Hôm nay,  

Chiếc Áo Thầy Tu

22/07/200700:00:00(Xem: 10951)

Mỗi lần tình cờ nghe câu nói “Chiếc áo không làm nên thầy tu”, tôi lại nghĩ về câu chuyện con cọp lông vàng trong những truyện điển tích Phật giáo.

Câu chuyện rất ngắn, rất đơn giản, nhưng đã nghe qua, người Phật tử không thể không suy nghĩ. Chuyện nói về con cọp ở một khu rừng rậm, hiểm trở, bao quanh bởi vách núi cheo leo. Con cọp có bộ lông vàng óng, rất đẹp, đẹp đến nỗi khi ánh mặt trời lên, chiếu vào bộ lông của nó thì ánh sáng đó long lanh, xuyên suốt tới nhiều dặm ! Tất nhiên, không nhà quý tộc nào không thèm thuồng có bộ áo may bằng lông của nó nên biết bao thợ săn đã tìm cách mon men tới bìa rừng với những túi tên tẩm thuốc độc, mong hạ thủ con cọp vàng để lột da đem bán. Nhưng con cọp cực kỳ bén nhạy. Nó như “ngửi” được mùi cung tên nên ít có gã thợ săn nào tới gần được, cho tới khi một thợ săn nảy ra ý nghĩ tìm một bộ ca-sa, trá hình làm vị sa-môn, ôm bình bát, thong thả đi vào khu rừng. Tất nhiên, bên trong vạt áo ca-sa đó cất dấu cung tên tẩm thuốc độc!

Quả nhiên, vì cung tên không để lộ ra ngoài nên càng lúc gã thợ săn càng đến gần được con cọp vàng. Và khi tầm gần vừa đủ ra tay thì gã nhanh nhẹn lắp tên, giương cung, nhắm ngay tim con cọp vàng mà bắn thẳng. Cọp trúng tên, gầm lên đau đớn. Trong vài giây phút cuối cùng, nó dồn hết sức mạnh lao về phía bóng người mà nó tin là vừa hãm hại nó. Tuy bị trúng tên nhưng sức mạnh của con cọp cũng đủ xô gã thợ săn ngã nhào, đủ cào, cắn, kéo kẻ đó cùng sang bên kia thế giới với nó.

Nhưng, qua ánh mắt cố nhướng lên, nó nhận ra vạt áo ca-sa.

Nó không đủ minh mẫn để hỏi, sao người mặc áo ca-sa lại hại nó, nhưng đủ sáng suốt để tự nói với nó rằng: “ Ồ, đây là một vị thầy tu. Ta thà chịu chết chứ không thể xâm phạm người này”.
Câu chuyện chấm dứt ở đây.

Trong câu chuyện này, chiếc áo có làm nên thầy tu hay không"
Có chứ! Ít nhất là đối với con cọp có gieo nhân Bồ-đề, vì nếu không, con cọp đã hạ thủ kẻ hại nó trước khi nó tắt hơi.

Nếu có những chiếc áo ca-sa không làm nên thầy tu thì người khoác áo đó chịu trách nhiệm. Ai gieo nhân gì, tất hái quả đó. Nhân và quả theo nhau như bóng với hình, như vang theo tiếng, thân bằng quyến thuộc muốn chịu tội thay nhau còn chẳng được, huống là kẻ gây nhân phủ nhận.

Đừng trách con cọp vàng ngu xuẩn không nhận ra sau lớp áo thầy tu là gã thợ săn độc ác, bởi vì con cọp chỉ nhìn chiếc áo như dấu hiệu của sứ giả Như-Lai nên lập tức dừng tâm sân hận và khởi lòng quy ngưỡng. Làm sao nó ngăn chặn và thấu hiểu hết tâm địa ác nhân" Ít nhất, sự dừng tâm sân hận cũng khiến nó ra đi nhẹ nhàng. Phút ra đi, nhẹ nhàng hay khó khăn là điều rất quan trọng với mọi loài vì chính phút giây đó, kẻ ra đi nương theo nghiệp mình mà thác sanh.

