Hôm nay,  

Năm Năm Đầu Tiên….

9/11/200600:00:00(View: 6989)
Hoa Kỳ mới chỉ tham chiến được năm năm - và còn phải thay đổi
Ngay giữa cuộc chiến, và suốt mười ngày qua, chính quyền của Tổng thống Bush đã tung ra nhiều chiêu pháp ngoạn mục liên hệ đến hồ sơ khủng bố.
Để kỷ niệm năm năm ngày Hoa Kỳ bị khủng bố tấn công - vụ 9-11 - ông Bush và các vị cộng sự đã mở chiến dịch tranh cử cho đảng Cộng hoà, với rất nhiều đề nghị và lập luận nhằm giành lại thế thượng phong cho một chính quyền bị thất thế vì hồ sơ Iraq. Từ việc truy tố các đặc công của al-Qaeda tới nhà tù Guantanamo và yêu cầu Quốc hội phê chuẩn những luật lệ phù hợp với đòi hỏi của cuộc chiến - hầu tránh cho chính quyền bị lâm vào hoàn cảnh không vi hiến thì cũng phạm luật, ông Bush cố giành lại thế chủ động và đẩy phe đối lập vào hoàn cảnh bất lợi: chống lại đề nghị của đảng Cộng hoà khi dân Mỹ xúc động tưởng niệm biến cố 9-11 là đảng Dân chủ bị mang tiếng là thiếu dứt khoát với vấn đề khủng bố.
Những ai nghĩ rằng ông Bushy thô thiển và thiếu thủ đoạn chính trị có thể đã đánh giá lầm nhân vật này.
Tuy nhiên, sau 60 ngày chạy đua để giành thế đa số tại Quốc hội, các chính khách Mỹ vẫn phải đối đầu với một thực tế: Hoa Kỳ chưa thực sự có một quan niệm toàn diện và thích hợp với hình thái chiến tranh mới và trong năm năm qua, các lực lượng Hồi giáo cực đoan đã học bài và xoay chuyển chiến pháp của họ. Trong hai năm còn lại, nếu chính quyền Bush và cả Quốc hội Mỹ không nhìn ra và thuyết phục được người dân về những đòi hỏi của cuộc chiến. Hoa Kỳ coi như thất trận và sẽ triệt thoái, để lại những mầm loạn cho cả thế giới - mà chưa chắc đã ngăn ngừa được những vụ khủng bố khác ngay trong lãnh thổ.
Vì sao chúng ta lại có một kết luận bi quan như vậy" Vì Hoa Kỳ chưa có một quan niệm - đừng nói đến tổ chức - về cuộc chiến mang tính chất toàn diện và phi quy ước của quân khủng bố.
Hoa Kỳ là một đệ nhất siêu cường hiện chiếm vị trí độc bá trên toàn cầu. Trong lịch sử ngắn ngủi của mình, quốc gia này đã đánh bại mọi đối thủ trong các cuộc chiến quy ước, giữa các đơn vị chính quy và hậu cứ kinh tế của một quốc gia với một quốc gia. Hoa Kỳ có khả năng chiến tranh vượt trội so với mọi quốc gia đối nghịch nhờ một số đặc tính của xã hội và văn hoá Mỹ. Các đại cường như Đức, Ý hay Nhật đều bị đánh bại và khi quân ngũ tan rã, chính quyền phải đầu hàng để dành lại cơ hội xây dựng lại một quốc gia khác, với chính quyền mới, trên những đổ vỡ của chiến tranh do chính Hoa Kỳ viện trợ để tái thiết.
Nhưng siêu cường này không mấy thành công với loại hình thái chiến tranh phi quy ước, loại chiến tranh toàn diện, kết hợp khủng bố, phá hoại, du kích và đấu tranh chính trị. Một trường hợp nổi bật nhất chính là Việt Nam khiến một siêu cường quân sự đã thảm bại vì lý do chính trị, để lại cho các sử gia học giả hay chính khách tả hữu việc diễn giải vì sao đã thua.
Sau đó, không thiếu gì trường hợp thất bại khác, dù không lớn lao bằng, như tại Lebanon, Somalia, và ngày nay, tại Afghanistan và Iraq.
