Hôm nay,  

Lao Động Và WTO

13/09/200600:00:00(Xem: 8002)

 ...Với viễn ảnh gia nhập WTO, Việt Nam có thể đi bước trước bằng cách cho phép thành lập công đoàn tự do, của tư nhân...
Một khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, Việt Nam sẽ phải chấp nhận nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp, trong đó có cả sự bình đẳng về chế độ lao động và tiền lương. Việt Nam sẽ xử trí ra sao về vấn đề ấy" Diễn đàn Kinh tế đài RFA nêu câu hỏi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa trong tiết mục chuyên đề hàng tuần do Việt Long thực hiện sau đây.
Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, sau khi gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới, Việt Nam sẽ phải xây dựng một sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp nội địa và nước ngoài, tư nhân và nhà nước, trong đó có cả nguyên tắc bình đẳng về chính sách lao động và lương bổng. Vì vậy, tiếp tục loạt bài về những chuẩn bị cho việc gia nhập WTO, kỳ này, chúng tôi đề nghị là ta sẽ cùng trao đổi về khiá cạnh lao động, ông có ý kiến ra sao"
Tôi thấy đây là một sáng kiến hay và nói về sân chơi bình đẳng cho người lao động Việt Nam thì có một vấn đề nổi bật mà ít nhắc tới là người lao động Việt Nam chưa có quyền bình đẳng như công nhân của nhiều xứ khác là sinh hoạt nghiệp đoàn. Việt Nam chưa có các công đoàn tự do, độc lập do công nhân tự thành lập hầu đấu tranh cho quyền lợi đích thực của họ.
Công nhân Việt Nam vì vậy bị chi phối bởi ba tầng quyền lực là; thứ nhất, chiến lược kinh tế do đảng và nhà nước quyết định; thứ hai là những quy định của bộ Lao động Thương binh và Xã hội đề ra, chủ yếu là để thực hiện phần vụ lao động của chiến lược ấy; thứ ba là các lớp cao thấp của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, là Công đoàn chính thức và duy nhất có quyền hoạt động để đoàn ngũ hoá công nhân theo chủ trương của đảng. Tình trạng ấy nên cần thay đổi một khi Việt Nam hội nhập vào hệ thống kinh tế tự do của thế giới, của WTO.
Hỏi: Xin ông đơn cử cho vài thí dụ về tình trạng thiếu quyền bình đẳng này của công nhân.
Từ ngày mùng một Tháng 10 tới đây, mức lương tối thiểu tại Việt Nam sẽ tăng đồng loạt từ 350 nghìn đồng một tháng lên 450 nghìn, tức là tăng gần 28,6%, một tỷ lệ rất lớn, và đây là lần thứ ba từ hai năm qua. Điều ấy tất nhiên gây khó khăn cho các doanh nghiệp vì mức tăng này cao quá đà gia tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, trong cuộc thảo luận của giới chức hữu trách, không thấy quan điểm của công nhân thợ thuyền. Chiến lược kinh tế của Việt Nam là khai thác lợi thế lương bổng thấp để chiêu dụ đầu tư, nay với viễn ảnh gia nhập WTO và phải cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, vấn đề lương bổng và điều kiện lao động phải là đề tài cần làm sáng tỏ và cân nhắc kỹ lưỡng với sự tham gia thảo luận của công nhân.
Trong khi ấy, tại một cuộc hội thảo tuần trước của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, các giới chức của bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và của Công đoàn Nhà nước than phiền là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện chưa có thang bảng lương thống nhất và còn quá nhiều dị biệt về thang lương giữa các doanh nghiệp nhà nước và nước ngoài. Đồng thời, ta đều biết là công nhân Việt Nam không được bảo vệ đúng mức, thường bị ngược đãi, nữ công nhân bị mang nhục trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư Đông Á và nếu họ đình công thì lại vi phạm luật lệ công đoàn. Tình trạng bất thường ấy sớm phải chấm dứt, nhưng sau đó sự thể sẽ ra sao, chúng ta chưa biết.