Chuyện con cọp vàng chỉ ngắn gọn, tôi lại suy nghĩ dài dòng chỉ vì tôi đang liên tưởng tới hình ảnh gần 50 nam nữ công an của thành phố mang tên Hồ Chí Minh đã từng đến Thanh Minh Thiền Viện để ngăn chặn, không cho Hòa Thượng Thích Quảng Độ tới chùa Giác Hoa dự giỗ Tổ Nguyên Thiều. Đám công an đó đã không cần che dấu sự hung hăng, lỗ mãng qua những hành động giằng co, xô đẩy vị sư già. Cuối cùng, dân chúng hai bên đường đã chứng kiến chiếc phước-điền-y đắp trên thân ngài bị đám công an xé rách toạc. Sự kiện xảy ra ngày 19 tháng 11 năm 2005 nhưng nay nhớ lại cùng với câu chuyện con cọp vàng, tôi bỗng thấy đám công an tôi chưa từng biết mặt biết tên, hiện hình là những con sói, loài thú không hề dừng lại hay nương tay trước con mồi, dù chúng đang no hay đói! Chúng chưa từng được nghe chuyện con cọp vàng. Hoặc thảng có nghe mà không thể hiểu! Thật đáng bi thiết biết bao!

“ Xa cách Phật-pháp thì ác đạo và thù oán không do đâu mà có thể giải thoát. Bỏ thân mạng này rồi chìm xuống biển khổ luân chuyển trong ba đường, trải khắp ác thú, biết bao giờ trở lại được thân người"” (*)


Hôm nay, cũng tại thành phố này, dân chúng lại thấp thoáng thấy vị sư già năm trước. Vẫn chiếc áo tu cũ kỹ khoác trên thân, nhà sư bước vào giữa vòng rào kềm tỏa những người dân lam lũ, đói khát, vật vờ như những bóng ma! Họ là ai mà bị cư xử tàn tệ, nhục nhã như thế" Thưa, họ là những ông chủ, bà chủ của chế độ Cộng Sản Việt Nam, một chế độ gọi dân là chủ và kẻ cầm quyền chỉ là đầy tớ phục vụ chủ mà thôi! Những ông chủ bà chủ đó, một ngày đẹp trời được đám đầy tớ cho biết rằng, con trâu, thửa ruộng của ông bà xin để chúng con lo toan, đừng phải nhọc lòng gì nữa. Và đám đầy tớ lo tận tình đến mức, nay trâu chẳng còn trong chuồng, nay lúa mọc chẳng được tự gặt hái vì đất, ruộng đã do đầy tớ lo toan hết!

Bao nhiêu năm rồi, người dân bị cướp đoạt tài sản" Nay, không còn gì để mất, không còn gì để sống mới liều mạng rủ nhau lết đến gõ cửa nhà đầy tớ, xin cứu xét nỗi uất ức, oan khổ này. Cơm vắt muối mè, từ quê lên tỉnh chẳng phải dễ, nhưng biết đâu, đèn trời soi xét, đầy tớ thương chủ mà trả trâu, trả ruộng.

26 ngày đã trôi qua!
26 ngày màn trời chiếu đất!
26 ngày thiếu thốn thuốc men, cơm ăn, nước uống!
26 ngày, hết mưa ướt như chuột lột lại nắng cháy đỏ thịt da!
26 ngày liên tục bị hù dọa!
26 ngày những người ngoài vòng kềm tỏa đó, đau lòng chứng kiến đồng bào bị chèn ép, đầy đọa! Đã nhiều người xỉu vì đói, rên vì bệnh. Và đám đầy tớ của dân nhìn ngay thấy cách hành động hữu hiệu để những  người khốn khổ kia phải bỏ cuộc. Đó là: ngăn chặn thực phẩm do những người từ tâm mang đến tiếp cứu. Chẳng những ngăn chặn sự tiếp tế mà chúng còn uy hiếp, bắt giam những người đến tiếp cứu với ác tâm là không ai dám đến gần những người cùng khổ kêu oan đó nữa!
Sự ngăn chặn cứu đói đó là gì" Có phải là ép dân, hoặc bỏ cuộc kêu oan hoặc chết đói hay không"""

