Hôm nay,  

Ông Bush Đánh Phé

06/01/200700:00:00(Xem: 15157)

Ông Bush Đánh Phé

...Quốc hội đã yên vị, đến lượt ông Bush rút bài...

Trong dịp nghỉ lễ vừa rồi, nhiều người đã đi thử thời vận tại các sòng bạc quanh khu vực. Và không ít người đã bị... hụt vốn. Tưởng rằng đi gỡ bóng đèn Giáng sinh của Casino ai ngờ lại trả tiền điện cho họ. Khi ấy, một số người cầm tinh con cà cuống có thể tự nhủ. Rằng nếu châm vốn đánh thêm, biết đâu mình chẳng thu lại khoản tiền đã mất mà có khi còn lời nữa.

Những con bạc như thế có thể thông cảm với Tổng thống George W. Bush.

Từ cuộc bầu cử vừa rồi, cả thế giới đều kết luận rằng Hoa Kỳ cạn vốn hụt hơi tại Iraq nên  chẳng chóng thì chầy, Mỹ sẽ tháo chạy. Khi thế giới kết luận như vậy, các lãnh tụ Sunni, Shia và Tehran cũng nghĩ vậy và kết luận: hết sợ Mỹ mà cũng chẳng nên tin Mỹ.

Đồng minh của Mỹ tại Iraq hết tin vào sức bảo vệ và lời cam kết của đệ nhất siêu cường, như vậy thì dại gì mà đi vào một giải pháp chính trị tại Iraq"

Kẻ thù thì hết sợ vì Mỹ sẽ rút và mới rút một ít thì lập tức sẽ bị chính trường ở nhà cho là chưa đủ. Nếu giáng thêm vài đòn chết lính Mỹ là ông Bush sẽ cho rút nhanh hơn. Qua 2008 là coi như hết canh bạc.

Kết cuộc thì Iran sẽ khống chế một xứ Iraq tan nát. Cường quốc Hồi giáo cực đoan này sẽ làm gì thì đó là vấn đề của vị Tổng thống Mỹ sẽ nhậm chức vào tháng Giêng năm 2009. Từ nay đến đó, các lực lượng khủng bố Hồi giáo sẽ có điều kiện chuẩn bị cho một đợt tung hoành nữa, bất kể tới khả năng ủng hộ hay ngăn ngừa của Iran. Thế giới sẽ loạn to. Và lịch sử sẽ phán xét: vì thất bại Iraq, ông Bush làm quân khủng bố thắng lớn.

Khi thấy nước Mỹ bị xuất huyết tại Iraq, dân Mỹ đòi gom tiền rút lui khỏi sòng bạc toàn cầu mà họ chẳng hiểu gì về luật chơi. Vì vậy, sau khi Ủy ban Baker-Hamilton đánh trống thổi kèn quảng cáo kế hoạch 79 điểm để tung màn khói đẹp cho ông Bush rút quân, mọi người đều chờ đợi là ông Bush sẽ quyết định rút.

Nếu là một chính khách, ông Bush sẽ làm như vậy.

  Nhưng, George W. Bush không là một vị tổng thống chính khách mà muốn làm một vị tổng thống cách mạng.

Ông muốn đánh Iraq để dằn mặt quân khủng bố mà bây giờ chính mình lại bị dằn mặt ở nhà và để lại một di sản tai hại cho xứ sở. Ông là người sùng tín và tin là Thượng đế  đã trút lên vai mình một trọng trách thì mình không thoái thác được. Ông cũng là một người liều lĩnh, nếu thấy đèn vàng thì đạp xe nhấn tới chứ không đạp thắng. Ông sẽ hành xử theo cách suy tính của mình với Thượng đế, Lịch sử và Quyền lợi Tối thượng của Tổ quốc, v.v...

Vả lại, ông còn trọn hai năm để thực thi quyền hiến định của một Tổng thống.

Sau khi tham khảo ý kiến của mọi giới, ở trong và ngoài chính quyền, ông Bush sẽ đề nghị với quốc dân một chiến lược khác cho Iraq.