Hỏi: Chúng ta cần nói rõ thêm về đề tài rất thời sự là mức lương tối thiểu. Nhìn từ giác độ kinh tế, ông nghĩ sao về nguyên tắc ấy"
Thuần về kinh tế, lương bổng là thước đo của mức cung cầu về lao động và khi định ra mức lương tối thiểu quá cao, người ta gặp phản tác dụng là gây khó khăn cho doanh nghiệp với hậu quả là cản trở việc tuyển dụng nên càng dễ gây thất nghiệp. Thứ nữa, dù đại đa số các doanh nghiệp đều trả lương tối thiểu cho công nhân cao hơn mức tối thiểu pháp định ấy, mức tối thiểu pháp định này là cơ sở tính ra các loại phúc lợi xã hội khác như bảo hiểm xã hội hay sức khoẻ cho công nhân nên nó là đòn bẩy đẩy lên phí tổn lao động và xã hội cho doanh nghiệp và làm giảm sức cạnh tranh. Thứ ba, nói về kinh doanh thì quy định về mức lương tối thiểu quá cao sẽ thu hẹp khả năng quản lý qua tưởng thưởng của doanh nghiệp dành cho các công nhân có năng suất cao hay tinh thần mẫn cán nhất. Cho nên, nguyên tắc định mức lương tối thiểu là một tàn dư của chế độ kinh tế bao cấp và tạo ra sự bình đẳng giả hiệu về lao động và gây tác dụng ngược về khả năng nhân dụng và cạnh tranh.
Hỏi: Ở Mỹ cũng có luật lệ tiểu bang và liên bang ấn định mức lương tối thiểu, nhưng đâu phải là kinh tế bao cấp"
Chế độ bao cấp thì nơi nào cũng có, kể cả ở bên Mỹ. Nhưng, người ta không điều chỉnh mức lương tối thiểu ba lần trong vòng hai năm và, vẫn đứng trên giác độ kinh tế, giới kinh tế biết rõ là nhiều chính khách Hoa Kỳ thường đòi tăng lương tối thiểu với lý do là để bảo vệ quyền lợi cho công nhân thiếu tay nghề và giới trẻ, nhưng hậu quả vẫn gây tác dụng ngược là hai thành phần này khó kiếm việc hơn. Cũng vì vậy mà trong Quốc hội việc tăng lương tối thiểu ấy thường bị bác.
Hỏi: Đó là về giác độ kinh tế, còn về giác độ xã hội thì sao"
Xin nói ngay là trong tình trạng còn thô thiển về luật lệ lao động và công nhân không được bảo vệ đúng mức thì việc quy định mức lương tối thiểu ấy vẫn là cần thiết trên nguyên tắc. Còn cao thấp ra sao thì nên để cho các doanh nghiệp và công nhân quyết định lấy, nếu công nhân có công đoàn tự do và là đối tác có trách nhiệm đối với việc quản lý doanh nghiệp, trong đó có cả việc quy định về thang lương và chế độ lao động. Ta cần thấy ra vấn đề xã hội ấy khi giới chức Việt Nam than phiền là có tới 80% doanh nghiệp nước ngoài chưa có hệ thống bảng lương và từng bậc thang cho việc tăng lương. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có thực sự tranh đấu cho quyền lợi công nhân hay không" Và mai này, khi Việt Nam gia nhập WTO thì chế độ lương bổng hay nói chung là xã hội có được quy đinh cho mọi loại hình doanh nghiệp hay không" Chúng ta chưa thấy vấn đề ấy được đề cập.


Hỏi: Có một vấn đề khác đang được giới đầu tư quốc tế chú ý là công nhân các doanh nghiệp có quyền sinh hoạt nghiệp đoàn hay không. Việt Nam nên xử trí ra sao với vấn đề ấy" 
Tôi thiển nghĩ rằng Việt Nam phải có bộ luật lao động tinh vi với các quy định được áp dụng chung cho mọi loại doanh nghiệp, của nhà nước, của tư nhân nội điạ hoặc có vốn đầu tư  nước ngoài. Bộ luật lao động ấy phải vạch rõ nguyên tắc gần như thuộc phạm vi đạo đức là công nhân phải có quyền sinh hoạt nghiệp đoàn trong đó có cả quyền thành lập công đoàn. Còn lại, việc đấu tranh cho quyền lợi của công nhân sẽ do các công đoàn tự do ấy quyết định qua thương thảo với chủ đầu tư và giới điều hành doanh nghiệp.
Hỏi: Ông nói như vậy thì còn vai trò của Công đoàn Nhà nước hay Tổng Liên đoàn Lao động thì sao"
Đây là điều nhạy cảm đối với giới lãnh đạo Việt Nam. Loại công đoàn này được thành lập trên nguyên tắc là để bảo vệ quyền lợi công nhân, nhưng vì đảng là đại biểu hiến định của công nhân và dân tộc nên công đoàn trở thành công cụ thực hiện chính sách lao động của đảng. Mà chính sách lao động lại là một phần của chiến lược kinh tế xã hội của đảng - thí dụ như khai thác mức lương bổng thấp để thu hút đầu tư và sản xuất để xuất khẩu với giá thấp - cho nên, công đoàn có thể mặc nhiên hy sinh quyền lợi chân chính của công nhân và vì vậy mới có hàng loạt những vụ biểu tình bị coi là phi pháp mà vẫn đang thực tế xảy ra.
