Hôm nay,  

Ai Kỳ Hơn Ai?

19/10/200700:00:00(Xem: 9446)

...Giữa Hoa Kỳ và Thổ Nhĩ Kỳ, ai sẽ đoạt giải"...

Chỉ hai tiếng đồng hồ trước khi đứng cùng lãnh đạo Quốc hội Hoa Kỳ để chào đón đức Đạt Lai Lạt Ma trong sảnh đường Rotunda của tòa nhà Quốc hội, Tổng thống George W. Bush đã có một cuộc họp báo nẩy lửa.

Nẩy lửa vì trong cuộc họp báo, ông mạnh lời đả kích Quốc hội - xin hiểu là đảng Dân chủ đa số - không làm tròn nhiệm vụ trong một số lãnh vực. Ông Bush liệt kê rất dài các lãnh vực đó: bảo hiểm sức khoẻ, an ninh nội địa, ngân sách quốc gia, giáo dục, gia cư, ngoại thương, trợ giúp cựu chiến binh, tăng cường quyền hạn tư pháp. Và ông kết thúc danh mục về sự bất cập của Quốc hội Dân chủ bằng một khiếm khuyết khác: chẳng những không làm đủ nhiệm vụ cho quốc dân lại còn mau mắn thi hành một việc thừa thãi và bất hợp thời, là ra nghị quyết lên án xứ Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) về tội diệt chủng năm 1915.

Sau cuộc họp báo căng thẳng tới bốc lửa, ông qua Quốc hội dự lễ trao tặng huy chương vàng, sự tôn vinh cao quý nhất của Quốc hội Hoa Kỳ dành cho một nhân vật dân sự. Lần này là đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng.

Vị lãnh đạo tối cao của Phật giáo Tây Tạng có thể không biết là các chủ nhà đang cùng vinh danh mình thực ra cũng đang đấu trí và đấu võ với nhau, theo đúng quy luật dân chủ. Trong sảnh đường Rotunda trang trọng của Quốc hội, Hoa Kỳ có một bộ mặt văn minh và thống nhất khi tuyên dương một nhân vật xuất chúng và đặc biệt như đức Đạt Lai Lạt Ma, và gián tiếp thông báo cho lãnh đạo Trung Quốc rằng đã đến lúc họ nên trực tiếp nói chuyện với vị lãnh đạo Tây Tạng.

Nhưng, ở từ rất xa, lãnh đạo một quốc gia khác là Thổ Nhĩ Kỳ tại thủ đô Ankara cũng theo dõi rất sát những tranh chấp quan điểm trong nội tình Hoa Kỳ.

Ankara muốn biết rằng đề nghị của Ủy ban Ngoại giao Hạ viện có được cả Quốc hội Mỹ thông qua hay không, để lên án dân Thổ Nhĩ Kỳ về tội diệt chủng năm 1915, khi xứ này còn là một phần của Đế quốc Hồi giáo Ottoman. Tại cuộc họp báo sáng 17, Tổng thống Bush kêu gọi Quốc hội là đừng làm việc đó vào lúc này, như quan điểm của tất cả các cựu Ngoại trưởng còn sống của Hoa Kỳ, thuộc cả hai đảng. Lý do là sẽ gây phản tác dụng, vào một thời điểm cực kỳ nhạy cảm tại một địa điểm cực nóng, là Iraq.

Dư luận Hoa Kỳ có thể không cần biết tới sự quan tâm theo dõi của Ankara, nhưng họ cần biết là giá dầu thô trên thế giới đã tăng vọt tới mức kỷ lục là hơn 87 Mỹ kim một thùng, tăng chín đồng trong có một tuần. Chỉ vì quyết định lên án của Ủy ban Ngoại giao Hạ viện Hoa Kỳ, và phản ứng gay gắt của Thổ Nhĩ Kỳ khi họ chuẩn bị đưa quân vào Iraq.

