Hôm nay,  

Ông Bush Đánh Phé

06/01/200700:00:00(Xem: 15131)

Ông Bush Đánh Phé

...Quốc hội đã yên vị, đến lượt ông Bush rút bài...

Trong dịp nghỉ lễ vừa rồi, nhiều người đã đi thử thời vận tại các sòng bạc quanh khu vực. Và không ít người đã bị... hụt vốn. Tưởng rằng đi gỡ bóng đèn Giáng sinh của Casino ai ngờ lại trả tiền điện cho họ. Khi ấy, một số người cầm tinh con cà cuống có thể tự nhủ. Rằng nếu châm vốn đánh thêm, biết đâu mình chẳng thu lại khoản tiền đã mất mà có khi còn lời nữa.

Những con bạc như thế có thể thông cảm với Tổng thống George W. Bush.

Từ cuộc bầu cử vừa rồi, cả thế giới đều kết luận rằng Hoa Kỳ cạn vốn hụt hơi tại Iraq nên  chẳng chóng thì chầy, Mỹ sẽ tháo chạy. Khi thế giới kết luận như vậy, các lãnh tụ Sunni, Shia và Tehran cũng nghĩ vậy và kết luận: hết sợ Mỹ mà cũng chẳng nên tin Mỹ.

Đồng minh của Mỹ tại Iraq hết tin vào sức bảo vệ và lời cam kết của đệ nhất siêu cường, như vậy thì dại gì mà đi vào một giải pháp chính trị tại Iraq"

Kẻ thù thì hết sợ vì Mỹ sẽ rút và mới rút một ít thì lập tức sẽ bị chính trường ở nhà cho là chưa đủ. Nếu giáng thêm vài đòn chết lính Mỹ là ông Bush sẽ cho rút nhanh hơn. Qua 2008 là coi như hết canh bạc.

Kết cuộc thì Iran sẽ khống chế một xứ Iraq tan nát. Cường quốc Hồi giáo cực đoan này sẽ làm gì thì đó là vấn đề của vị Tổng thống Mỹ sẽ nhậm chức vào tháng Giêng năm 2009. Từ nay đến đó, các lực lượng khủng bố Hồi giáo sẽ có điều kiện chuẩn bị cho một đợt tung hoành nữa, bất kể tới khả năng ủng hộ hay ngăn ngừa của Iran. Thế giới sẽ loạn to. Và lịch sử sẽ phán xét: vì thất bại Iraq, ông Bush làm quân khủng bố thắng lớn.

Khi thấy nước Mỹ bị xuất huyết tại Iraq, dân Mỹ đòi gom tiền rút lui khỏi sòng bạc toàn cầu mà họ chẳng hiểu gì về luật chơi. Vì vậy, sau khi Ủy ban Baker-Hamilton đánh trống thổi kèn quảng cáo kế hoạch 79 điểm để tung màn khói đẹp cho ông Bush rút quân, mọi người đều chờ đợi là ông Bush sẽ quyết định rút.

Nếu là một chính khách, ông Bush sẽ làm như vậy.

  Nhưng, George W. Bush không là một vị tổng thống chính khách mà muốn làm một vị tổng thống cách mạng.

Ông muốn đánh Iraq để dằn mặt quân khủng bố mà bây giờ chính mình lại bị dằn mặt ở nhà và để lại một di sản tai hại cho xứ sở. Ông là người sùng tín và tin là Thượng đế  đã trút lên vai mình một trọng trách thì mình không thoái thác được. Ông cũng là một người liều lĩnh, nếu thấy đèn vàng thì đạp xe nhấn tới chứ không đạp thắng. Ông sẽ hành xử theo cách suy tính của mình với Thượng đế, Lịch sử và Quyền lợi Tối thượng của Tổ quốc, v.v...

Vả lại, ông còn trọn hai năm để thực thi quyền hiến định của một Tổng thống.

Sau khi tham khảo ý kiến của mọi giới, ở trong và ngoài chính quyền, ông Bush sẽ đề nghị với quốc dân một chiến lược khác cho Iraq.

