Hôm nay,  

Vào Sân WTO

01/11/200600:00:00(Xem: 9115)

Vào Sân WTO

...tôi e rằng dân ta sẽ đi chân đất vào sân banh quốc tế...

Nếu mọi sự diễn tiến như nhà cầm quyền Hà Nội trông đợi, sau tuần tới, Việt Nam đã có thể trở thành hội viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Người ta đã nói rất nhiều đến những triển vọng của một kỷ nguyên mới, Diễn đàn Kinh tế đài RFA kỳ này sẽ chú trọng đến các vấn đề sẽ thử thách khả năng ứng biến của Việt Nam qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, do Nguyễn An thực hiện sau đây.

RFA: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, sau gần 12 năm chờ đợi và đàm phán, Việt Nam gần như chắc chắn sẽ được gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào ngày Thứ Ba mùng bảy tháng 11 tới. Cảm nghĩ đầu tiên của ông, như một chuyên viên kinh tế, là thế nào"

NXN: Đây là loại tin mừng nhức tim.

Tin mừng vì cuối cùng thì Việt Nam có cơ hội bước ra sân chơi lớn. Nhưng đây là tin mừng nhức tim vì việc gia nhập sân chơi WTO vẫn chỉ là mối quan tâm hay cơ hội cho một thiểu số trong khi luật chơi của thế giới bên ngoài lại thay đổi cách kinh doanh và sinh hoạt của cả xã hội. Cho nên, thượng tầng ở trên nói đến triển vọng, thậm chí còn uống xâm banh ăn mừng, chứ ở bên dưới thì đa số người chưa biết, thậm chí chưa cần biết về những thay đổi sẽ chi phối cả xã hội. Vì vậy, tôi e rằng dân ta sẽ đi chân đất vào sân banh quốc tế.

RFA: Cái hình ảnh “đi chân đất vào sân banh quốc tế” có vẻ không đựơc phấn khởi cho lắm. Vừa rồi ông nói là “thượng tầng ở trên nói đến triển vọng”, nhưng đâu phải chỉ ở thượng tầng ở trên mới nói đến triển vọng" Thật ra, truyền thông và doanh giới quốc tế cũng nói đến triển vọng này, còn ngợi khen Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng cao nhất nhì thế giới, có thể sánh với Trung quốc, và họ bày tỏ hy vọng là Việt Nam sẽ sớm trở thành một con cọp kinh tế Đông Á sau khi vào WTO.

NXN: Tôi gọi đó là "hiệu ứng phòng thương mại quốc tế", là tác động của doanh giới quốc tế vào truyền thông để cho lãnh đạo các nước nghèo uống nước đường.

Tôi xin giải thích cho rõ hơn:

Lãnh đạo đừng cứ đọc báo Mỹ và phiên dịch những gì họ khen ngợi Việt Nam mà phải tự “giải ảo”, tự mình giải phóng khỏi ảo tưởng. Từ ba bốn chục năm trước, các xứ tân hưng Đông Á, như Nam Hàn, Đài Loan, rồi Malaysia, Thái Lan, v.v… đều có giai đoạn khởi phát với tốc độ tăng trưởng 8-9% như Việt Nam ngày nay, nhưng với tỷ lệ công bằng xã hội cao hơn rất nhiều, tức là mức dị biệt giàu nghèo hẹp hơn.

Hãy lấy ví dụ dễ hiểu, từ mặt đất mà muốn cất cánh, các phi cơ đều phải bốc lên với góc độ rất cao ban đầu vì khởi đi từ mức cực thấp. Một khi đã trở thành nền kinh tế tân hưng, phát triển, họ có tốc độ tăng trưởng thấp hơn nhưng trên một nền tảng giàu có hơn, nên dù chỉ tăng trưởng có 5% môt năm, thì mức 5% ấy vẫn giàu hơn mức 8,5% của Việt Nam gấp bội, mà lại ít có vấn đề xã hội hơn.