Nếu có phải trả tiền xăng đắt hơn trong mấy tuần tới, dân Mỹ nên biết rằng điều ấy xuất phát từ sự bất ổn tại Vịnh Á Rập, và do một quyết định lạc quẻ của một số đại diện dân cử bên đảng Dân chủ. Đứng đầu là Dân biểu Chủ tịch Hạ viện, bà Nancy Pelosi, một người đã sốt sắng vận động việc tôn vinh đức Đạt Lai Lạt Ma.

Vì sao Quốc hội Dân chủ lại chọn lúc này để gây hấn với một đồng minh của Hoa Kỳ tại Iraq là Thổ Nhĩ Kỳ" Nếu đã vì đạo tắc, quy tắc về đạo lý, để không quên những việc làm sai quấy của nhân loại trong quá khứ thì vì sao không nhân dịp này ra một nghị quyết lên án Trung Quốc đã tàn sát hơn một triệu dân Tây Tạng sau khi công khai xâm lăng cứ này vào năm 1950 và ngang ngược tấn công thẳng vào thủ đô Lhasa vào năm 1959"

Đảm lược và lý trí của Quốc hội Hoa Kỳ là điều gì đó vượt ra khỏi lý trí của người bình thường và Thổ Nhĩ Kỳ có thấy Mỹ là kỳ quá thì cũng chẳng sai. Nhưng, lãnh đạo của họ có nhiệm vụ sâu xa hơn và phải nhìn rộng hơn một phản ứng nông nổi và ấu trĩ của Quốc hội Mỹ.

Họ phải suy nghĩ lại về chỗ đứng của mình.

Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ đã dùng một thành ngữ của dân Thổ, về hậu quả thì rất gần với câu nói của dân Việt, là già néo đứt dây. "Khi dây đã quá căng thì thà đứt cho xong!" là lời tuyên bố của ông Recep Tayyip Erdogan, người mới được dân Thổ tái tín nhiệm với một tỷ lệ phiếu rất cao cách đây đúng ba tháng. Với ông, "cho đứt dây" có nghĩa là cây  Thổ muốn lặng mà gió Mỹ chẳng muốn dừng, nên Thổ sẽ đổ quân vào Iraq để giải quyết cho sạch mối lo xuất phát từ dân Kurd.

Nó cũng gai góc như mối lo với dân Armenia ngày xưa, cách đây gần một thế kỷ.

Ngày xưa, Đế quốc Ottoman, tiền thân vĩ đại của Thổ Nhĩ Kỳ, là một chế độ Hồi giáo nhưng chấp nhận đa nguyên đa chủng. Đế quốc này nằm giữa một trục giao lưu vừa Đông-Tây (qua biển Địa Trung Hải) vừa Nam-Bắc, qua biển Caspian.

Thế rồi Thế chiến thứ nhất bùng nổ vì những tranh chấp của Âu châu, và đế quốc này lãnh hoạ sau đó. Giữa giải pháp dung hoà đặc tính đa nguyên vì đa chủng và đa văn hoá, với giải pháp củng cố sức mạnh quốc gia trong một xã hội thuần chủng, họ ngả theo giải pháp thứ hai. Giữa những biến động long trời lở đất của cả thế giới, tinh thần quốc gia dân tộc được dân Thổ đề cao. Đấy là lúc liệt cường dùng dao giải phẫu Đế quốc Ottoman theo kiểu Tây phương tại hội nghị Sèvres- nghĩa là ngang ngược: cho xứ này một mảnh, xứ kia một góc, bất chấp thực tế sắc tộc ở tại chỗ.

Thí dụ như xứ Hy Lạp (Grece) lại được phần béo bở là mạn Bắc của biển Dardanelles; còn Armenia có một lãnh thổ quá lớn cho một dân số quá nhỏ; và dân Kurd thì có đủ yếu tố đòi hỏi quyền độc lập mà lại không có lãnh thổ, để trở thành một quốc gia. Cụ thể là dân Kurd mà lập quốc là dân Turkey thấy sự toàn vẹn lãnh thổ của họ bị đe dọa.

