Hôm nay,  

Tinh Hoa Tây Tạng

06/04/200700:00:00(Xem: 8882)

Hình ảnh tại ngôi vườn báu Tây Tạng trên đất Ấn Độ

   Từ nguyên ủy, Norbulingka là dinh cơ gồm một ngôi điện và một vườn hoa ở gần thủ đô Lhasa của Tây Tạng. Dưới tên Tây Tạng là "vườn báu", Norbulingka được xây dựng từ năm 1755 và trở thành dinh mùa hè của các vị Đạt Lai Lạt Ma, cách dinh mùa đông tại Potala chừng ba cây số. Norbulingka mới được tổ chức UNESCO xếp loại di tích lịch sử kể từ năm 2001.

Nhưng đó là báu vật Tây Tạng dưới tàng cây Trung Quốc, có cái dạng của một cuộn dây thép gai vô hình, được trưng ra để vét tiền du khách và chứng minh giá trị của nền văn minh Đại Hán.

Norbulingka ấy coi như vô chủ kể từ khi Tây Tạng bị chiếm đóng năm 1959 và đức Đạt Lai Lạt Ma phải sống lưu vong bên Ấn Độ, trên đất Dharamsala.

Trên đất Dharamsala này, dân Tây Tạng lưu vong đã cố duy trì và bảo tồn nét văn hoá của họ đang bị tiêu diệt lần mòn tại Trung Quốc. Một trong những nơi mà văn hoá và nghệ thuật Tây Tạng được tái tạo và phát huy ở Dharamsala là "Viện Norbulingka".

Cách đặt tên cũng là một gợi nhớ đến "vườn báu Norbulingka" tại Lhasa.

Chúng tôi có dịp ghé thăm Viện Norbulingka này ở tại Dharamsala.

Đến nơi mới thấy sự vĩ đại của người dân Tây Tạng.

Thế giới và các du khách vô tâm có thể hài lòng với Norbulingka tại Lhasa với một số tiết mục văn hoá và nghệ thuật (rất ít tôn giáo) được chính quyền Trung Quốc duy trì làm cảnh. Làm vật trang trí cho chánh sách thực dân và diệt chủng văn hoá của họ trên lãnh thổ Tây Tạng. Nếu như không biết, hoặc có quên, thì thế giới cần nhớ là một trong ba tu viện lớn nhất của Tây Tạng trong khu vực Lhasa là tu viện Ganden Shartse do chính vị đại sư sáng lập ra dòng Gelugpa là Tsongkhapa xây dựng từ năm 1409 đã bị Hồng quân Trung Quốc phá hủy hoàn toàn sau vụ xâm lăng năm 1959. Ngày nay, tu viện Ganden lớn nhất của Tây Tạng hiện nằm trong tiểu bang Tarnataka tại miền Nam Ấn Độ. Lớn gấp bội so với Tu viện Ganden nguyên thủy tại Tây Tạng.

Vấn đề ở đây không nằm trong kích thước mà trong ý chí.

Khi phải lưu vong nơi đất khách và nhìn thấy quê hương bị tàn phá, đền đài bị hủy diệt, văn hoá bị xóa bỏ, dân Tây Tạng tỵ nạn đã có ngay một phản ứng tâm linh và tâm lý đáng quý. Đó là bằng mọi giá phải duy trì được tinh hoa văn hoá nghệ thuật của dân tộc, hầu sau này dân Tây Tạng và nhân loại còn biết thế nào là văn hoá Tây Tạng.

Nơi sẽ tập trung những tinh hoa ấy là một khoảnh đất hoang tại Dharamsala.

Họ quyết định xây ra một viện bảo tàng. Viện Norbulingka trở thành cơ quan vô vụ lợi, một quỹ tín thác cho mục tiêu văn hoá, được chính đức Đạt Lai Lạt Ma làm Chủ tịch.

Năm đó là 1984, 25 năm sau khi Tây Tạng bị xâm chiếm.

Dân Tây Tạng có phản ứng sinh tồn văn hoá rất đặc biệt, có lẽ mãnh liệt hơn phản ứng sinh tồn kinh tế hay sinh lý của nhiều sắc dân khác. Sự khuyến khích hay dạy dỗ của đức Đạt Lai Lạt Ma có thể là một động lực quan trọng. Đặt chân lên đất tạm cư, việc đầu tiên họ làm là xây trường học, thực ra cũng là tu viện vì Phật giáo là một phần không tách rời khỏi văn hoá hay nghệ thuật Tây Tạng.