Ngược với nhận định của đại đa số, ông Bush không đạp thắng và cài số lùi xe mà sẽ cho xe chồm tới. Những chi tiết được tiết lộ ra cho thấy ông sẽ không rút quân mà đôn quân. Nói cho chính xác hơn, sẽ cho quân chồm tới, nhất là tại khu vực Baghdad. Chữ “surge” phải hiểu là tăng quân nhưng nhất thời thôi.

Trước hết, ông xào lại cỗ bài.

Một số nhân vật của chiến lược cũ sẽ lui. Sau khi Tổng trưởng Donald Rumsfeld phải từ chức, đến Giám đốc Tình báo Quốc gia John Negroponte, Tư lệnh Lực lượng CENTCOM từ Trung Á đến Trung Đông là Tướng John Abizaid và Tư lệnh Lực lượng Iraq là Tướng George Casey đều sẽ nghỉ, Đại sứ Mỹ tại Baghdad là Zalmay Khalilzad sẽ về New York thay ông Bolton...

Như một Gary Cooper đơn độc trong phim High Noon, ông Bush sẽ cô đơn và dũng cảm quyết định lấy. May ra còn có Condi, nếu không quá lo chuyện Bắc Hàn và Trung Quốc.

Thực ra, trong chiến lược đó, ông Bush không phải là người nông cạn hay dại dột.

Ông biết rằng mọi giải pháp đều là bất toàn, không lý tưởng. Trách nhiệm của chính quyền ông là đã vào Iraq và để lại trên bàn cờ những lá bài rất tệ. Vì vậy, ông sẽ không bỏ chạy mà nhồi tiền đánh tiếp.

Trước hết, trong toàn khu vực, Hoa Kỳ đang có một đối tác khó chơi là Iran. Chính quyền Bush đã diệt Saddam Hussein cho các Giáo chủ tại Tehran, lại không làm họ sợ mà ngã xõng xoài tại Iraq. Bây giờ, Iraq có loạn hay trị thì cũng do Iran quyết định một phần. Ba phe Kurd, Sunni và Shia có sống chung được với nhau hay không cũng do “thiện chí” của Tehran đằng sau phe đa số là Shia. Lebanon hay toàn cõi Trung Đông có yên hay không thì cũng do Tehran, kẻ chủ chi cho lực lượng Hezbollah.

Với Hoa Kỳ thì nói chuyện phải quấy với Tehran là điều bất khả - và trước mắt còn bất lợi - về chính trị. Vì vậy, mọi giải pháp ngoại giao với Iran đều tùy thuộc vào thực lực - hay thắng lợi quân sự - của Mỹ tại Iraq. Ủy ban Baker-Hamilton đã ngụy biện khi nói răng trong thời Chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ vẫn nói chuyện với đối thủ là Liên Xô thì vì sao không nói chuyện với Iran" Ngụy biện – và thành phần ưu tú này không dốt nát nên sự ngụy biện chỉ là phép gian manh kiểu Kissinger – vì với Liên Xô, Hoa Kỳ còn có cái thế để đế quốc này e ngại nên mới nói chuyện hoà dịu. Hoa Kỳ không có cái thế ấy với Iran vì đã tuột xích tại Iraq và vì thế giới bạc nhược lẫn Liên hiệp quốc đều không làm cho Tehran phải nhượng bộ.

Muốn gián chỉ Iran về chính trị thì phải có đòn bẩy quân sự tại Iraq. Nhưng, tại Iraq, Hoa Kỳ còn có thể làm được gì"

Một là leo thang chiến tranh, đôn thêm quân với một số lượng đáng kể để bẻ gãy hoạt động phá hoại của cả hai phe Sunni và Shia hầu đối thoại chính trị sẽ thay thế bom bay đạn nổ. Quân lực Hoa Kỳ hiện đã bị căng mỏng tới mức nguy ngập. Thời Bill Clinton, nước Mỹ không thể đương đầu một lúc với hai cuộc chiến, ngày nay, Hoa Kỳ đang có hai cuộc chiến đã bước vào năm thứ tư. Và Quân lực Mỹ có những đơn vị tinh binh hiện đại mà không thể có... lính bảo an, cán bộ xây dựng nông thôn hay nhân dân tự vệ để canh chợ cho dân Iraq học tập dân chủ.

