Hôm nay,  

Đổi Mới Trước Wto

23/08/200600:00:00(Xem: 7108)

Khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ bị cạnh tranh và hiệu năng kém lẫn tham nhũng cao của khu vực nhà nước khiến nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, nhân viên bị sa thải...

Việt Nam đang nuôi cả hy vọng lẫn mối lo trong viễn ảnh gia nhập tổ chức WTO. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ đề cập tới những vấn đề trên qua phần trao đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa trong tiết mục chuyên đề do Việt Long thực hiện sau đây.

- Hỏi: Sau loạt bài về bối cảnh giao thương thế giới và sự tan vỡ của vòng đàm phán Doha của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, chúng tôi xin đề nghị là kỳ này ta sẽ tìm hiểu về những thách đố cho Việt Nam trong viễn ảnh gia nhập WTO, một vấn đề đang được mọi giới quan tâm tại Việt Nam. Trước hết, thưa ông, những yếu tố nào về bối cảnh giao thương quốc tế là những điều Việt Nam cần chú ý nhất.

- Việt Nam sẽ gia nhập WTO nên thêm cơ hội giao dịch mua bán mà cũng gặp sức cạnh tranh mãnh liệt hơn từ bên ngoài. Kể từ khi trở thành hội viên WTO, Việt Nam sẽ bị chi phối mạnh bởi những luật lệ và cam kết quốc tế bao trùm lên hệ thống luật lệ quốc gia. Nếu thiếu am hiểu về khung cảnh luật lệ quốc nội và quốc tế ấy, người Việt Nam sẽ chết kẹt ở giữa. Vì vậy, cải tổ luật lệ và thông tin minh bạch là những đòi hỏi cấp bách nhất để mọi người cùng biết luật chơi cho rõ ràng hơn và kịp thời sửa đổi tính toán kinh doanh và sinh hoạt của mình.

Yếu tố thứ hai là trong khuôn khổ WTO, ách tắc từ sự đổ vỡ của vòng Doha sẽ khiến khu vực nông nghiệp bị thiệt thòi nhất. Đây là khu vực có mức tăng trưởng thấp và sức cạnh tranh kém nên sẽ bị hậu quả bất lợi nhất của hiệu ứng WTO. Mà đây cũng lại là khu vực sinh hoạt của đa số dân chúng, nên những chấn động kinh tế dễ gây ra khủng hoảng xã hội nhất.

Yếu tố thứ ba là vì những bế tắc trong khuôn khổ WTO, các nước sẽ tranh thủ để đạt thỏa ước song phương và cấp vùng, thí dụ như hiệp định song phương Hoa Kỳ thương thuyết với Việt Nam hoặc Nam Hàn, Singapore, hay các hiệp định đa phương mà một số quốc gia đang muốn ký với 10 nước ASEAN. Trong bối cảnh ấy, ta sẽ có loại thỏa thuận song phương, thỏa thuận đa phương và những cam kết chung trong khuôn khổ WTO. Những vấn đề rất rắc rối này sẽ chi phối tính toán kinh doanh và ngoại thương lẫn an ninh chiến lược của các nước. Việt Nam cần hiểu rõ sự thể đa diện và phức tạp ấy để kịp thời tự đổi mới và ứng phó với từng loại thách đố trong tương lai.

- Hỏi: Xin hỏi ông một câu về yếu tố thứ ba ấy. Cụ thể thì nó sẽ chi phối Việt Nam ra sao"

- Tôi xin đơn cử ngay một thí dụ: tuần này, Hoa Kỳ đang muốn ký tạm thỏa ước thương mại với Hiệp hội ASEAN nhưng bị vướng là vì ASEAN có một hội viên không tôn trọng nhân quyền là Myanmar, hay Miến Điện. Cũng vậy, Hoa Kỳ đang muốn thông qua quy chế mậu dịch bình thường và vĩnh viễn với Việt Nam, nhưng cũng lại vướng về vấn đề nhân quyền. Mặc dù chính quyền của Tổng thống Bush hết sức vận động việc bình thường hóa quan hệ mọi mặt với Việt Nam và tăng cường phát triển giao thương với ASEAN, nhưng nhân quyền vẫn là một chướng ngại. Sẽ có lúc lãnh đạo Việt Nam hay ASEAN phải cân nhắc xem việc hạn chế nhân quyền và dân chủ trong một số khu vực của mình có là chính đáng hay không.