Nhưng, ngoài các trung tâm quảng bá văn hoá, là ngôn ngữ và lịch sử Tây Tạng cùng với giáo lý nhà Phật, họ cũng phải có nơi thu thập và đào luyện nghệ sĩ trong các địa hạt như mỹ thuật, hội họa, kiến trúc và các ngành thủ công mỹ nghệ khác. Trong ý hướng của dân Tây Tạng lưu vong tại Ấn Độ, Viện Norbulingka là nơi đó.

Dân Tây Tạng lưu vong trên thế giới chỉ vỏn vẹn có chừng một trăm ngàn người, những thế hệ đào thoát khỏi Tây Tạng sau này thì đã có nhiều năm sinh sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa với "màu sắc Trung Hoa", tức là "phi Tây Tạng". Làm sao thu thập người tài và đào tạo ra thế hệ nghệ nhân sẽ tiếp nối truyền thống văn hoá mỹ thuật nguyên thủy"

Và trước tiên, tìm đâu ra tiền mua đất cho những người này có một chốn dung thân, nuôi nghề và dạy nghề"

Dân Tây Tạng chưa hề nổi tiếng là giỏi kinh doanh buôn bán như người Hoa, người Việt, người Lebanon hay dân Do Thái, cho nên tiền bạc là bài toán đầu tiên.

Bài toán ấy được đặt ra từ năm 1984, với quyết định thành lập Viện Norbulingka trên một vùng đất hoang nằm trong thung lũng Kangra dưới chân Dharamsala. Thay vì phải sống trong một lồng kính văn hóa dựa trên những gì đem theo trong ký ức, họ vận động quyên góp từ bốn phương và được sự yểm trợ quý báu của nhiều nhà hằng tâm hằng sản thế giới, trước tiên là một khoản tiền do chính đức Đạt Lai Lạt Ma cúng dường.

Nhờ đó, họ mua được khoảnh đất vây quanh một cây bồ đề có tuổi thọ là 500 năm.

Và một đặc tính Tây Tạng đã được thấy ngay từ ngày đó.

Họ phác hoạ trong đầu và trên giấy sơ đồ kiến trúc của cả quần thể, thay vì xây dựng và phát triển theo kiểu "liệu cơm gắp mắm", mỗi năm một ít theo đà bành trướng của phương tiện mà thành tùy tiện, lệch lạc. Họ cũng không... chấp vào hình tướng là phải tìm kiến trúc sư Tây Tạng dựng hoạ đồ thì mới có bản sắc dân tộc. Bộ Tôn giáo và Văn hoá của Chính phủ Lưu vong Tây Tạng mời một kiến trúc sư Nhật Ban thiết kế mô hình, nhưng căn cứ trên một bức tranh thờ đức Quán Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn của mỹ thuật tôn giáo Tây Tạng.

Đức Đạt Lai Lạt Ma vốn là một hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Chuyện kế tiếp là một thực tế có ánh nhiệm màu của một phép lạ.

Năm 1987, một vị đại sư thuộc đẳng trật Rinpoche (Đạo sư Báu vật Tây Tạng) được mời qua Anh nói chuyện trong một chương trình trao đổi về tôn giáo và gặp một nhà tu dòng Benedictine. Nhà tu này lại là bạn thân của một doanh gia kiêm nhà sưu tập hoạ phẩm nổi tiếng thế giới là Nam tước (Baron) Thyssen-Bornemisza nên ông thu xếp cho hai người gặp nhau.

Trong kho báu vật của Baron Thyssen có tấm tranh con trâu núi Tây Tạng (con yak) do một vị Ban Thiền Lạt Ma tặng cho từ thế kỷ 18. Mà vị Đại sư này cũng là một trong những người được tin là hoá thân của một Ban Thiền Lạt Ma!