Ngược với nhận định của đại đa số, ông Bush không đạp thắng và cài số lùi xe mà sẽ cho xe chồm tới. Những chi tiết được tiết lộ ra cho thấy ông sẽ không rút quân mà đôn quân. Nói cho chính xác hơn, sẽ cho quân chồm tới, nhất là tại khu vực Baghdad. Chữ “surge” phải hiểu là tăng quân nhưng nhất thời thôi.

Trước hết, ông xào lại cỗ bài.

Một số nhân vật của chiến lược cũ sẽ lui. Sau khi Tổng trưởng Donald Rumsfeld phải từ chức, đến Giám đốc Tình báo Quốc gia John Negroponte, Tư lệnh Lực lượng CENTCOM từ Trung Á đến Trung Đông là Tướng John Abizaid và Tư lệnh Lực lượng Iraq là Tướng George Casey đều sẽ nghỉ, Đại sứ Mỹ tại Baghdad là Zalmay Khalilzad sẽ về New York thay ông Bolton...

Như một Gary Cooper đơn độc trong phim High Noon, ông Bush sẽ cô đơn và dũng cảm quyết định lấy. May ra còn có Condi, nếu không quá lo chuyện Bắc Hàn và Trung Quốc.

Thực ra, trong chiến lược đó, ông Bush không phải là người nông cạn hay dại dột.

Ông biết rằng mọi giải pháp đều là bất toàn, không lý tưởng. Trách nhiệm của chính quyền ông là đã vào Iraq và để lại trên bàn cờ những lá bài rất tệ. Vì vậy, ông sẽ không bỏ chạy mà nhồi tiền đánh tiếp.

Trước hết, trong toàn khu vực, Hoa Kỳ đang có một đối tác khó chơi là Iran. Chính quyền Bush đã diệt Saddam Hussein cho các Giáo chủ tại Tehran, lại không làm họ sợ mà ngã xõng xoài tại Iraq. Bây giờ, Iraq có loạn hay trị thì cũng do Iran quyết định một phần. Ba phe Kurd, Sunni và Shia có sống chung được với nhau hay không cũng do “thiện chí” của Tehran đằng sau phe đa số là Shia. Lebanon hay toàn cõi Trung Đông có yên hay không thì cũng do Tehran, kẻ chủ chi cho lực lượng Hezbollah.

Với Hoa Kỳ thì nói chuyện phải quấy với Tehran là điều bất khả - và trước mắt còn bất lợi - về chính trị. Vì vậy, mọi giải pháp ngoại giao với Iran đều tùy thuộc vào thực lực - hay thắng lợi quân sự - của Mỹ tại Iraq. Ủy ban Baker-Hamilton đã ngụy biện khi nói răng trong thời Chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ vẫn nói chuyện với đối thủ là Liên Xô thì vì sao không nói chuyện với Iran" Ngụy biện – và thành phần ưu tú này không dốt nát nên sự ngụy biện chỉ là phép gian manh kiểu Kissinger – vì với Liên Xô, Hoa Kỳ còn có cái thế để đế quốc này e ngại nên mới nói chuyện hoà dịu. Hoa Kỳ không có cái thế ấy với Iran vì đã tuột xích tại Iraq và vì thế giới bạc nhược lẫn Liên hiệp quốc đều không làm cho Tehran phải nhượng bộ.

Muốn gián chỉ Iran về chính trị thì phải có đòn bẩy quân sự tại Iraq. Nhưng, tại Iraq, Hoa Kỳ còn có thể làm được gì"

Một là leo thang chiến tranh, đôn thêm quân với một số lượng đáng kể để bẻ gãy hoạt động phá hoại của cả hai phe Sunni và Shia hầu đối thoại chính trị sẽ thay thế bom bay đạn nổ. Quân lực Hoa Kỳ hiện đã bị căng mỏng tới mức nguy ngập. Thời Bill Clinton, nước Mỹ không thể đương đầu một lúc với hai cuộc chiến, ngày nay, Hoa Kỳ đang có hai cuộc chiến đã bước vào năm thứ tư. Và Quân lực Mỹ có những đơn vị tinh binh hiện đại mà không thể có... lính bảo an, cán bộ xây dựng nông thôn hay nhân dân tự vệ để canh chợ cho dân Iraq học tập dân chủ.