Rõ ràng quá rồi.
Bọn tự nhận là đầy tớ của nhân dân chính là bọn CƯỚP CỦA, GIẾT NGƯỜI.
Chúng đã cướp tài sản của dân.
Chúng đang dồn dân chết đói, chết bệnh.

Thưa tất cả các vị từng ngồi ghế quan tòa trên khắp thế giới, trong những phiên tòa xử kẻ cướp của, giết người, quý vị thường tuyên án kẻ ác thế nào" Xin quý vị cho nhân dân Việt Nam được nghe một lời phán quyết theo lương tâm ông tòa, bà tòa.

Trong khi chờ đợi thì mấy trăm dân kêu oan ngồi trước văn phòng Quốc Hội II tại thành phố mang tên Hồ Chí Minh ở Việt Nam, đang chết dần vì đói, vì bệnh, vì khí hậu nghiệt ngã của trung tuần tháng bẩy này. Họ không phải chỉ là mấy trăm đang hiện diện mà là đại diện cho mấy ngàn, mấy vạn, mấy triệu những người không thể còn có phương tiện gì lết tới nơi tụ họp được.

Làm sao để họ có thể đứng vững mà kêu oan"
Làm sao để những tiếp tế cấp thiết đến được tay họ"

Chúng con cầu mong được thấy những Trưởng tử Như-Lai mang hạnh Vô-úy, vì đại nguyện cứu độ chúng sanh, không sợ hãi trước bạo lực. Chính những vị đó mới có thể dõng mãnh đi vào giữa rừng đao núi kiếm mà cứu độ chúng sanh khổ lụy.
Trong cùng tận oan khổ này, con mắt chúng sanh, dẫu vô minh đến đâu cũng nhìn ra chiếc áo có làm nên thầy tu hay không"
Chúng con ấm lòng thấy GHPGVNTN đã có mặt.

Chúng con ấm lòng thấy quý Linh mục Giáo Hội Công Giáo đã lên tiếng.
“Nguyện xin mười phương tận hư không giới, tất cả Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, đem những năng lực vô lượng vô biên tự tại không thể nghĩ bàn, không trái với thề xưa, không trái với nguyện xưa mà bố thí cho tất cả chúng sanh trong bốn loài, sáu đường, cùng khắp mười phương, từng tạo ra vô lượng vô biên tội ác, nay biết sám hối, cải vãng tu lai, những tội đã làm, nguyện xin diệt trừ; những tội chưa làm, thề không làm nữa. Nguyện xin tất cả Chư Phật trong mười phương, dùng bất khả tư nghị, tự tại thần lực gia tâm cứu hộ, thương xót nhiếp thọ, khiến tất cả chúng sanh tức thời giải thoát khổ não” (*)

NAM MÔ QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT, nghe tiếng kêu thương, ngài liền cứu khổ.
NAM MÔ HƯ KHÔNG TẠNG BỒ TÁT, bằng tâm từ bi, diệt bao tội lỗi.
NAM MÔ TÁT ĐÀ BÀ LUÂN BỒ TÁT, một lòng vì Đạo, ngài hằng quên mình.
NAM MÔ CỨU THOÁT BỒ TÁT, giữa chốn tai ương, ngài phá tan nguy ách.
NAM MÔ A DẬT ĐA BỒ TÁT, biển lượng từ-bi, ngài che chở chúng sanh.
Xin một niệm, cảm mười phương Phật.
Xin một lạy, đoạn trừ vô lượng oan khiên.