Một nhận thức sai lạc của chính người dân Mỹ lên tới lãnh đạo chính trị và học thuật tư tưởng rằng Hoa Kỳ là vô địch không có đối thủ đã khiến dư luận Mỹ coi thường kẻ thù. Việc Liên xô sụp đổ càng củng cố niềm tin ấy. Sự thật thì Liên xô sụp đổ không vì một trận thư hùng quân sự với Hoa Kỳ, mà vì những nhược điểm nội tại của chế độ cộng sản.
Nhiều người thực ra có rút tỉa bài học Việt Nam và nêu ra một số nguyên tắc chỉ đạo việcv chiến hoà, có nên tham chiến hay không. Nguyên (và là Cố) Tổng trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger cùng người cộng sự là Tướng Colin Powell - sau này là Ngoại trưởng - đã đề ra những nguyên tắc ấy, gọi là chủ thuyết Weinberger hay Powell: "Hoa Kỳ chỉ tham chiến trong một số điều kiện nhất định, và một cách bất đắc dĩ khi chẳng còn giải pháp nào khác".
Nhưng, chủ thuyết ấy vẫn phản ảnh một cái nhìn thiên về quân sự hơn chính trị và không đề ra những chỉ dẫn cần thiết cho một hình thái chiến tranh khác. Đến thời (đương kim) Tổng trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld, giới chức quân sự Mỹ đã kết hợp những yếu tố địa dư chính trị và kỹ thuật chiến tranh để nói đến việc chuyển hoá bộ máy quân sự cho hình thái chiến tranh mới. Gọn, nhẹ, với tầm tác xạ cao và chính xác hơn. Ông Rumsfeld đang chuẩn bĩ cải tổ bộ máy chiến tranh theo hướng ấy thì vụ khủng bố xảy ra.

Hai chiến dịch Afghanistan và Iraq, trong tháng 11 năm 2001 và tháng Ba năm 2003, đã chứng tỏ ưu thế quân sự của Mỹ: tiêu diệt bộ máy chiến tranh của đối phương và kiểm soát lãnh thổ địch. Nhưng, bộ máy chiến tranh ấy vẫn không làm chủ được tình hình, ở cả hai nơi.
Lý do là đối phương không còn là chế độ Đức quốc xã hay Phát xít Nhật, khi thua thì đầu hàng và trao lại lãnh thổ cho một chính quyền mới. Đối phương là một hệ thống chính trị và quân sự không coi việc trị dân là trọng, quốc kê dân sinh là chính. Họ là một tập thể không sợ chết và sẵn sàng gieo rắc cái chết cho chính đồng bào đồng đạo để Hoa Kỳ phải nản chí rút lui vì không bình định được lãnh thổ đang chiếm đóng. Trong những thủ đoạn chống trả ấy, khủng bố chỉ là một trong nhiều phương pháp…. Cuộc chiến gọi là chống khủng bố hay chống chủ nghĩa khủng bố đã bị gọi sai và bộ máy chiến tranh lân cả xã hội Mỹ không được chuển bị cho hình thái chiến tranh này.
Trong khi ấy, từ al-Qaeda tới chế độ Taliban tại Afghanistan, từ Hezbollah tới chế độ Tehran tại Iran đều đã biến chiêu. Họ trở thành tinh tế hơn trong thủ đoạn khủng bố, tinh vi hơn về chiến tranh tâm lý và sáng tạo không thua gì Hoa Kỳ về kỹ thuật chiến tranh.
Xưa kia, các chế độ Hồi giáo chống Mỹ (hay chống Israel) đã học theo bài bản Xô viết để xây dựng bộ máy chiến tranh theo lối quy ước, với võ khí và kỹ thuật Liên xô để bị đánh bại thê thảm (Egypt, Syria hay Iraq). Bây giờ, trong cuộc chiến bất cân xứng giữa một sieêu cường quân sự có nền kinh tế thịnh vượng làm hậu cứ với các chế độ chống Mỹ có kỹ thuật lạc hậu và kinh tế nghèo nàn (hơn), các chế độ hay lực lượng Hồi giáo đã lâm trận theo lối nhà nghèo, cải tiến võ khí rẻ tiền - mua của nhau hay cua Liên bang Nga, Trung Quốc, Bắc Hàn - thành những dụng cụ giết người rất hữu hiệu - vì bất cần tới độ chuẩn xác - và phá hủy những chiến cụ bạc triệu của Mỹ.