Câu chuyện giữa cao tăng Tây Tạng và doanh gia Âu châu chuyển dần về Tây Tạng và khi được hỏi, vị Đại sư Tây Tạng (tên Ngài là Panchen Otrull Rinpoche) mới kể, rằng chúng tôi đang lập ra một Viện bảo tàng và hiện phải đón nhận rất nhiều vị sư trốn thoát từ Tây Tạng. Chúng tôi cần tiền nuôi sư và nhất là tạo điều kiện cho các thầy truyền lại những kiến thức mỹ thuật và hội họa cho viện bảo tàng này để nuôi dưỡng thế hệ sau.

Sau bài toán thiết kế và xây dựng, tấm chi phiếu (chắc là rất lớn) của Baron Thyssen lập tức giải quyết bước đầu của bài toán điều hành. Và năm sau, 1988, đức Đạt Lai Lạt Ma đã gặp cả gia đình của nhà kinh doanh hằng tâm này. Cũng từ đấy, gia đình Thyssen còn tổ chức nhiều cuộc triển lãm quốc tế để dân Tây Tạng giới thiệu hội họa và mỹ thuật của họ cho cả thế giới.

Những quan hệ ấy đã nuôi sống, từ tiền bạc đến phần hồn, phần nghệ thuật và văn hoá, của Viện Norbulingka.

Đây là nơi mà tinh hoa Tây Tạng được lưu giữ, truyền bá và các họa sư, nghệ sĩ đích thực của Tây Tạng có nơi thi thố tài năng và đào luyện các thế hệ nghệ nhân nối tiếp. Mỹ nghệ phẩm đủ loại và nhất là các tượng Phật và tranh thờ của Tây Tạng (gọi là thangka) do Norbulingka sản xuất là loại hàng siêu hạng về nghệ thuật và phẩm chất.

Cực đắt mà cực đẹp.

Trong khuôn viên của Viện Norbulingka, người ta cũng thấy ra nét mỹ thuật tinh vi trau chuốt của Tây Tạng, không thua kém bất cứ một Thiền viên, một vườn Thiền, nào của Nhật Bản. Mà hoàn toàn khác hẳn mỹ thuật Trung Hoa.Từ Dharamsala đi Norbulingka người ta mất chừng nửa tiếng xe lam, hay nửa ngày đi bộ, mất thêm chừng vài ký mỡ dư thừa trong thân thể. Nhưng quả là đáng xem. Nếu có một nơi khả dĩ minh chứng rằng văn hoá mỹ thuật Tây Tạng không hề bị mai một thì đấy là Viện Norbulingka.

Người viết đã tới một lần và hôm sau còn một mình quay lại mất nửa ngày để xem cho hết. Không thể xem hết được, nhưng sự cảm phục thì còn mãi cho đến nay. Vì vậy mới có bài này...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và công nghệ, toàn cầu hoá – vốn từng được xem là động lực chính thúc đẩy cho tăng trưởng và thịnh vượng – đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Tiến trình công nghiệp hoá và toàn cầu hoá đã đem lại nhiều thành tựu vượt bậc trong suốt thời gian dài qua, từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, đặc biệt là thông qua sự chuyên môn hoá, tự do thương mại và tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính, đại dịch toàn cầu, chiến tranh và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đã khiến mô hình toàn cầu hoá truyền thống bộc lộ nhiều tình trạng bất ổn...
Nhiều thế hệ sống ở Sài Gòn những năm của thập niên 80-90, khi con gà trống của Thương Xá Tax chưa bị bức tử, khi những hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng vẫn là nét thơ mộng của Sài Gòn, có lẽ đều quen thuộc với câu “Chương Trình Truyền Hình Đến Đây Là Hết…” Nó thường xuất hiện vào cuối các chương trình tivi tối, khi chưa phát sóng 24/24. Thời đó, mỗi ngày truyền hình chỉ phát sóng trong một số khung giờ nhất định (thường từ chiều đến khuya) nên hầu như ai cũng có tâm lý chờ đợi đến giờ ngồi trước màn ảnh nhỏ, theo dõi vài giờ giải trí. Đó cũng là chút thời gian quên đi một ngày cơ cực, bán mồ hôi cho một bữa cơm độn bo bo thời bao cấp. Nhắc nhớ chút chuyện xưa, để nói chuyện nay, đang diễn ra ở một đất nước văn minh hàng đầu, từng là niềm mơ ước của biết bao quốc gia về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.