Giải pháp thứ hai là theo đề nghị của Baker-Hamilton, hoặc trường phái Kissinger thời Việt Nam, là bắt đầu rút quân, với màn hoả mù đậm hay lạt để che giấu cuộc tháo chạy tùy theo tình hình chính trị tại Mỹ, hơn là tại Trung Đông. Khoảng trống ấy sẽ do Iran đảm đương phần lớn. Các nhà ngoại giao thuộc xu hướng tháo chạy kinh niên đều sẵn sàng tìm ra ra lý lẽ cao đẹp để biện giải cho việc thất trận. Ông Bush biết vậy, cận thần của phụ thân ông đều khuyên như vậy, nhưng ông không là George H. Bush nên mới tìm kế khác.

Kế ấy có thể là giải pháp thứ ba, rút mà không ra. Hoa Kỳ chính thức chấm dứt kế hoạch bảo vệ an ninh cho dân Iraq xây dựng dân chủ, tức là sẽ không dàn quân bảo vệ vùng sinh hoạt của dân chúng và lãnh đạn oan nữa. Đó là rút. Nhưng không ra, vì sẽ đồn quân tại các căn cứ được bảo vệ rất vững để can gián mọi trò phiêu lưu nguy hiểm trong cả khu vực. Nôm na là tái phối trí các đơn vị từ thành phố về các hậu cứ ngoài sa mạc.

 Ngần ấy giải pháp đều có nhược điểm.

Leo thang chiến tranh - đổ thêm năm bảy sư đoàn vào chiến trường Iraq - là chuyện bất khả. Huống hồ là vài trăm ngàn quân cũng chưa thể thắng được hình thái chiến tranh phá hoại và nổi dậy khi mà chính trường và chính khách Hoa Kỳ chủ yếu vẫn chưa hiểu gì về hình thái chiến tranh ấy – dù đã có chuyện Việt Nam! Nước Mỹ không được giáo dục và chuẩn bị cho loại chiến tranh đó nên chỉ biết và muốn đánh nhanh rút gọn thôi.

Khi phải dành chừng 10 sư đoàn cho chiến trường Iraq thì điều ấy có nghĩa là năm sư đoàn đang thực sự đảm đương trách nhiệm, các sư đoàn kia thì đang hồi phục sau kỳ hạn tham chiến, hoặc chuẩn bị lau súng ra về nghỉ ngơi. Nếu lưu giữ các đơn vị này lâu hơn hoặc vét quân ở nơi khác vào thì bộ máy chiến tranh sẽ kiệt sức và lãnh đạo quân đội sẽ khủng hoảng. Khi ấy mà lính Mỹ bị tổn thất nặng hơn nữa thì cả dân lẫn quân đều nổi loạn.

Quy luật ở đây là công chúa mà bị đứt tay là Tổng thống Mỹ bị mắng. Các tướng lãnh trong Ngũ giác đài hẳn đều biết vậy và nói thế với vị Tổng tư lệnh. Nhưng họ sẽ phải chấp hành quyết định của Tổng thống.

Giải pháp rút quân thì khiến cả hai phe Sunni và Shia chẳng cần hòa giải hợp tác với nhau nữa. Họ chờ Mỹ rút là sẽ choảng nhau và muốn cho Mỹ rút nhanh thì cứ choảng ngay các đơn vị Mỹ. Chẳng ai muốn là người lính hy sinh sau cùng trong một cuộc chiến đã tàn nên rút quân kiểu Baker vẫn chỉ là tháo chạy, sau khi cầm hơi cho cho đến 2008.

Giải pháp tái phối trí – rút mà không ra – là điều ít tệ nhất, nhưng vẫn có nhược điểm là để lại một số căn cứ như cá trên thớt, trong thế thụ động. Nó chỉ có giá trị nếu các phe lâm chiến và các nước liên hệ đồng ý được với nhau về một thỏa thuận lâu dài chừng vài năm. Và biết sợ Mỹ.