Thứ nữa và đây là vấn đề còn nhạy cảm hơn, vì bản năng sinh tồn của đảng, công đoàn cũng là một bộ phận đoàn ngũ hoá công nhân để bảo vệ đảng và có khi kiểm soát doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nước ngoài. Điều ấy, giới đầu tư nước ngoài trong các công ty đầu tư trực tiếp gọi tắt là FDI đều biết rõ và rất khó chịu.
Với viễn ảnh gia nhập WTO, Việt Nam có thể đi bước trước bằng cách cho phép thành lập công đoàn tự do, của tư nhân và bảo vệ quyền sinh hoạt của các công đoàn này trong mọi doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nước ngoài, một cách bình đẳng. Nếu tự xưng là "xã hội chủ nghĩa", Việt Nam nên thi hành việc ấy vì quyền lợi của công nhân thay vì của đảng.
Hỏi: Các nước khác xử lý ra sao về vấn đề lao động trong khuôn khổ WTO"
Các hội viên WTO đều tôn trọng quyền sinh hoạt nghiệp đoàn của công nhân và để doanh nghiệp thương thảo với công nhân và công đoàn theo nguyên tắc tự do. Một ngoại lệ đang gây rắc rối cho nhiều doanh nghiệp quốc tế là trường hợp của Trung Quốc.
Hỏi: Xin ông trình bày cho thính giả một vài chi tiết về trường hợp này.
Xứ này có một Tổng Liên đoàn Lao động Toàn quốc được thành lập từ năm 1925 và chính thức sinh hoạt sau khi đảng Cộng sản Trung Quốc lên cầm quyền năm 1949 tại Hoa lục. Năm 1966 Tổng Liên đoàn này bị giải tán trong cái trớn của cuộc Đại văn cách, mãi tới năm 1978 mới lại được đảng cho hồi sinh.
Ngày nay, tổng công đoàn này tự xưng là quy tụ 134 triệu đoàn viên trong hơn một triệu công đoàn hoạt động trong 31 liên đoàn địa phương, nhưng vẫn bị một tổ chức công đoàn quốc tế là International Confederation of Free Trade Union, tức là Tổng Liên đoàn Tự do Quốc tế, coi là thiếu độc lập và không là tiếng nói đích thực của công nhân Trung Quốc mà còn xâm phạm quyền lợi công nhân và công đoàn.
Hỏi: Nhưng sự thật thì ra sao"
Sự thật thì Tổng Liên đoàn Lao động Toàn quốc này là công cụ của đảng Cộng sản. Dưới thời ông Giang Trạch Dân, công đoàn này thi hành việc sa thải công nhân viên chức của các doanh nghiệp nhà nước trong khuôn khổ kế hoạch cổ phần hoá doanh nghiệp. Qua đến thế hệ lãnh đạo mới, của các ông Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia bảo và Úy Kiện Hành, công đoàn này được huy động để đoàn ngũ hoá công nhân viên từ nông thôn đổ vào các thành thị kiếm sống và nhất là để tránh những xáo trộn xã hội do hiện tượng đô thị hoá tự phát này.
Hỏi: Còn tình hình bây giờ ra sao"
Từ đầu năm nay, Tổng Liên đoàn này được chuyển hướng vào một mục tiêu mới là phát triển đoàn viên trong các doanh nghiệp ngoại quốc và tháng Bảy vừa qua đã đạt thành tích đáng chú ý là khiến tổ hợp Wal-Mart phải chấp nhận cho công nhân thành lập nghiệp đoàn, dĩ nhiên là một phân bộ của Tổng Liên đoàn Toàn quốc. Gần đây, chính quyền thành phố Thẩm Quyến tại Quảng Đông cũng ra chỉ thị là từ nay đến cuối năm các doanh nghiệp nước ngoài phải cho thành lập các phân bộ của Tổng Liên đoàn Lao động Toàn quốc. Chiều hướng này sẽ tiếp tục ở nhiều địa phương khác với chỉ tiêu là từ 30% sẽ tiến tới tỷ lệ 50% các doanh nghiệp nước ngoài phải có phân bộ của Tổng Liên đoàn.
