khiến cuộc tranh luận về đường lối của đảng sẽ trở thành lỗi thời. Và vô ích.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.