Suy đi tính lại thì cuối cùng, ông Bush chỉ còn một cách là lại dằn mặt các lực lượng hung đồ với một số đơn vị được nhất thời tăng phái vào khu vực Baghdad, và trì hoãn kỳ chuyển quân của các đơn vị mãn hạn. Quân số được nhồi thêm là bao nhiêu thì người ta chưa biết nhưng về cả mặt chính trị lẫn khả năng, ông Bush không còn nhiều vốn. Lý tưởng thì phải ba chục ngàn, nhưng xác suất cao sẽ là từ 10 đến 20.000 quân mà thôi.

Giải pháp ấy sẽ mua được cho ông Bush một số vốn chính trị khi các phe lâm chiến biết sợ mà chịu ngồi lại với nhau và nếu các đơn vị Mỹ thành công thì họ đành đồng ý với kế hoạch tái phối trí, rút mà không ra, hầu Hoa Kỳ triệt thoái khỏi Baghdad trong thế mạnh và giữ vị trí trọng tài ngoài sa mạc. Nếu đạt được kết quả ấy, ông Bush có thể trả lại cho đảng Cộng hoà một chút hy vọng tranh cử năm 2008. Quá nhiều chữ “nếu”, quá nhiều điều kiện tất yếu.

Tuy nhiên, nếu nhồi quân để lấy thành quả trước mắt làm cái trớn tái phối trí cho lâu dài thì chính quyền Bush phải có một kế hoạch quy mô cho thời kỳ gọi là lâu dài đó. Chưa ai thấy kế hoạch đó thành hình hay đề nghị. Saudi Arabia có thể hài lòng với giải pháp đó, miễn là Mỹ đừng nói rằng để bảo vệ xứ này! Hoàng gia Saudi muốn được Mỹ bảo vệ mà nín thinh để dân Hồi giáo và al-Qaeda khỏi nổi giận. Còn Iran" Nếu chính quyền Bush không có một kế hoạch quy mô được Quốc hội ủng hộ thì các đơn vị Mỹ cố thủ trong căn cứ ngoài sa mạc chưa đủ là thế lực trọng tài mà có thể là con tin bên cạnh một Iran sẽ có võ khí nguyên tử.

Quân lực Hoa Kỳ đã có mặt như vậy tại nhiều nơi trên thế giới và là sức ổn định đáng kể trong thời Chiến tranh lạnh. Giờ đây sự thể đã khác. Tổng trưởng Rumsfeld hiểu vậy nên mới muốn tái phối trí các đơn vị Hoa Kỳ tại biên giới Nam-Bắc Hàn xuống miền Nam, xa hẳn tầm đạn nguyên tử của Bình Nhưỡng.

Ông Bush không thể không biết những chuyện ấy.

Nhưng, ông là Tổng thống và đang ngồi trước một canh bạc lớn của toàn cầu. Người khác thì có thể nghĩ đến việc rút lui để bảo toàn những đồng bạc cuối. Ông Bush không lui và nhồi tiền đánh tiếp. Một sự liều lĩnh rất đáng kính trọng, nếu như ông thắng và lấy lại được những gì đã mất.

Vận đỏ đen là điều gì đó mà chỉ có thần đỏ đen biết được, nhưng chưa thấy đấng tối cao ấy chia bài ra sao thì đã có tin Giáo chủ Ali Khamenei đang đến giai đoạn cuối của bệnh ung thư và Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad ưa ồn ào khạc ra lửa cũng đến hồi cuối của sự nghiệp chính trị. Ahmadinejad đi càng sớm nếu người đỡ đầu là Khamenei về với Allah. Vì vậy, nội năm nay, Iran có thể có lãnh đạo mới. Nhiều phần sẽ là một nhân vật ôn hoà vừa thắng cử tại cơ chế tối cao của Iran là nguyên Tổng thống Ali Akbar Hashemi Rafsanjani. Nước bài của ông Bush vì vậy có khó thì cũng chưa hẳn là tất bại.

Còn nếu như ông thua, Hoa Kỳ sẽ trở lại vị trí mà Ủy ban Baker-Hamilton đã đề nghị.