Lối chiến tranh chân đất với hỏa tiễn cầm tay hay mìn "nội hoá", ráp chế thô thiển, đã khiến dân Hồi giáo mất mạng, lính Mỹ tử thương và Hoa Kỳ xuất huyết. Mà càng trả đòn dữ dội thì càng mang tiếng sát hại thường dân - Israel đã mắc tội ấy trước dư luận thế giới - vì trong cuộc chiến này, dân với quân sinh hoạt ở cùng nơi và dân là bia đỡ đạn cho quân!
Sự yếu kém của Hoa Kỳ về mặt tổ chức và tuyên truyền làm nốt phần vụ còn lại.
Về tổ chức thì các đơn vị thiện chiến - huấn luyện một chiến binh là tốn bạc triệu - phải đi làm sen đầm canh chợ và mục tiêu bắn sẻ mà bom khôn hay kỹ thuật điện tử tân kỳ không bảo vệ nổi. Nổ súng trả đòn mà lỡ trúng vào thường dân thì có khi ra tòa, thoát thì cũng bị bùa rìu của báo chí và dư luận. Hoa Kỳ không có loại cán bộ quân chính để lo việc bình định và đang căng mỏng lực lượng Vệ binh Quốc gia để xây dựng dân chủ cho quốc gia khác.
Về tuyên truyền, Hoa Kỳ không giải thích nổi với chính người dân chủ mình về nhu cầu tự vệ bằng cách viễn chinh và các chính trị gia đối lập không lỡ cơ hội đả kích chính quyền về chuyện ấy. Họ không hiểu được bản chất của cuộc chiến và những đòi hỏi nơi người dân. Đối nội đã vậy, về đối ngoại hệ thống thông tin tuyên truyền của Hoa Kỳ lại còn thô thiển hơn nữa và không tranh thủ được quần chúng Hồi giáo ôn hoà. Chiến cuộc càng gay gắt thì thành phần ôn hoà hiếm hoi ấy càng có cảm tình với quân khủng bố!
Từ 500 năm nay, các nước Tây phương đã áp đảo thế giới nhờ sức mạnh kinh tế đã thổi lên một hỏa lực hùng hậu. Bước sang thế kỷ 21, cái thế giới lạc hậu, nghèo túng và cực đoan nhất đang trả lời lại Tây phương, bằng cách thách đố siêu cường số một là Hoa Kỳ, bằng một hình thái chiến tranh không cần đời sống.
Hoa Kỳ thường lâm chiến và coi như chiến thắng quân sự là kết thúc chiến tranh, việc tái thiết hay tranh thủ trong hoà bình là chuyện chính trị. Vì vậy mà chuốc oán với nhiều nước. Bây giờ, khi bị thách đố bởi hình thái chiến tranh kết hợp quân sự - nôm na là giết người - với chính trị - nôm na là khai thác tinh thần chống Mỹ - với phần thưởng cho kẻ chiến thắng ở đâu đó trên… thiên đường, Hoa Kỳ bị bó tay.
Chính quyền Bush không chịu bó tay và kịch liệt chống trả. Nhưng nếu không nhìn lại vấn đề cho rõ và quan niệm lại chiến lược cho tinh - và nhất là không giải thích tường tận cho quần chúng - chính quyền sẽ bị đối lập bó tay.
Và Hoa Kỳ sẽ bại trận.
Sau vụ Việt Nam, Hoa Kỳ chỉ mất thế lực trên trường quốc tế trong gần 10 năm chứ đặc công Bắc Việt không đòi vào đánh bom tự sát trên lãnh thổ Mỹ. Nếu bại trận lần này, nước Mỹ sẽ khó yên vì kẻ thù nhắm vào mục tiêu khác.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.