Hoà ước thành Sevres vào năm 1920 đã gieo mầm loạn cho Thổ Nhĩ Kỳ và sau ba năm tranh đấu để đòi lại đất đai đã bị liệt cường chia vụn cho Hy Lạp, Armenia và người Kurd, họ luôn luôn hoài nghi tinh thần giải phẫu vô trách nhiệm của các nước Tây phương. Việc họ tàn sát dân Armenia từ năm 1915 đến 1920 là điều không tha thứ được, nhưng phải được hiểu như một phản ứng sợ hãi. Phản ứng tâm lý đó vẫn còn sau khi Thổ Nhĩ Kỳ giành độc lập và ra khỏi tinh thần đa nguyên của Đế quốc Ottoman đã bị khai tử.

Ngày nay, nếu họ luôn luôn trú quân tại miền Bắc Iraq để lập vùng trái độn trong khu vực sinh hoạt của dân Kurd, tại Turkey và Iraq, người ta có thể hiểu ra. Quốc hội Mỹ không xem bản đồ hay đọc lịch sử nên khỏi cần hiểu chuyện ấy. Dân Mỹ đã bầu lên cấp lãnh đạo như vậy càng khỏi cần hiểu chuyện ấy! Và không biết rằng quân số của Turkey đang trú đóng tại miền Bắc Iraq còn cao hơn 160 ngàn lính Mỹ tại Iraq. Vì không hiểu nên, một lần nữa lại đòi giật đuôi cọp.

Năm 1991, sau khi tấn công Iraq để giải phóng Kuweit, Hoa Kỳ vào thời Bush cha đã tặng Turkey một món quà độc bất ngờ, cứ tưởng như chính đáng, là muốn cho dân Kurd được tự trị tại miền Bắc Iraq, tiếp giáp với vùng sinh hoạt của dân Kurd ở Turkey. Dân Kurd này mà đấu tranh để giành độc lập là cả Iraq lẫn Turkey sẽ loạn to. Vì vậy, năm 1995, Turkey đã tung vào Iraq 35 ngàn quân để đàn áp cuộc nổi dậy của người Kurd.

Bây giờ, nỗi ám ảnh nguyên thủy của dân Thổ đang tái diễn khi dân Kurd tại Iraq đang có nhiều quyền hạn hơn vì hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ. Và còn đang vận động đầu tư quốc tế vào các giếng dầu trong vùng kiểm soát của họ. Nhìn từ Ankarra, đấy là điều đáng ngại khi mà lực lượng cực đoan nhất của dân Kurd, đảng Công nhân Kurdistan PKK (một nhóm phiến loạn bị Hoa Kỳ lên án là khủng bố) lại tấn công các căn cứ quân sự của Turkey và rút chạy qua biên giới Iraq.

Turkey cần sự hợp tác của Hoa Kỳ để giải quyết bài toán của họ, và sẽ hợp tác với Chính quyền Bush để giải quyết bài toán Iraq của Mỹ. Giữa thời điểm ấy, Quốc hội Mỹ lại kết án dân Thổ về một tội ác xảy ra gần trăm năm trước!

Ngày 15 vừa qua, người cầm đầu quân đội Hoa Kỳ, Đô đốc Chủ tịch Bộ tham mưu Liên quân Michael Mullen đã phải gọi thẳng vị tương nhiệm là Đại tướng Yasar Buyukanit để nói chuyện về những hậu quả của dự luật kết án Turkey đang được Quốc hội Mỹ cứu xét. Nếu chuyện đáng tiếc ấy thành hình, nhẹ nhất thì quân lực Hoa Kỳ cũng hết được dùng căn cứ không quân Incrilik của xứ Turkey, tức là sẽ gặp trở ngại lớn về tiếp liệu cho các đơn vị Mỹ tại Iraq. Nặng hơn nữa, lính Thổ sẽ nhập trận tại miền Bắc Iraq để tấn công dân Kurd, và kế hoạch ổn định của Mỹ sẽ cháy như bó đuốc!