Và đội nón sắt chờ quân khủng bố.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bi hài kịch “ngoại giao cây tre”, với hoạt cảnh mới nhất là “cưỡng bức đặc xá”, đã giúp chúng ta nhận ra rằng, dẫu khác nhau nước lửa, “phóng sinh” và “hiến tế” vẫn có thể hội tụ ở ý nghĩa “triều cống” khi phải chiều lòng hai cường quốc ở hai đầu mút của hai hệ tư tưởng trái ngược nhau. Để đẹp lòng bên này thì phải nhẫn tâm “hiến tế”, mà để làm hài lòng bên kia thì phải diễn tuồng “phóng sinh” để có một dáng dấp khai phóng, cởi mở. “Chiến lược ngoại giao” này, phải chăng, là một trò chơi “ăn bù thua” mà, diễn đạt bằng ngôn ngữ toán học của Game Theory, là có tổng bằng không?
Trận Điện Biên Phủ kết thúc vào hôm 7 tháng 5 năm 1954. Bẩy mươi năm đã qua nhưng dư âm chiến thắng, nghe chừng, vẫn còn âm vang khắp chốn. Tại một góc phố, ở Hà Nội, có bảng tên đường Điện Biên Phủ – cùng với đôi dòng chú thích đính kèm – ghi rõ nét tự hào và hãnh diện: “Tên địa danh thuộc tỉnh Lai Châu, nơi diễn ra trận đánh quyết liệt của quân và dân ta tiêu diệt tập đoàn cứ điểm thực dân Pháp kéo dài 55 ngày đêm”.
JD Vance đã chứng tỏ một “đẳng cấp” khác, rất “Yale Law School” so với thương gia bán kinh thánh, giày vàng, đồng hồ vàng, Donald Trump. Rõ ràng, về phong cách, JD Vance đã tỏ ra lịch sự, tự tin – điều mà khi khởi đầu, Thống đốc Walz chưa làm được. Vance đã đạt đến “đỉnh” của mục tiêu ông ta muốn: lý trí, ôn hoà, tỉnh táo hơn Donald Trump. “Đẳng cấp” này đã làm cho Thống Đốc Tim Walz, người từng thẳng thắn tự nhận “không giỏi tranh luận” phải vài lần phải trợn mắt, bối rối trong 90 phút. Cho dù hầu như trong tất cả câu hỏi, ông đã làm rất tốt trong việc phản biện lại những lời nói dối của JD Vance, đặc biệt là câu chất vất hạ gục đối thủ ở phút cuối: “Trump đã thua trong cuộc bầu cử 2020 đúng không?” JD Vance đáp lại câu hỏi này của Tim Walz bằng hàng loạt câu trả lời né tránh và phủ nhận sự thật. Và dĩ nhiên, rất “slick.” “Trump đã chuyển giao quyền lực rất ôn hoà.” Cả thế giới có thể luận bàn về sự thật trong câu trả lời này.
Phải nhìn nhận rằng chuyến đi đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Mỹ đã được giới chức ngoại giao Việt Nam thu xếp để ông gặp được nhiều lãnh đạo, xem như xã giao ra mắt để hợp tác, hỗ trợ Việt Nam trong nhiều lãnh vực trong tương lai. Bài diễn văn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc chỉ lặp lại các chính sách đối ngoại của Hà Nội, nên không được truyền thông quốc tế chú ý nhiều như các diễn văn của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, là đại diện cho những quốc gia trực tiếp liên can đến các xung đột ở Trung Đông, ở Ukraine mà có nguy cơ lan rộng ra thế giới. Ông Lâm mới lên làm chủ tịch nước kiêm tổng bí thư Đảng Cộng sản được vài tháng, sau khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng qua đời, nên ông muốn dịp đến Liên Hiệp Quốc là dịp để thể hiện vai trò lãnh đạo của mình và nhấn mạnh đến chính sách ngoại giao du dây của Hà Nội.
Sự bất mãn lan rộng với các hệ thống thuộc chủ nghĩa tư bản hiện tại đã khiến nhiều quốc gia, giàu và nghèo, tìm kiếm các mô hình kinh tế mới. Những người bảo vệ nguyên trạng tiếp tục coi Hoa Kỳ là một ngôi sao sáng, nền kinh tế của nước này vượt xa châu Âu và Nhật Bản, các thị trường tài chính của nước này vẫn chiếm ưu thế hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, công dân của nước này cũng bi quan như bất kỳ công dân nào ở phương Tây.