RFA: Cám ơn ông đã giải thích chuyến “uống nước đường”, mặc dù thật ra thì cũng chẳng ngọt cho lắm. Thế còn cụm từ "hiệu ứng phòng thương mại quốc tế" thì có nghĩa là gì"

NXN: Phòng thương mại là hiệp hội quy tụ doanh giới để vận động cho quyền lợi của doanh giới. Doanh giới quốc tế nhìn thấy triển vọng đầu tư vào Việt Nam để hoặc bán hàng cho thị trường Việt Nam hoặc khai thác lợi thế kinh tế tại Việt Nam để tái xuất khẩu ra xứ khác. Sau khi gia nhập WTO, luật lệ Việt Nam được giải tỏa sẽ cho doanh giới cơ hội ấy nên họ vui mừng và vận động. Đây là điều đúng và cũng có lợi cho Việt Nam nhưng ta chẳng nên quên rằng tác động ấy chỉ thu hẹp vào một số khu vực ngành nghề của xã hội, trong khi ấy luật chơi sẽ chi phối cả xã hội và nhiều thành phần hay địa phương, mà những người trong cuộc lại chưa biết.

RFA: Dường như ông thường có phản ứng bi quan trước tin vui vì vậy mới mô tả là "đi chân đất vào sân banh quốc tế". Thưa ông đi chân đất thì ắt là gặp lắm thử thách. Thế ông ông muốn nói đến những thử thách nào"

NXN: Trong kinh tế không có chuyện bi quan hay lạc quan. Chúng ta thường nói trên diễn đàn này rằng bất cứ một biến cố hay chính sách kinh tế nào cũng có người lãi người lỗ, trong ngắn hạn hay về trường kỳ. Lãnh đạo kinh tế sáng suốt hay không là do khả năng thẩm định hậu quả về lâu dài và trên toàn cảnh, nên chẳng vì lợi ích cho một thành phần lại quên lãng những thiệt hại cho các thành phần khác mà nhất thời mình nhìn chưa ra, tính chưa nổi.

Một thí dụ cụ thể để minh diễn chuyện ấy: Việt Nam thực sự chưa thoát khỏi chế độ bao cấp của doanh nghiệp nhà nước và loại công ty của tay chân nhà nước ngụy danh là tư doanh hay dân doanh. Khi Việt Nam gia nhập WTO, các cơ sở ấy có ưu thế liên doanh hay hợp tác với doanh nghiệp nước ngoài và coi như đi giày da đá trên sân banh quốc tế, với sự dìu dắt của quốc tế.

Nhưng bất công xã hội của sự kiện ấy là đặc quyền đặc lợi của một thiểu số vẫn gia tăng, với hiện tượng đã từng có, thí dụ như lại trưng thu đất đai của nông dân để liên doanh với nước ngoài vì luật lệ bất thường về quyền sử dụng đất. Trong khi đại đa số dân chúng vẫn đứng ngoài nếu không kịp, hay không có điều kiện, tiến vào nơi người ta gọi là hội nhập toàn cầu đó. Hậu quả là họ sẽ oán trách kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và cả tổ chức WTO.

RFA: Đấy là một loại rủi ro mà tôi có cảm tưởng là ông muốn gián tiếp cảnh báo. Ông nói ra cho rõ hơn được chăng"

NXN: Nói cho rõ thì 80% dân số Việt Nam, tức là hơn 60 triệu người, vẫn sống ở thôn quê với tỷ lệ bần cùng nghèo khó bình quân cao gấp ba dân số thành thị khiến cho 90% các hộ nghèo nhất là các gia đình hiện sống ở thôn quê. Họ sống bằng gì" Chủ yếu vẫn bằng canh nông và các nghề phù trợ nông nghiệp. Bây giờ, họ nghe nói là sau khi gia nhập WTO, họ có hy vọng xuất khẩu nông ngư sản ra thế giới bên ngoài, nhưng làm cách nào và trong điều kiện gì, về vệ sinh hay phẩm chất và thu mua tiếp thị, thì họ chưa biết và chưa được biết.