Giải pháp thứ hai là theo đề nghị của Baker-Hamilton, hoặc trường phái Kissinger thời Việt Nam, là bắt đầu rút quân, với màn hoả mù đậm hay lạt để che giấu cuộc tháo chạy tùy theo tình hình chính trị tại Mỹ, hơn là tại Trung Đông. Khoảng trống ấy sẽ do Iran đảm đương phần lớn. Các nhà ngoại giao thuộc xu hướng tháo chạy kinh niên đều sẵn sàng tìm ra ra lý lẽ cao đẹp để biện giải cho việc thất trận. Ông Bush biết vậy, cận thần của phụ thân ông đều khuyên như vậy, nhưng ông không là George H. Bush nên mới tìm kế khác.

Kế ấy có thể là giải pháp thứ ba, rút mà không ra. Hoa Kỳ chính thức chấm dứt kế hoạch bảo vệ an ninh cho dân Iraq xây dựng dân chủ, tức là sẽ không dàn quân bảo vệ vùng sinh hoạt của dân chúng và lãnh đạn oan nữa. Đó là rút. Nhưng không ra, vì sẽ đồn quân tại các căn cứ được bảo vệ rất vững để can gián mọi trò phiêu lưu nguy hiểm trong cả khu vực. Nôm na là tái phối trí các đơn vị từ thành phố về các hậu cứ ngoài sa mạc.

 Ngần ấy giải pháp đều có nhược điểm.

Leo thang chiến tranh - đổ thêm năm bảy sư đoàn vào chiến trường Iraq - là chuyện bất khả. Huống hồ là vài trăm ngàn quân cũng chưa thể thắng được hình thái chiến tranh phá hoại và nổi dậy khi mà chính trường và chính khách Hoa Kỳ chủ yếu vẫn chưa hiểu gì về hình thái chiến tranh ấy – dù đã có chuyện Việt Nam! Nước Mỹ không được giáo dục và chuẩn bị cho loại chiến tranh đó nên chỉ biết và muốn đánh nhanh rút gọn thôi.

Khi phải dành chừng 10 sư đoàn cho chiến trường Iraq thì điều ấy có nghĩa là năm sư đoàn đang thực sự đảm đương trách nhiệm, các sư đoàn kia thì đang hồi phục sau kỳ hạn tham chiến, hoặc chuẩn bị lau súng ra về nghỉ ngơi. Nếu lưu giữ các đơn vị này lâu hơn hoặc vét quân ở nơi khác vào thì bộ máy chiến tranh sẽ kiệt sức và lãnh đạo quân đội sẽ khủng hoảng. Khi ấy mà lính Mỹ bị tổn thất nặng hơn nữa thì cả dân lẫn quân đều nổi loạn.

Quy luật ở đây là công chúa mà bị đứt tay là Tổng thống Mỹ bị mắng. Các tướng lãnh trong Ngũ giác đài hẳn đều biết vậy và nói thế với vị Tổng tư lệnh. Nhưng họ sẽ phải chấp hành quyết định của Tổng thống.

Giải pháp rút quân thì khiến cả hai phe Sunni và Shia chẳng cần hòa giải hợp tác với nhau nữa. Họ chờ Mỹ rút là sẽ choảng nhau và muốn cho Mỹ rút nhanh thì cứ choảng ngay các đơn vị Mỹ. Chẳng ai muốn là người lính hy sinh sau cùng trong một cuộc chiến đã tàn nên rút quân kiểu Baker vẫn chỉ là tháo chạy, sau khi cầm hơi cho cho đến 2008.

Giải pháp tái phối trí – rút mà không ra – là điều ít tệ nhất, nhưng vẫn có nhược điểm là để lại một số căn cứ như cá trên thớt, trong thế thụ động. Nó chỉ có giá trị nếu các phe lâm chiến và các nước liên hệ đồng ý được với nhau về một thỏa thuận lâu dài chừng vài năm. Và biết sợ Mỹ.

