Hôm nay,  

Barack Obama & John McCain

14/05/200700:00:00(Xem: 9627)

  Trong các cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ tiền là huyết mạch. Tiền túi của mỗi ứng viên và nhất là tiền ủng hộ của các thế lực tài chánh và tiền ủng hộ của cử tri .

Theo các con số được công bố, trong ba tháng đầu của năm 2007 (1) bên phía Cộng Hòa ba người được tiền ủng hộ nhiều nhất theo thứ tự là: Mitt Romney (cựu thống đốc Massachusetts, $20.737.149),  Rudy Giuliani (cựu thị trưởng New York, $14.731.897), và John McCain (Thượng nghị sĩ, Arizona, $12.992.635). Bên phía Dân Chủ theo thứ tự là Hillary Clinton (Thượng nghị sĩ, New York, $26.041.109), Barack Obama (Thượng nghị sĩ, Illinois, $25.665.688), và John Edwards (cựu Thượng nghị sĩ, North Carolina, $14.021.504).

Các con số làm dư luận ngạc nhiên về cái thế đang lên của Thượng nghị sĩ Barack Obama (còn quá trẻ và mới vào Thượng nghị viện hơn 2 năm) và về vị trí khiêm nhượng của Thượng nghị sĩ John McCain. Tuy nhiên có nhiều yếu tố khác mà giới truyền thông và dư luận toàn quốc nhiều khi không tiện nói ra nhưng biết rằng cuối cùng rồi ai có thể  sẽ được đảng đề cử, cái yếu tố được diễn tả bằng một danh từ hiền lành nhưng rất quan trọng: electability (có thể đắc cử được).

Hỏi ai có thể đắc cử được, có nghĩa là hỏi ai có thể được đảng đề cử thì bên Dân chủ có bà Hillary Clinton và bên Cộng Hòa có Thượng nghị sĩ John McCain.

Thượng nghị sĩ Barack Obama dù được sự ủng hộ tài chánh, nhưng những người ủng hộ ông cũng như chính bản thân ông cũng biết rằng một người da đen dù thông minh như ông và có mẹ là một người da trắng cũng chưa thể được nhân dân Mỹ chấp nhận làm tổng thống Hoa Kỳ. Việc này có thể phải chờ một thế kỷ nữa hay sau một biến chuyển lớn trên thế giới không tiên đoán được. Nhưng việc quyết định ra tranh cử tổng thống của ông Barack Obama là một quyết định can đảm. Ông mở ra một kỷ nguyên mới cho người da đen.

Ông Colin Powell và bà Condoleezza Rice đã mở hé cánh cửa cho người da đen khi leo tới chức vụ tổng trưởng ngoại giao. Nhưng ông Powell qua con đường phục vụ quân đội và bà Rice qua con đường học vấn và trung thành với ông Bush; và cả hai được xử dụng như một nhu cầu chính trị của người da trắng.

Ông Barack Obama theo một con đường khác. Ông cố ý tạo dựng sức mạnh cho người da đen bằng con đường tập hợp lực lượng chính trị của người da đen. Ông tiếp nối con đường giải phóng người da đen của mục sư Martin Luther King, nhắm mục tiêu làm lu mờ dần quan niệm trắng đen trong xã hội Mỹ . Thượng nghị sĩ Barack Obama đang làm một cuộc cách mạng chứ thật sự ông không nhắm chức vụ tổng thống mà ông biết trong mọi trường hợp người Mỹ của thế kỷ này chưa thể dành cho ông.

Thượng nghị sĩ John McCain, trái lại có đủ tư thế để trở thành một tổng thống Mỹ. Ông bắt đầu sự nghiệp như một quân nhân và từng bị bắt cầm tù tại Hà Nội và từng bị ngược đãi tại nhà lao Hỏa Lò. Dù vậy khi trở thành thượng nghị sĩ ông không mang hận thù của chiến tranh vào chính sách và đã đóng một vai trò tích cực trong việc hàn gắn quan hệ giữa Hoa Kỳ và Hà Nội để xây dựng một thế đứng mới cho Hoa Kỳ trong vùng Thái bình dương sau khi thua trận tại Đông Dương. Trong nội bộ đảng Cộng Hòa ông chủ trương trong sạch hóa đảng và trong sạch hóa bộ máy tranh cử toàn quốc. Nếu mục đích của ông là làm một thượng nghị sĩ suốt đời thì ông sẽ là một thượng nghị sĩ đáng được ngưỡng mộ nhất. Nhưng mộng của ông là làm tổng thống Hoa Kỳ, và khó khăn của ông bắt đầu từ đó .