Trong khi ấy, WTO cũng cho đủ loại tư doanh quốc tế đổ bộ và phân phối hàng bền, ngon bổ với giá rẻ cho Việt Nam thì làm sao nông gia và tư doanh về dịch vụ Việt Nam cạnh tranh với thiên hạ ngay trên sân chơi của mình, nói chi đến chuyện thi đua trên sân chơi của quốc tế"

Vượt nổi ưu thế bao cấp của doanh nghiệp nhà nước đã là nỗi khó cho tư doanh và nông gia, nay lại gặp sức kết hợp của doanh gia quốc tế với doanh nghiệp nhà nước hay các công ty của tay chân nhà nước thì tư doanh đích thực và nông dân sẽ xoay trở làm sao"

RFA: Theo chúng tôi hiểu thì WTO cũng quy định là Việt Nam sẽ phải giải tỏa luật lệ cho thông thoáng và phải chấm dứt chế độ bảo hộ cho doanh nghiệp nhà nước cho nên tình trạng khu vực nhà nước khai thác ưu thế hiện có để trục lợi nhờ WTO sẽ phải hết. Ngoài ra, phát triển tư doanh cũng là một đòi hỏi được quốc tế nói tới từ lâu. Liệu trường hợp tiêu cực như ông vừa nói có thể sẽ chấm dứt hay không"  

NXN: Chúng ta có một hiện tượng tiêu cực khác mà tôi xin gọi là "trí tuệ khôn lanh" của Việt Nam. Khi biết luật chơi sẽ đổi thì những kẻ lanh lợi nhất sẽ thay đổi để kịp phù hợp với luật chơi mới mà vẫn giữ được đặc quyền đặc lợi đang có. Ai sẽ mau mắn làm được việc phù phép đó" Câu trả lời là những người có thông tin và có quan hệ tốt để kịp thời cải sửa mặt ngoài mà vẫn giữ được lợi thế ở trong. Mọi quốc gia chuyển hướng kinh tế đều có thành phần khôn lanh ấy và xứ nào thông tin càng ít minh bạch thì thành phần ấy càng làm giàu nhanh mà đa số vẫn đứng ngoài. Chưa kể là khi bị cạnh tranh bất chính như vậy, tư doanh sẽ khiếu nại với ai"

RFA: Đồng ý với ông rằng tình trạng ấy là có thực và trong tương lai, chắc chắc chúng sẽ tự thay đổi để mà tiếp tục phát triển hơn nữa. Như vậy ông nghĩ là Việt Nam cần làm gì để tránh được tình trạng đó"

NXN: Trước tiên là lãnh đạo phải có thực tâm muốn tránh chuyện đó, là điều tôi vẫn hoài nghi. Từ khi Việt Nam có hy vọng gia nhập WTO sau khi vượt qua cửa ải Hoa Kỳ, chúng ta đã nói trên diễn đàn này là phải có một cuộc cách mạng về thông tin để nhà cầm quyền trình bày cho quốc dân biết về những đòi hỏi của quốc tế và những cam kết của mình. Điều đó chưa hề có.

RFA: Thưa ông, vừa rôi ông Trương đình Tuyển cho biết sẽ chuyển tất cả những tài liệu ấy sang tiếng Việt một cách nhanh chóng và phổ biến.  Như vậy, thì có thể coi đó như một cuộc “Cách mạng thông tin không"”

NXN: Vâng, đó chính là một cơ hội cho một cuộc cách mạng về thông tin!

Nhưng không phải là ai ai cũng cần biết rõ và thuộc lòng 560 trang dày cộm về mọi quy định Việt Nam đã thỏa thuận với WTO về hàng hoá chẳng hạn, hoặc 60 trang về dịch vụ. Nhưng lãnh đạo có thực tài và thực tâm thì đã phải biết phân giải hồ sơ đồ sộ này thành từng phần cụ thể dễ đọc dễ hiểu cho từng ngành nghề liên hệ để nếu ai muốn tham khảo thì còn có nơi để tìm để biết.