Hỏi: Ông kết luận ra sao về trường hợp này" 
Trung Quốc e sợ động loạn xã hội vì đường lối kinh tế lệch lạc của họ nên tăng cường vai trò của công đoàn hầu bắt mạch được sự bất mãn và kịp ngăn ngừa sự nổi loạn của công nhân. Với doanh nghiệp nước ngoài, công đoàn trở thành tai mắt của chính quyền trong hệ thống quản lý doanh nghiệp, để vừa học nghề vừa theo dõi tình hình kinh doanh. Nếu bất mãn của công nhân thợ thuyền bùng nổ, lãnh đạo xứ này có thể khơi động công đoàn gây rối trong các doanh nghiệp quốc tế để giải thích nguyên nhân là sự bóc lột của tư bản nước ngoài.
Trước sau thì công nhân vẫn không được bảo vệ và theo đúng luật thì không được quyền đình công hay sinh hoạt nghiệp đoàn ngoài khuôn khổ công đoàn quốc doanh. Cho nên, tổ chức này là công cụ thi hành chính sách của đảng và ngăn ngừa động loạn xã hội dù có thể gây khó chịu cho các doanh nghiệp quốc tế. Với tất cả những đồn đãi về phép lạ kinh tế, xứ này vân chưa bình thường, dù đã gia nhập WTO được năm năm rồi.
Hỏi: Câu hỏi cuối, theo ông thì Việt Nam nên làm như thế nào để có lợi nhất cho người lao động"
Việt Nam nên theo đó mà khác với Trung Quốc thì mới có lợi cho người lao động và tránh được nhiều bất trắc về sau. Cụ thể là chính quyền chú trọng đến việc nâng cao tay nghề và năng suất công nhân, cho phép công nhân có quyền thành lập công đoàn tự do độc lập và kiểm soát mọi doanh nghiệp, ngoại quốc và nội địa, quốc doanh và tư nhân, để luật lệ lao động do Quốc hội đề ra vì quyền lợi lao động được chấp hành hẳn hoi và nhất là nên chấm dứt việc dùng công đoàn nhà nước làm công cụ của đảng và duy nhất được quyền sinh hoạt.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và công nghệ, toàn cầu hoá – vốn từng được xem là động lực chính thúc đẩy cho tăng trưởng và thịnh vượng – đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Tiến trình công nghiệp hoá và toàn cầu hoá đã đem lại nhiều thành tựu vượt bậc trong suốt thời gian dài qua, từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, đặc biệt là thông qua sự chuyên môn hoá, tự do thương mại và tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính, đại dịch toàn cầu, chiến tranh và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đã khiến mô hình toàn cầu hoá truyền thống bộc lộ nhiều tình trạng bất ổn...
Nhiều thế hệ sống ở Sài Gòn những năm của thập niên 80-90, khi con gà trống của Thương Xá Tax chưa bị bức tử, khi những hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng vẫn là nét thơ mộng của Sài Gòn, có lẽ đều quen thuộc với câu “Chương Trình Truyền Hình Đến Đây Là Hết…” Nó thường xuất hiện vào cuối các chương trình tivi tối, khi chưa phát sóng 24/24. Thời đó, mỗi ngày truyền hình chỉ phát sóng trong một số khung giờ nhất định (thường từ chiều đến khuya) nên hầu như ai cũng có tâm lý chờ đợi đến giờ ngồi trước màn ảnh nhỏ, theo dõi vài giờ giải trí. Đó cũng là chút thời gian quên đi một ngày cơ cực, bán mồ hôi cho một bữa cơm độn bo bo thời bao cấp. Nhắc nhớ chút chuyện xưa, để nói chuyện nay, đang diễn ra ở một đất nước văn minh hàng đầu, từng là niềm mơ ước của biết bao quốc gia về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận.
Trên mạng gần đây lan truyền một bức tranh chuỗi tiến hóa ngược nhại kiểu Banksy - vẽ hình ảnh tiến hóa quen thuộc từ khỉ tiến tới người, nhưng đến giữa chặng đường, một gương mặt ai cũng nhận ra quay lưng đi ngược lại về phía khỉ. Cái dáng ngoảnh đầu ấy khiến tôi chạnh lòng nghĩ đến hình ảnh nước Mỹ hôm nay. Giữa thế kỷ XXI, lẽ ra phải tiếp tục đi tới, nhưng thay vì mở rộng tự do học thuật – ngọn nguồn của sáng tạo – chúng ta lại thấy những dấu hiệu nước Mỹ thoái lui theo một quỹ đạo lạ lùng: thử nghiệm một kiểu “tiến hóa ngược”.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.