Diệu Trân
(Như-Thị-Am, mùa Vu Lan 2007)
(*) Sám pháp Lương Hoàng Sám, dịch giả: Thích Viên Giác

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo dõi tin tức từ quốc gia này, tấm lòng của chúng tôi hướng về người dân Afghanistan và những người tị nạn đang bị buộc phải bỏ trốn để giữ mạng sống. Hơn nữa, chúng tôi tha thiết quan ngại đến số phận của hàng triệu phụ nữ và trẻ em gái của xứ sở này, vì họ phải đối diện với một tương lai đen tối khi gặp trở lại sự đối xử tàn tệ của nhà nước Taliban.
Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến. Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó
Tổng Thống Cộng Hòa Liên bang Đức, Frank-Walter Steinmeier mô tả ngày 13 tháng 8 năm 1961, ngày bắt đầu xây dựng Bức tường Berlin (ghi chú thêm: Người Việt Nam gọi là Bức Tường Ô Nhục Bá Linh), là "một ngày định mệnh cho người Đức chúng tôi và cho thế giới". Vào thời điểm đó, "sự phân chia thế giới trong Chiến tranh Lạnh đã được củng cố theo đúng nghĩa đen", ông nói hôm thứ Sáu 13.8.2021 tại lễ niệm xây dựng Bức tường Berlin.
Nhưng điều kiện quan trọng nhất để Việt Nam không bị tụt hậu kinh tế và hàng chục triệu công nhân có thể trở lại làm việc tại các khu công nghiệp, sản phẩm nông-lâm-ngư tiêu thụ được, lưu thông, vận tải được hồi sinh, người dân tự tin đi làm việc, học sinh an tâm đến lớp… là mọi người cần phải chích ngừa loại ưu tiên 1 sẽ có thuốc đầy đủ và được chích miễn phí nhanh chóng. Sau đó là đến toàn xã hội và trẻ em cũng cần phải được tiêm ngừa. Ngược lại, nếu Lãnh đạo chỉ biết hô chống dịch bằng “khẩu hiệu” thì Việt Nam sẽ rước lấy thất bại nhãn tiền.
Ngành tài chánh tuy là nguyên nhân của những cuộc khủng hoảng trầm trọng như tại Đông Á 1998, Mỹ 2007 và khu vực Euro 2010 nhưng đóng vai trò thiết yếu cũng giống như trái tim trong kinh tế thị trường. Nhiệm vụ của thị trường tài chánh là biến tiết kiệm trong dân chúng trở thành nguồn vốn cho doanh nghiệp. Quá trình sạn lọc mang dòng vốn đến với doanh nghiệp tốt để phát triển, kinh tế tăng trưởng thì dân chúng cũng được hưởng lợi ích đầu tư. Bài này tìm hiểu về thị trường tài chánh của Hoa Kỳ và Trung Quốc. Thị trường ở Mỹ đa dạng phong phú nhưng trải qua những chu kỳ thăng trầm. Trong khi đó ở Hoa Lục thị trường tài chánh không phát triển tự do vì chịu sự kiểm soát chặc chẻ của nhà nước; dòng vốn chảy vào các ngành nghề do nhà nước ưu đãi nên sinh ra lãng phí và lạm dụng. Người dân sau khi tiêu xài nếu còn dư tiền còn 3 chổ để dành hay đầu tư: tiết kiệm (savings tức là gởi tiền vào ngân hàng), đầu tư (investment hay hùn vốn, cho vay, mua chứng khoáng, v.v…), đánh bạc