Suy đi tính lại thì cuối cùng, ông Bush chỉ còn một cách là lại dằn mặt các lực lượng hung đồ với một số đơn vị được nhất thời tăng phái vào khu vực Baghdad, và trì hoãn kỳ chuyển quân của các đơn vị mãn hạn. Quân số được nhồi thêm là bao nhiêu thì người ta chưa biết nhưng về cả mặt chính trị lẫn khả năng, ông Bush không còn nhiều vốn. Lý tưởng thì phải ba chục ngàn, nhưng xác suất cao sẽ là từ 10 đến 20.000 quân mà thôi.

Giải pháp ấy sẽ mua được cho ông Bush một số vốn chính trị khi các phe lâm chiến biết sợ mà chịu ngồi lại với nhau và nếu các đơn vị Mỹ thành công thì họ đành đồng ý với kế hoạch tái phối trí, rút mà không ra, hầu Hoa Kỳ triệt thoái khỏi Baghdad trong thế mạnh và giữ vị trí trọng tài ngoài sa mạc. Nếu đạt được kết quả ấy, ông Bush có thể trả lại cho đảng Cộng hoà một chút hy vọng tranh cử năm 2008. Quá nhiều chữ “nếu”, quá nhiều điều kiện tất yếu.

Tuy nhiên, nếu nhồi quân để lấy thành quả trước mắt làm cái trớn tái phối trí cho lâu dài thì chính quyền Bush phải có một kế hoạch quy mô cho thời kỳ gọi là lâu dài đó. Chưa ai thấy kế hoạch đó thành hình hay đề nghị. Saudi Arabia có thể hài lòng với giải pháp đó, miễn là Mỹ đừng nói rằng để bảo vệ xứ này! Hoàng gia Saudi muốn được Mỹ bảo vệ mà nín thinh để dân Hồi giáo và al-Qaeda khỏi nổi giận. Còn Iran" Nếu chính quyền Bush không có một kế hoạch quy mô được Quốc hội ủng hộ thì các đơn vị Mỹ cố thủ trong căn cứ ngoài sa mạc chưa đủ là thế lực trọng tài mà có thể là con tin bên cạnh một Iran sẽ có võ khí nguyên tử.

Quân lực Hoa Kỳ đã có mặt như vậy tại nhiều nơi trên thế giới và là sức ổn định đáng kể trong thời Chiến tranh lạnh. Giờ đây sự thể đã khác. Tổng trưởng Rumsfeld hiểu vậy nên mới muốn tái phối trí các đơn vị Hoa Kỳ tại biên giới Nam-Bắc Hàn xuống miền Nam, xa hẳn tầm đạn nguyên tử của Bình Nhưỡng.

Ông Bush không thể không biết những chuyện ấy.

Nhưng, ông là Tổng thống và đang ngồi trước một canh bạc lớn của toàn cầu. Người khác thì có thể nghĩ đến việc rút lui để bảo toàn những đồng bạc cuối. Ông Bush không lui và nhồi tiền đánh tiếp. Một sự liều lĩnh rất đáng kính trọng, nếu như ông thắng và lấy lại được những gì đã mất.

Vận đỏ đen là điều gì đó mà chỉ có thần đỏ đen biết được, nhưng chưa thấy đấng tối cao ấy chia bài ra sao thì đã có tin Giáo chủ Ali Khamenei đang đến giai đoạn cuối của bệnh ung thư và Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad ưa ồn ào khạc ra lửa cũng đến hồi cuối của sự nghiệp chính trị. Ahmadinejad đi càng sớm nếu người đỡ đầu là Khamenei về với Allah. Vì vậy, nội năm nay, Iran có thể có lãnh đạo mới. Nhiều phần sẽ là một nhân vật ôn hoà vừa thắng cử tại cơ chế tối cao của Iran là nguyên Tổng thống Ali Akbar Hashemi Rafsanjani. Nước bài của ông Bush vì vậy có khó thì cũng chưa hẳn là tất bại.

Còn nếu như ông thua, Hoa Kỳ sẽ trở lại vị trí mà Ủy ban Baker-Hamilton đã đề nghị.

Và đội nón sắt chờ quân khủng bố.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.