Hôm nay,  

Cô Đơn Dưới Đáy

14/12/200600:00:00(Xem: 10989)

Cô Đơn Dưới Đáy

Hoa Kỳ là siêu cường cô đơn - bị cô lập...

"Hội chứng Tiêu Bán Sơn" là tâm lý trống vắng của một người hết còn kẻ thù truyền kiếp nên hết cả lẽ sống. Hiện tượng ấy được Kim Dung minh diễn trong bộ võ hiệp "Thiên Long Bát Bộ", qua mối cừu thù trải dài máy chục năm giữa hai nhân vật Mộ Dung Bác và Tiêu Bán Sơn, phụ thân của Tiêu Phong (hay Kiều Phong).

Khi một nhà sư không tên áo xám tung chưởng giết chết Mộ Dung Bác, Tiêu Bán Sơn bỗng thấy nhẹ người, nhưng lại thê lương trống trải. Và tự hỏi là từ nay mình sống để làm gì….

Đó là truyện lãng mạn trong văn chương hư cấu.

Chuyện thực tế trong chính trị toàn cầu thì Hoa Kỳ không kịp thấy mình cô đơn trống vắng sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ vào cuối năm 1991. Thê thảm hơn, dường như chính người Mỹ ưu tú cũng không biết!

Thời ấy, Cố vấn An ninh của Tổng thống George H. Bush (ông Bush 41) là Brent Scowcroft đã chợt nghĩ ra nhãn hiệu "Trật tự mới của Thế giới" (New World Order) dán lên một cái chai rỗng mà thực ra chưa biết trong chai sẽ chứa những gì. Ông cựu Thiếu tướng Không quân này thuộc trường phái thực tiễn - và chống chủ trương hữu vi hiện nay của Tổng thống George W. Bush -  nhưng thiếu viễn kiến và chẳng biết cái trật tự mới đó là thế nào.

Học giả Francis Fukuyama, một giáo sư Đại học, thì vẽ ra một viễn ảnh hào hùng hơn: "Lịch sử Cáo chung" (the End of History). Lấy cảm hứng từ lý luận Hegel sau khi triều đại Napoléon sụp đổ và các cuộc chiến Âu châu kết thúc, Fukuyama nói đến sự thắng thế tất yếu của chủ nghĩa tư bản và tư tưởng dân chủ trên toàn cầu. Từ đấy, thiên hạ thái bình và chẳng còn cuộc tranh luận nào là đáng kể nữa.

Là một trí thức siêu hạng và chính khách đại tài, Tổng thống Bill Clinton lên nhậm chức từ năm 1993 thì không lý gì đến những khái niệm trừu tượng hay phạm trù uyên áo như vậy. Chẳng khác gì chàng Xuân tóc đỏ đú đởn với bà Phó Đoan hay dợt banh với cô Tuyết trong truyện Vũ Trọng Phụng, ông Clinton rong chơi trong lịch sử.

Khi thì vụt banh qua Bosnia, khi ngỏn ngoẻn hòa giải Israel với Palestine, khi rót đạn vào Kosovo, vì lý do nhân đạo hơn là quyền lợi, ông Clinton đã có tám năm bình an.

Thế giới tưởng như vậy. Dân Mỹ cũng nghĩ như thế. Từ nay Hoa Kỳ là một siêu cường không đối thủ, có thể ban phát đây đó cho nhân lại vài ba cử chỉ hào hiệp và hiếu hòa…

Thật ra, 10 năm sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ, thế giới đã có những thay đổi mãnh liệt hơn nửa thế kỷ chiến tranh nóng lạnh trước đó. Và George W. Bush đang lãnh di sản này, mà không biết. Hoặc chưa biết làm sao…

Sau khi Thế chiến II kết thúc năm 1945, thế giới không bị thế chiến hay đại chiến, điều hãn hữu nếu ta nhớ lại chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870 rồi Thế chiến I năm 1914 qua Thế chiến II năm 1939. Trong giai đoạn gọi là Chiến tranh lạnh ấy, chỉ có vài ngoặc đơn không đáng kể cho các sử gia và trí thức Tây phương, là Cách mạng tại Liên Xô, Trung Quốc hay chiến tranh tại Cao Ly, Việt Nam hoặc đàn áp tại Đông Âu khiến mấy chục triệu người mất mạng.

Ít ra thì không có bom nguyên tử và kinh tế thị trường cùng chính trị dân chủ bành trướng khắp nơi. Thiên hạ quả là thái bình và thịnh vượng hơn trước, với tốc độ chưa hề thấy trong lịch sử. Francis Fukuyama có lạc quan kết luận như trên thì cũng hiểu được nên người ta tạm quên những ngoặc đơn u ám đã thấy trong thế giới cộng sản hay vùng tiếp cận với cuộc cách mạng vô sản hoang tưởng và điên khùng đó - như tại miền Nam Việt Nam.

Suốt nửa thế kỷ "hoà bình" này, Hoa Kỳ là siêu cường có khả năng đối đầu và đối thoại với Liên xô trong khi mở rộng ảnh hưởng gọi là "ổn định" trên thế giới.

Những quốc gia áp dụng quy luật kinh tế tự do thì phát đạt rất nhanh và chuyển dần qua chính trị dân chủ. Họ làm nên phép lạ kinh tế dưới cái dù nguyên tử của Mỹ. Khi Liên xô tự sụp đổ dưới sức nặng tai hại của chủ nghĩa cộng sản, Hoa Kỳ và các nhà lý luận lạc quan của Tây phương bèn kết luận là chủ nghĩa tư bản đã đại thắng.