Tôi đọc truyện “Tình Nghĩa Gíao Khoa Thư” khi còn ở tuổi đôi mươi. Tuổi trẻ bao giờ cũng nhiều lý tưởng. Tôi và bè bạn vẫn tâm nguyện rằng, sau cuộc chiến, thế hệ của mình sẽ cố góp hết sức để dựng xây những phần đất quê hương (bị lãng quên) như vùng U Minh Hạ. Hòa bình, tiếc thay, đã không mang lại cuộc sống an bình như mọi người mong muốn. Không những thế, nó còn khiến cho hàng triệu kẻ đã phải liều mạng rời bỏ quê hương, để mưu cầu một cuộc sống khả kham hơn – nơi đất lạ quê người.
Người nào có bệnh hứa, hứa nhiều mà làm chẳng bao nhiêu thì suốt đời không thể khá được. Tiền đến rồi tiền đi, nhưng những người ở xung quanh ta vẫn nhớ những lời hứa lèo của ta thì kể như tiêu cuộc đời. Nếu người nào rủi bị bệnh hứa thì nên đến bác sĩ tâm lý, chữa trị thế nào cũng sẽ khỏi nhưng phải kiên trì. Có bệnh thì phải chữa, tự mình chữa không được thì phải nhờ đến bác sĩ tâm thần, bác sĩ có kinh nghiệm sẽ tìm mọi cách để chữa trị cho bệnh nhân. Có người có bệnh hứa lèo, nhưng họ nói một cách tự nhiên như thật, đã nói là bệnh mà, người bị bệnh không biết mình bệnh, tội nghiệp thật?
Có thể nói rằng đời sống của bà con đồng bào thiểu số Vân Kiều và Pa – Kô khổ cực không còn gì để nói. Đi dọc theo đường 9 Nam Lào từ thành phố Đông Hà lên cửa khẩu Lao Bảo, qua khỏi những dãy nhà ngói đỏ chói của thành phố chừng 10km, đến đoạn sông Dakrong chảy dọc đường 9 Nam Lào, nhìn sang bên kia sông là những mái nhà lụp xụp nằm lặng lẽ trên đồi, nhìn lại bên cánh rừng dọc đường 9 cũng nhiều mái nhà sàn lợp tranh nhỏ xíu, tuềnh toàng gió lộng nằm giữa các nương sắn hoặc giữa các ngọn đồi trọc. Cảnh nghèo đói hiện ra xác xơ, tiều tụy.
Đêm tân hôn. Yên lặng nhìn cô dâu, chú rể rưng rưng rồi bật khóc. Cô gái trẻ tưởng chồng mình xúc động vì quá hạnh phúc được sống gần người yêu, nhưng sự thật đau lòng hơn nhiều. Anh ta vừa nhận được kết quả dương tính HIV qua cuộc thử nghiệm mà bịnh viện vừa gởi tới. Anh cũng không ngờ số mệnh của mình lại kết cuộc như thế. Sau 3 năm lao động ở nước ngoài, với số tiền dành dụm được, anh vừa mới làm đám cưới với người yêu đã chờ đợi suốt thời gian anh ở nước ngoài. Thời gian thương nhớ 3 năm, cho nên khi chàng trai trở về, thì cô gái đã “cho” người yêu trước đêm tân hôn. Sáng ra, vợ chồng trẻ nhìn nhau, im lặng. Mỗi người miên man biết bao nhiêu ý nghĩ. Tương lai, hạnh phúc gia đình, thái độ phải đối diện với cuộc sống, về con cái, cha mẹ hai bên, về sức khoẻ và về cái chết.
Đàn ông là phải có râu «Nam tu nữ nhũ» như sách đã dạy. Khoa học lý giải râu là biểu hiện sức mạnh và từ đó phát xuất sự ham muốn chiếm đoạt nhưng không vì thế mà râu trở thành môt thứ vũ khí chết người. Râu của người Á châu khác với râu của người Âu châu, cả về cách để râu, chăm sóc râu. Theo kinh nghiệm, nhìn râu, người ta có thể xét đoán về người. Như người cương nghị, người vui tánh, người có máu … Riêng người cộng sản có râu hay không râu, râu tốt hay xấu, đều có liên hệ ít nhiều đến diễn tiến của phong trào cộng sản và số phận người lãnh đạo.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.