Trong bối cảnh quốc tế mà phản ứng bảo hộ mậu dịch hay giới hạn ngoại thương sẽ còn tăng, Việt Nam nên giành cơ hội mà hoàn tất việc bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ bằng cách bình thường hoá quan hệ với chính người dân của mình. Sáng suốt hay không là ở đó.

- Hỏi: Bây giờ, nói về một số việc cụ thể ngay tại Việt Nam. Trong các kỳ trước, ông có phát biểu một số điều có thể gây bất đồng ý kiến, là cái định hướng xã hội chủ nghĩa dẫn tới nạn tham nhũng hợp pháp. Lần này, xin ông giải thích cho thính giả rõ quan điểm của ông.

- Đất nước là của toàn dân, không của riêng nhà cầm quyền, là đảng hay nhà nước đang lãnh đạo và cai trị người dân. Nếu là của toàn dân, vì sao lại có một khu vực của nhà nước được coi là khu vực xương sống cần bảo vệ" Tôi nêu rõ thí dụ là cái định hướng xã hội chủ nghĩa đã dẫn đến việc bảo vệ doanh nghiệp nhà nước, một khu vực thu hút tài nguyên và công sản của cả nước để đóng góp gần 40% tổng sản lượng quốc dân mà chỉ tuyển dụng có hơn 10% dân số lao động, có năng suất kém nhất so với các khu vực tư doanh, có vốn đầu tư nội địa hay nước ngoài, nhưng công nhân viên lại lĩnh lương cao, không xứng với hiệu năng lao động.

Khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ bị cạnh tranh và hiệu năng kém lẫn tham nhũng cao của khu vực nhà nước khiến nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, nhân viên bị sa thải. Cái định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ bị thách đố bởi định hướng kinh tế tự do và nếu luật lệ không sớm thay đổi thì chúng chỉ cột tay doanh nghiệp Việt Nam khi mở cửa cạnh tranh với thế giới. Mà Luật lệ chỉ có thể thay đổi khi lãnh đạo dám thay đổi tư duy và cơ chế, vì vậy, tôi cho là Việt Nam cần đổi mới lần nữa và đây là thách đố mà cũng là trách nhiệm của tầng lớp lãnh đạo mới.

- Hỏi: Còn hiện tượng ông gọi là tham nhũng hợp pháp và so sánh với trường hợp Trung Quốc"

- Đó là thí dụ cướp đất của dân, một hiện tượng phổ biến tại Trung Quốc và Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá ngoài da, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khiến một số đảng viên, nhất là ở địa phương, có quá nhiều quyền  quy hoạch và phân bố đất đai. Nhờ quyền hạn ấy, họ mặc nhiên trưng thu đất đai của nông dân để bắt kịp đà công nghiệp hoá và đô thị hóa ngoài ven đô hay ngoại ô thành phố mà không đền bù thỏa đáng.

Hiện tượng ấy gây bất mãn trong dân chúng, khiến họ biểu tình khiếu kiện năm này qua năm khác mà chính quyền không hề giải quyết. Trên đường Mai Xuân Thưởng của thủ đô Hà Nội, dân chúng đã hàng ngày biểu tình, thậm chí có một phụ nữ đã tự thiêu năm ngoái mà vì sao chính quyền chưa giải quyết" Ở trong Nam cũng thế, tháng Tư vừa rồi, cư dân các tỉnh như An Giang, Kiên Giang hay Cần Thơ đã gửi thư tố cáo đảng viên cán bộ cướp đất của họ; tại Saigon, Hội đồng Nhân dân Thành phố cũng than phiền về hệ thống luật lệ đất đai quá thuận tiện cho tham nhũng và đầu cơ, nhưng không ai giải quyết nên vấn đề vẫn còn nguyên.