Kể từ nay, cứ làm như Mỹ là sẽ thành công, những dị biệt trong cách thi hành chỉ là tiểu tiết.

Người ta, từ Scowcroft tới Fukuyama hay Clinton và rất nhiều chiến lược gia uyên bác khác đã không lường ra một sự thể bi đát hơn kể từ khi "lịch sử cáo chung".

Ấn Độ, Pakistan rồi Bắc Hàn và Iran nay đã hoặc sắp có võ khí nguyên tử, chưa kể Israel, qua  lời tiết lộ cố tình vụng về của Thủ tướng Ehud Olmert vào tuần qua. Võ khí tàn sát ấy đang được phổ biến khắp nơi và sẽ có ngày rơi vào tay quân khủng bố. Mà Hoa Kỳ không thể làm gì được để ngăn ngừa.

Võ khí ấy càng dễ phổ biến khi hai nước cừu thù của Hoa Kỳ là Trung Quốc và Liên bang Nga góp phần quảng bá hoặc cản trở nỗ lực gián chỉ của Hoa Kỳ. Hiện tượng ấy bị chìm trong một trào lưu khác: được giải phóng khỏi nỗi lo đại chiến sau khi Liên xô tan rã, các đồng minh cố hữu của Hoa Kỳ đi tìm lấy một định mệnh riêng của mình, trên lưng nước Mỹ.

Từ Pháp tới Nam Hàn, từ Đức, Ý tới Mexico hay Brazil, xứ nào cũng sẵn sàng gióng lên tiếng nói khác và ngược với Mỹ. Liên hiệp quốc trở thành một diễn đàn chống Mỹ gay gắt nhất, với sự cổ võ của truyền thông Mỹ, ở dòng chính lưu.

Sau 15 năm suy sụp, Liên bang Nga đang tự khẳng định lại tư thế đại cường bằng cách gây rối cho Hoa Kỳ trên từng hồ sơ quốc tế, từ Georgia qua Ukraine tới Iran. Sau 25 năm được Hoa Kỳ giải vây và nâng đỡ, Trung Quốc đã trở thành cường quốc kinh tế và mở rộng ảnh hưởng qua Phi châu và Nam Mỹ. Cường quốc này còn muốn trở thành đại cường hải dương có khả năng thách thức Hoa Kỳ trên Thái bình dương. Con con như Venezuela cũng ngồi trên giếng dầu quảng bá tư tưởng chống Mỹ tại Tây bán cầu, có khi còn kín đáo giúp cho quân khủng bố có giấy tờ giả để cùng đoàn di dân nhập lậu vào Mỹ

Trong lịch sử rất mỏng của mình, chưa khi nào ảnh hưởng toàn cầu của Hoa Kỳ lại gặp nhiều trở lực như ngày nay. Thậm chí, chưa khi nào khuynh hướng tự cô lập của Hoa Kỳ lại thắng thế như vậy ở trong nước.

Bên trong, nước Mỹ lạc quan và phóng túng không cần nhìn vào sổ sách kế toán và nhân khẩu của mình: ngân sách bị bội chi, ngoại thương bị nhập siêu, quỹ An sinh Xã hội có ngày phá sản, chế độ bảo hiểm y tế sẽ bị khủng hoảng. Trong khi ấy, dân Mỹ tranh luận về chuyện hôn nhân đồng tính hoặc phá thai và không nên can thiệp quá nhiều vào chuyện thế giới.

Giới trẻ tại Mỹ, thế hệ 18-25 tuổi đang nhìn qua hướng khác. Đa số chỉ quan tâm đến sở thích phù du hay lý tưởng của mình và không muốn nước Mỹ lý vào chuyện thiên hạ.

Vụ khủng bố 9-11 năm 2001 là biến cố đánh thức nước Mỹ, rằng thời "lịch sử cáo chung" cũng mở ra một kỷ nguyên mới, một không gian chưa định hình, một đại dương không có hải đồ. Chính quyền Bush và giới lãnh đạo tư tưởng của Hoa Kỳ có thể thấy đó là cơ hội vạch ra những lý luận hay tư tưởng giải thích cho "một trật tự mới", một "thiên hạ đại thế" khác.

Hoặc những lý do hợp tình để Hoa Kỳ đảm nhiệm vai trò của một đế quốc có từ tâm. Nhưng cuối cùng thì Chính quyền Bush tuột xích và đổ dốc.

Chỉ năm năm sau đó thôi, Hoa Kỳ đã thấy mình cô đơn, không phải trên đỉnh mà dưới đáy.

Ảnh hưởng quốc tế của đệ nhất siêu cường này bị ngăn chặn hay thách thức ở khắp nơi. Kinh hãi hơn vậy, thế giới dễ dàng thông cảm với quân khủng bố, Sunni hay Shia, Hezbollah hay Hamas, Iran hay Syria. Mà sẵn sàng kết tội Hoa Kỳ về mọi tai họa của nhân loại, từ chuyện khủng bố đến nhiệt hoá địa cầu. Cử tri Mỹ cũng phản ứng như vậy trong cuộc bầu cử vừa qua. Dân chủ chính trị và tự do mậu dịch cho thế giới nghèo đói chỉ là chuyện hão huyền, không đáng kể. Mối nguy bị khủng bố cũng vậy!

Ông Bush còn hai năm để tìm ra một hướng khác cho nước Mỹ - là điều rất khó sau 15 năm ngủ quên trên đỉnh.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.