Sau 38 năm quyết định “đổi mới hay là chết” (1986-2924) CSVN vẫn còn là quốc gia do một đảng độc quyền lãnh đạo; không có bầu cử tự do; không cho lập đảng đối lập và không có báo chí tư nhân. Vì vậy, những khẩu hiệu “nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”, hay “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” được Đại hội lần thứ X khẳng định là những khoe khoang nhàm chán...
Việc Donald Trump được gần phân nửa người Mỹ chấp nhận và ủng hộ trong những năm gần đây đã khiến nhiều người trí thức trong xã hội Hoa Kỳ đặt câu hỏi về sự tồn tại của “human decency”, hay dịch nôm na là “sự đàng hoàng, sự tử tế, đạo đức nhân tính của con người”. Liệu xã hội ngày nay đã hạ thấp chuẩn mực “đàng hoàng”, hay có thể nào sự đàng hoàng, tử tế giờ đây không còn là một nhân tính cần thiết trong giá trị nhân bản? Dĩ nhiên trong mỗi xã hội, mỗi người có mỗi “thước đo” riêng về mức độ của “đàng hoàng”, nhưng từ ngữ tự nó phải phần nào nói lên một chuẩn mực nhất định. Theo một số tự điển tiếng Việt, chúng ta có thể đồng ý rằng: 1. Đàng hoàng là một tính từ tiếng Việt mô tả cuộc sống đầy đủ, đáp ứng được các nhu cầu chung của xã hội. Ví dụ: cuộc sống đàng hoàng, công việc đàng hoàng, nhà cửa đàng hoàng. 2. Đàng hoàng còn được dùng để chỉ những biểu hiện về tính cách mẫu mực, hay tư cách con người tử tế đáng được coi trọng.
Thư tịch cổ ghi rằng… Lịch sử trên thế giới thật sự rất hiếm người tài vừa là vua đứng đầu thiên hạ vừa là một hiền triết. Nếu văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations” thì ở phương Đông hơn mười hai thế kỷ sau có Vua Trần Nhân Tông của nước Việt. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, triều đại của Vua Trần Nhân Tông là triều đại cực thịnh nhất của sử Việt. Ông là vị vua liêm chính, nhân đức, một thi sĩ, đạo sĩ Phật giáo. Do là một vị vua đức độ, trọng dụng nhân tài, nên ông thu phục nhiều hào liệt trong dân, lòng người như một. Quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật…Về văn thơ có những người uyên bác như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Vua Trần Nhân Tông thương dân như con, xem trung hiếu làm đầu, lấy đạo nghĩa trị quốc.
Biển Đông hiện như một thùng thuốc súng và, liệu nếu xung đột bùng ra, chúng ta có phải đối phó với một quân đội Trung Quốc man rợ mà, so với quân đội Thiên hoàng Nhật trong Thế chiến thứ hai, chỉ có thể hơn chứ khó mà bằng, đừng nói chuyện thua? Như có thể thấy từ tin tức thời sự, cảnh lính Trung Quốc vác mã tấu xông lên tàu tiếp tế của Philippines chém phá trông man rợ có khác nào quân cướp biển từ tận hai, ba thế kỷ trước? [1] Rồi cảnh chúng – từ chính quy đến dân quân biển, thậm chí cả ngư dân – trấn lột, cướp phá, hành hung và bắt cóc các ngư phủ Việt Nam từ hơn ba thập niên qua cũng thế, cũng chính hiệu là nòi cướp biển.
Hội nghị Trung ương 10/khóa đảng XIII kết thúc sau 3 ngày họp (18-20/09/2024) tại Hà Nội nhưng không có đột phá nào, mọi chuyện vẫn “tròn như hòn bi” dù đây là hành động đầu tiên của tân Tổng Bí thư Tô Lâm...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.