Lần trước tôi có nói về việc đảng Cộng Sản Việt Nam gây quỹ Đảng, liên quan đến những hiện tượng vừa nói. Tôi cho là chính sách gây quỹ vẫn là chính sách được theo đuổi từ mấy chục năm nay. Nếu không, vì chính sách thì tại sao Đảng và Nhà nước Việt Nam không thể giải quyết được những khiếu kiện của người dân" Có trường hợp như ở Nha Trang, Thủ tướng Khải thời ấy đã chỉ thị giải quyết đúng lý, nhưng địa phương dựa vào hệ thống Đảng, không tuân hành, chính phủ cũng không làm gì được. Lý do chắc chắn là vì các đảng bộ địa phương thông qua bộ máy chính quyền đã thực hiện chính sách của Đảng, nên bộ Chính trị cũng không thể có biện pháp nào được, đành bị bế tắc mà không thể giải thích. Nếu địa phương sai phạm về nguyên tắc chẳng hạn, thì không khó giải quyết như vậy. Thêm nữa là từ chỗ làm cho Đảng, các đảng bộ còn có thể lợi dụng để tham nhũng riêng cho mình...

- Hỏi:  Và vì thế ông nói vấn đề tham nhũng sẽ vẫn còn nguyên"  

- Thì theo tôi, vấn đề sẽ chẳng còn nguyên mà sẽ gia tăng vì sau khi Việt Nam vào WTO, giới đầu tư nước ngoài sẽ hồ hởi bỏ vốn vào Việt Nam và giới chức Việt Nam sẽ lại hồ hởi trưng thu và đầu cơ đất đai của dân để liên doanh với nước ngoài. Lần này thì không phải do gây quỹ Đảng, nhưng hệ thống luật lệ và chính sách của Việt Nam vẫn theo đà, bao che cho tham nhũng và dẫn tới chế độ tham nhũng hợp pháp vì phù hợp với luật pháp hiện hành.

- Hỏi: Như vậy có phải chuỗi lý luận của ông có thể được diễn giải là: Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nông dân Việt Nam sẽ bị thiệt hại nhất vì những bế tắc của vòng Doha khiến nông nghiệp các nước giàu vẫn được bảo vệ. Trong khi ấy, những triển vọng về công thương nghiệp và dịch vụ nhờ WTO sẽ mở ra nhiều cơ hội kinh doanh mới mà cũng là cơ hội lấn đất của nông dân vì chế độ tham nhũng hợp pháp hiện hành. Có phải như vậy không"

- Thưa đúng vậy và trong khi lãnh đạo Bắc Kinh đã thấy ra điều ấy nên cố gắng thay đổi theo đường hướng mới của kế hoạch năm năm 2006-2010, thì lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa. Cũng dễ hiểu thôi, vì tầng lớp lãnh đạo mới của Bắc Kinh lên cầm quyền từ năm 2002 mãi đến 2005 mới thấy ra và thay đổi, mà chưa mấy thành công. Nhưng, Việt Nam không nhất thiết cứ phải đi sau và lại học bài chậm hơn họ, nghĩa là sau khi họ bắt đầu bị khủng hoảng vì nông dân nổi loạn và vì đảng viên bảo vệ đặc quyền nên cưỡng chống việc cải tổ của trung ương.

- Hỏi: Ông vẫn thường so sánh Việt Nam với Trung Quốc, hai trường hợp ấy có gì tương đồng từ chính sách đến hiện trạng"

- Vì nhiều cấp lãnh đạo Việt Nam vẫn coi cái gọi là “xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Quốc là khuôn vàng thước ngọc”. Nó cho phép kinh tế tăng trưởng nhanh mà đảng vẫn giữ quyền lãnh đạo khiến Trung Quốc đang trở thành một thế lực kinh tế quốc tế.