Năm 2000 ông ra tranh cử sự đề cử của đảng Cộng hòa, tranh với George W. Bush (Bush nhỏ) và ông đã bị bộ máy chính trị khổng lồ của đảng sau lưng tổng thống George H. Bush (Bush lớn) đánh bại một cách thảm hại . Năm 2000 Bush nhỏ đã thắng dù không mấy vẻ vang nhưng ông John McCain vẫn ở bên cạnh Bush như một đảng viên Cộng hòa trung thành để mua chuộc các thế lực của đảng. Tuy nhiên ông không từ bỏ những nguyên tắc của ông, như vận động cải tổ sự vận dụng tài chánh trong các cuộc tranh cử, và nghiêm khắc phê bình các nhóm quyền lực (special interest groups) và thế lực của giáo quyền trong chính trị .

Nhưng khó khăn của Thượng nghị sĩ John McCain bắt đầu sau cuộc khủng bố ngày 11/9/2001. Là một quân nhân phản ứng tự nhiên của Thượng nghị sĩ McCain là đánh trả. Và đó cũng là phản ứng của nhân dân Mỹ với sự đồng thuận của thế giới (qua Liên hiệp quốc). Và từ cuộc tấn công Afghanistan thành công dễ dàng lật đổ chế độ Taliban đã dung dưỡng nhóm al Qaeda, Thượng nghị sĩ John McCain đã nhiệt tình ủng hộ cuộc tấn công Iraq lật đổ Saddam Hussein mà Hoa Kỳ cho rằng có vũ khí giết người tập thể vào đầu năm 2003, mặc dù sau đó ông đủ sáng suốt để phê phán chính phủ Bush đã không có chính sách thích đáng làm cho tình hình Iraq trở nên tồi tệ .

Tuy nhiên Thượng nghị sĩ McCain thấy lúng túng hơn khi Bush tái tranh cử tổng thống năm 2004. Lúc này cuộc chiến tại Iraq đang dần trở thành một gánh nặng, dân chúng Hoa Kỳ bắt đầu nghi ngờ sự đúng đắn về quyết định đánh Iraq của Bush, chỉ còn giới tôn giáo ủng hộ Bush. Nhưng ông McCain không thể cách li với chính sách của Bush tại Iraq, một phần ông nghĩ đã vào cuộc Hoa Kỳ không thể bỏ đi một cách thiếu trách nhiệm, một phần ông cần ủng hộ Bush để tranh thủ nền tảng bảo thủ của đảng đang ủng hộ Bush cho cuộc vận động tranh cử tổng thống của ông. 

Cái may mắn của John McCain là Bush đã thắng lớn trong cuộc bầu cử năm 2004. Và mặc dù hai năm 2005, 2006 cuộc chiến tại Iraq bị sa lầy, uy tín của ông cũng không bị giảm sút.

Khó khăn thật sự đã đến với ông sau cuộc bầu cử quốc hội tháng 11/2006. Đảng Dân chủ đã nắm lại cả hai viện quốc hội vì dân chúng bất mãn với chính quyền của Bush, nhưng sự việc này không thể thay đổi thái độ chính trị của ông về Iraq.

Thượng nghị sĩ McCain thừa biết vấn đề Iraq khác vấn đề Việt Nam vào năm 1968, nghĩa là Hoa Kỳ không thể bỏ Iraq như đã bỏ Việt Nam mà không có những hệ lụy quan trọng đối với nền an ninh của Hoa Kỳ. Nhưng thay vì đưa ra một chính sách thích đáng, rút quân và áp dụng một chiến lược mềm dẽo tại Trung đông, cải đổi chính sách đối với Do Thái, nói chuyện với các nước thù địch với Hoa Kỳ tại Trung đông như Iran và Syria (như những nét chính trong bản phúc trình của Ủy ban Baker-Hamilton), Thượng nghị sĩ McCain đã cùng với bộ tham mưu của Bush quyết định đưa thêm hơn 30 ngàn quân sang Iraq, nói là để chiến thắng.