Vấn đề là lãnh đạo ở trên thì quen phản ứng ém nhẹm và phân cấp thông tin vì sợ sệt chưa lường được hậu quả, mà xã hội dân sinh ở dưới chưa có các hiệp hội do các ngành nghề tự thành lập để thông tin cho các thành viên và tranh thủ quyền lợi của mình. Còn nếu để thư lại nhà nứơc dịch cả ngàn trang giấy với cái nỗi lo sợ là sẽ lại dịch sai cả những chức năng đã cam kết, thì mình sẽ lại trễ trong việc chuẩn bị.

RFA: Như vậy là chỗ muốn có một cuộc cách mạng thông tin, muốn phổ biến ra tất cả những tin tức liên quan đến WTO cho đến khi những thông tin đó hữu ích cho mọi người thì rõ ràng nó vẫn còn một khoảng cách. Vậy thưa ông, một cách cụ thể thì ông có đề nghị thiết thực như thế nào về việc thông tin này"

NXN: Đề nghị cụ thể đầu tiên là đừng bắt bỏ tù những người muốn tìm hiểu và quảng bá thông tin! Thứ nữa là đừng cho rằng nhà nước là người duy nhất quyết định về mọi việc, dù là vì lợi ích hay hạnh phúc của toàn dân. Vượt qua khung cửa hẹp của tư duy này rồi thì nên phát động một phong trào rộng lớn để toàn dân cùng tìm hiểu về WTO.

Nếu việc áp dụng luật lệ thuộc trách nhiệm của nhà nước đối với quốc tế thì việc tìm hiểu, phiên dịch và diễn giải hướng dẫn người dân về những cam kết với WTO là thẩm quyền và trách nhiệm của mọi người. Mà đừng nên đánh giá thấp người dân về khả năng thông hiểu và phiên dịch ngoại ngữ! Mỗi thành phần nghề nghiệp đều có thể tìm hiểu và đãi lọc trong hồ sơ tổng thể của WTO những phần sẽ chi phối ngành nghề của họ và sẽ được tự do quảng bá thảo luận góp ý để tìm ra giải pháp ứng phó, khai thác, với lời ghi chú rằng đây không phải là bản dịch chính thức, mà chỉ mang tính cách hướng dẫn thôi.

RFA: Như vậy, ông coi đó là một ưu tiên trước mắt"

NXN: Vâng, nếu nhà nước chỉ thông tin nhỏ giọt theo thói cũ thì sẽ lại đẻ ra nạn đầu cơ thông tin để trục lợi bất chính, tức là chỉ có tiết lộ từng phần thôi, tức là bán những thông tin ấy để lấy tiền. Ngược lại, nếu bản văn, dù còn là ngoại ngữ, được công bố rõ ràng, thì từng thành phần sẽ biết vì lợi ích riêng tìm ra những gì liên hệ mà phiên dịch và quảng bá. Tất nhiên, văn kiện của nhà nước mới có giá trị pháp lý nhưng nội dung luật chơi mới là điều mà mọi người trong cuộc phải được biết. Thành phần nào phiên dịch chính xác và diễn giải rõ rệt nhất sẽ được tín nhiệm và việc thi đua tìm hiểu đó sẽ gây ra chấn động tâm lý cần thiết để người dân ý thức được là Việt Nam đang bơi ra biển lớn khởi đầu cho cuộc hành trình lớn. Khi các phòng thương mại hay công đoàn của thiên hạ đã mổ xẻ vấn đề để xử trí còn ta cứ uống xâm banh tự khen để dân chúng bị kéo ra khơi mà chưa có hải đồ thì nguy! Chưa nói đến cải cách luật lệ chính sách, tối thiểu thì cũng phải như vậy khi nhìn ra thách đố hậu WTO.

RFA: Mà đó là điều tối thiểu phải có"

NXN: Vâng.

RFA: Xin cảm ơn kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.