Thực ra, hệ thống kinh tế chính trị xứ này có những nhược điểm Việt Nam cũng đã gặp là tăng trưởng thiếu quân bình và thiếu phẩm chất xã hội và trung ương hiện không thể quản lý nổi một nền kinh tế có quá nhiều dị biệt và không điều động nổi những cơ sở đảng đã quá giàu mạnh nhờ chiến lược kinh tế cũ, thời Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân.

Từ bên ngoài, khi thấy các doanh gia Mỹ tới Trung Quốc không phải để tìm cách đầu tư vào Hoa lục mà để giúp các doanh nghiệp và cán bộ Trung Quốc tìm cơ hội đầu tư vào thị trường Mỹ chẳng hạn, ta phải đoán là hiện tượng thoái trào đã bắt đầu. Đảng viên cán bộ Hoa lục đang tẩu tán tài sản ra ngoài trong khi lãnh đạo tại Bắc Kinh dồn sức phát triển nông thôn và các vùng nghèo đói trong lục địa để tránh cơn động loạn có thể bùng nổ trong những năm tới. Tại sao Việt Nam cứ phải đi vào vết xe đổ của thiên hạ và chờ đợi tái diễn một vụ khủng hoảng như tại Đông Á năm 1997 rồi mới sửa sai" Lần này, vì cơ chế mở ngỏ do quy luật WTO, hậu quả của khủng hoảng sẽ dữ dội và trực tiếp hơn cho Việt Nam.

- Hỏi: Chúng ta đi vào phần cuối của chương trình. Thưa ông, Việt Nam cần làm gì để khỏi lăn vào vết xe đổ ấy"

- Lãnh đạo Việt Nam cần bình thường hoá quan hệ với người dân của mình bằng cách chấm dứt tinh thần độc đoán và nghi kỵ khi hạn chế quyền tự do của họ. Đừng tìm cách mua chuộc hay thuyết phục nước ngoài là mình đã có tự do nhằm tranh thủ vài lá phiếu biểu quyết đâu đó trong Quốc hội Mỹ mà nên thực tế thi hành việc ấy, vì đấy là điều có lợi cho nước Việt Nam và dân Việt Nam. Thứ hai, nhiều giới chức kinh tế hay nông nghiệp đã thấy ra là phải quan niệm lại chính sách phát triển nông nghiệp. Lãnh đạo đảng phải cho Quốc hội và Chính phủ rộng quyền xét lại chính sách và luật lệ theo thủ tục khẩn cấp thì mới kịp thời ứng phó.

Nông nghiệp vẫn lạc hậu và thiếu tự do nên nông gia bị thất thâu, giá nông phẩm tăng hay giảm họ vẫn bị thiệt nhất và nông ngư sản vẫn khó cạnh tranh vì phẩm chất và tiêu chuẩn vệ sinh thấp. Nó lạm dụng chiến lược thâm canh và tận dụng phân bón lẫn hoá chất nên gây hủy hoại cho môi sinh mà thế hệ sau sẽ hứng chịu. Nó bất công vì khiến đảng viên cán bộ và các doanh nghiệp nhà nước làm giàu nhờ sách lược đổi mới ngoài da và chế độ quản lý đất đai phi lý, và khiến nhiều địa phương vẫn nghèo đói lạc hậu so với các thành thị. Nông dân bị thiệt trên thị trường quốc tế, có được quyền sử dụng đất thì lại gặp đảng viên có quyền trưng thu và cưỡng đoạt. Sau những chọn lựa chiến lược ấy rồi, ta mới nói đến các vấn đề kỹ thuật về nông nghiệp và phân phối hay chế biến nông sản trong kỷ nguyên cạnh tranh toàn cầu.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.