Nhưng sai lầm lớn nhất của Thượng nghị sĩ John McCain (và trở thành một trò cười cho dư luận) là sau khi Hoa Kỳ bắt đầu đưa thêm quân sang Baghdad, đầu tháng 4/2007 ông làm một chuyến du hành thăm phố xá thành phố Baghdad tại một vùng không cách khu an toàn Green Zone bao nhiêu và tuyên bố khu phố hoàn toàn an ninh (nhờ thêm quân) không khác gì một khu phố tại Hoa Kỳ. Trong khi đó ông mang áo giáp, có một trung đội binh sĩ súng đạn sẵn sàng đi kèm và trên bầu trời có nhiều trực thăng võ trang bay yểm trợ. Sự biểu diễn khôi hài này của Thượng nghị sĩ John McCain là giọt nước làm đầy ly nước và làm cho ông mất tính khả tín đối với quần chúng Mỹ vốn là một trong những tích sản quý báu nhất của ông. Dân chúng Hoa Kỳ, nhất là đảng viên đảng Cộng hòa bắt đầu nghi ngờ khả năng phán đoán và lãnh đạo của ông.

Thượng nghị sĩ McCain đang cố thoát ra khỏi sự lúng túng, nhưng có lẽ đã quá muộn. Ủng hộ một cá nhân, và một chính sách đã được 70% dân chúng bác bỏ, thêm một trò biễu diễn khôi hài ông McCain đã tự gạt mình ra khỏi danh sách những ứng viên có thể đắc cử .

Nói như vậy cũng không có nghĩa ông Giuliana sẽ được đảng Cộng hòa đề cử ra tranh cử tổng thống. Ông Giuliani có tích sản và tiêu sản chính trị. Ông có thành tích chống tội phạm và khủng bố . Năm 1994 khi đắc cử thị trưởng thành phố New York (một thành phố có truyền thống bầu thị trưởng Dân chủ) ông đã biến thành phố này thành một thành phố “ở được” bằng cách thẳng tay bài trừ ảnh hưởng của băng đảng Mafia trong thành phố mà các thị trưởng Dân chủ trước ông đã làm ngơ . Nhưng ông chủ trương kiểm soát sự sở hữu súng ống, chủ trương dùng ngân sách chính phủ giúp phụ nữ nghèo phá thai và nghĩ rằng những cặp đồng tính luyến ái sống với nhau như một gia đình cũng không có gì sai trái . Những chủ trương này không phù hợp với quan niệm của phái cực hữu có thế lực mạnh trong đảng Cộng hòa . Đó là chưa nói tới ông có vấn đề gia đình. Người vợ chính thức hiện nay của ông là người vợ thứ ba.

Ông Giuliani có những kinh nghiệm quản lý một thành phố (dù lớn như thành phố New York), nhưng thiếu kinh nghiệm điều hành một quốc gia như kinh nghiệm của đối thủ John McCain trong đảng, và đối thủ Hillary Clinton (ngoài đảng). 

Với sự chọn lựa khó hiểu của Thượng nghị sĩ John McCain ủng hộ Bush tăng quân tại Iraq và với những nhược điểm của ông Rudy Giuliani, đảng Cộng hòa sẽ chọn ai" Còn quá sớm để làm một kết luận. Nhưng hình như John McCain đã làm mất hy vọng là ứng cử viên sáng giá của đảng Cộng hòa . Sự mâu thuẫn giữa một con người ngay thẳng cố gắng đánh giá sự việc theo lương tâm và nhu cầu chính trị của một thế giới chưa xem chính trị là chính đạo đã làm chết giấc mơ phục vụ Hoa Kỳ và thế giới trong chánh đạo của ông John McCain.

Trong những ngày đầu năm 2007, dư luận Hoa Kỳ sôi nổi với hai tên tuổi: Barack Obama, John McCain. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn nữa khi Hoa Kỳ bước vào giai đoạn tranh cử gay go, có lẽ không còn ai nhắc đến hai tên tuổi đó nữa .

Nếu còn John McCain (trong trường hợp đảng Cộng hòa không có sự lựa chọn nào khác) thì cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2008 là một cơ may lớn cho đảng Dân chủ .

May 13, 2007

[email protected]

www.tranbinhnam.com

(1) “A closer look at money”: The Washington Post National Weekly Edition số tháng Tư 23-29, 2007.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.