Trong hơn nửa thế kỷ, Thổ Nhĩ Kỳ đã là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ và thành viên khả tín trong Minh ước NATO suốt thời Chiến tranh lạnh. Thổ Nhĩ Kỳ cũng là một đồng minh kín đáo của Israel trong tình trạng sôi bỏng tại Trung Đông, và mãi tới gần đây có thể còn báo tin ngầm cho Israel trong vụ phi cơ Do Thái tấn công một căn cứ nguyên tử của Syria vào ngày mùng sáu vừa qua. Sự hợp tác ấy đang bị bào mỏng, và có thể dứt, như Thủ tướng Tayyip Erdogan đã cảnh báo.

Lý do gắn bó năm xưa của Thổ Nhĩ Kỳ là Hoa Kỳ giữ vai trò một siêu cường ổn định, cho phép họ gìn giữ được an ninh và phát triển thành một quốc gia tân tiến. Với vị trí của mình là một cường quốc trong khu vực, Thổ Nhĩ Kỳ sẵn sàng là đồng minh của thế lực ổn định, là Hoa Kỳ. Nhưng khi tấn công Iraq và quậy nát trật tự cũ trong khu vực, Hoa Kỳ đã khiến dân Thổ chột dạ. Nhìn từ quan điểm của dân Thổ, Ankara có lý do chống lại việc Mỹ vào Iraq năm 2003 và chỉ còn giữ vai trò yểm trợ rất thứ yếu, và canh chừng mối nguy của dân Kurd, một đồng minh khác của Mỹ trong khu vực.

Lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ đang cân nhắc ngần ấy rủi ro trong khu vực: Iran nay đã trở thành một cường quốc sát nách và hết sợ đối thủ truyền kiếp là Iraq. Liên bang Nga nay đã đứng dậy, khống chế toàn khu vực Caspian và muốn quay về Địa Trung Hải. Trong khi ấy, dân Kurd đã mơ ước sẽ có ngày lập quốc từ những mảnh vụn tại Iraq, Turkey và Iran, thành Cộng hoà Kurdistan có dầu khí!

Giữa những rủi ro ấy họ cần xem lại là Hoa Kỳ có thiện chí và đáng tin tới mức nào, hay sẽ như liệt cường thời 1920, xé nát cả khu vực này do những tính toán thiển cận của Washington. Họ đang được Tổng thống Bush trấn an và kêu gọi kiên nhẫn thì lại bị Quốc hội Dân chủ vỗ mặt.

Quốc hội Mỹ muốn dùng dân Thổ phá nát kế hoạch Iraq của Chính quyền Bush. Vừa phải vuốt mặt, lãnh đạo Thổ vừa suy tính xem là họ có nên làm trò đánh lén không công ấy hay chăng.

Thành thử, giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hoa Kỳ, ai kỳ hơn ai thì ai cũng rõ.

Nếu chưa rõ thì có thể hỏi lại Quốc hội Mỹ, rằng dân Mỹ từ đâu tới để lập quốc trên xứ này, và những người Mỹ nguyên thủy, thổ dân Mỹ, đã bị diệt chủng ra sao" Một lễ Tạ ơn hàng năm để cám ơn thổ dân Mỹ về mấy con Turkey thực ra chưa đủ xoá tội đâu. Việc cho mở sòng bài để kiếm bạc triệu với lý do trợ cấp cho một số thổ dân Mỹ cũng thế!

Vì sao không sờ vào gáy mình mà lại còn muốn hỏi tội xứ Turkey, và hùng dũng lặng thinh về tội ác tày trời của rất nhiều xứ khác" Kỳ cục!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.