Hôm nay,  

Câu Chuyện Thầy Lang: Sinh Tố

28/01/201100:00:00(Xem: 12801)
Câu Chuyện Thầy Lang: Sinh Tố

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Sinh tố là những chất hữu cơ cần thiết cho sự tăng trưởng và duy trì sức khỏe cơ thể. Sinh tố góp phần điều hành chức năng của các cơ quan, bộ phận trong người.
Tên tiếng Anh của Sinh Tố là Vitamin, có nguồn gốc tiếng La Tinh "vita" có nghĩa là đời sống và amino là chất dinh dưỡng cần thiết. Hầu hết các sinh tố cần phải được cung cấp từ thức ăn, vì cơ thể con người không thể tổng hợp được, trừ hai sinh tố D và sinh tố K. Điều may mắn là trong thực phẩm có đủ các loại sinh tố.
Mặc dù ta chỉ cần một lượng sinh tố rất nhỏ nhưng lượng nhỏ đó giữ vai trò rất quan trọng cho sự sinh tồn của cơ thể. Không có sinh tố thì những sinh vật cao cấp như loài người, không thể tồn tại.
Công dụng
Sau đây là một số công dụng của sinh tố:
- Góp phần vào việc cấu tạo tế bào máu, xương và răng.
- Điều hành có hiệu quả những chức năng của tim và hệ thần kinh, tăng cường thị lực của mắt.
-Giúp cơ thể biến thực phẩm thành năng lượng.
-Giữ vai trò xúc tác trong các hệ thống sinh hóa và có nhiệm vụ biến năng lượng để giúp các tế bào và các mô hoàn hành các chức năng rất cần thiết cho sức khỏe của con người;
-Ngoài ra, sinh tố còn có tác dụng hỗ trợ cơ thể sử dụng các khoáng chất, chất đạm, chất bột đường và nước.
Phân loại
Có 13 loại sinh tố chính. Đó là sinh tố A, C, D, E, K và 8 sinh tố thuộc nhóm B như B1 (thiamin), B2 (riboflavin), B3 (niacin), B5 (pantothenic acid), B6 (pyridoxine), B12 cobalamin), folacin (acid foli) và biotin.
Đặc biệt, sinh tố A vừa có trong các thực phẩm từ động vật như thịt, trứng lại cũng có ở dạng gọi là caroten trong thực vật. Khi được đưa vào cơ thể, caroten biến thành sinh tố A. Caroten có nhiều trong cà rốt, rau xanh, cà chua .. Caroten còn là một chất chống oxy hóa rất hữu hiệu.
Ngoài ra còn một số chất không là sinh tố nhưng có các chức năng gần giống như sinh tố ( vitaminlike substances). Chẳng hạn như bioflavonoid, carnitine, coenzyme, inositol.
Có hai nhóm sinh tố. Nhóm hòa tan trong chất béo như các sinh tố A, D, E, và K và nhóm hòa tan trong nước gồm có sinh tố C và các sinh tố B.
Sự phân biệt này rất quan trọng vì cơ thể tồn trữ sinh tố hòa tan trong chất béo ở gan và mô béo tương đối lâu hơn, cho nên tình trạng thiếu hụt các sinh tố nhóm này chậm xẩy ra. Còn những sinh tố hòa tan trong nước chỉ tồn tại một thời gian ngắn trong cơ thể và cần được bổ sung thường xuyên để tránh các bệnh gây ra do thiếu những sinh tố nhóm này
Đa số sinh tố dễ bị sức nóng và ánh sáng hủy hoại. Do đo, trong quá trình tồn trữ và nấu nướng thực phẩm, một số sinh tố bị mất đi. Sự mất mát càng lớn khi thực phẩm được tồn trữ dưới ánh sáng, sức nóng hoặc không được ướp lạnh, cất giữ đúng cách.
Sinh tố hòa tan trong chất béo có đều ổn định hơn sinh tố hòa tan trong nước khi thực phẩm được nấu nướng. Ví dụ, khi đun sôi thì lượng sinh tố hòa tan trong nước bị phân hủy trong nước nóng, cho nên muốn duy trì lượng sinh tố này thì không nên nấu quá lâu và chỉ nên nấu với ít nước.
Mỗi sinh tố có nhiệm vụ riêng của nó. Trong một số trường hợp, vài loại sinh tố có tác dụng tương hỗ nhưng không thể thay thế cho nhau.
Ví dụ:

Mặc dầu cơ thể cần sinh tố, nhưng sinh tố không thể thay thế thực phẩm. Nếu thay thế được thì người ta đã không cần những bữa ăn rườm rà, thịnh soạn mà chỉ cần uống vài viên sinh tố.
Không có thực phẩm thì sinh tố không được cơ thể hấp thụ vào các hệ thống sinh hóa để làm nhiệm vụ biến năng . Do đó, nếu cần dùng thêm sinh tố thì nên uống vào bữa ăn.
Sinh tố không cung cấp năng lượng (calori) và không có khả năng tự nó làm tăng trưởng cơ thể như các chất đạm, chất béo, carbohydrate, khoáng chất và nước.
Sau đây là số lựong đựơc khuyến cáo nên tiêu dùng hàng ngày qua thực phẩm để có sức khỏe tốt
Sinh tố A: Nam giới 1000mcg/ ngày; nữ giới 800 mcg/ngày
Sinh tố D: 10mcg;
Sinh tố E: nam 10mg; nữ 8 mg;
Sinh tố K: nam 70-80mcg, nữ: 60-65mcg;
Sinh tố C : nam 90mg; nữ 75mg.
Sinh tố Thiamin B1: nam 1,2-1,5 mg; nữ 1-1,1mg;
Sinh tố D có hiệu quả tốt hơn nếu dùng chung với sinh tố A.
Cặp sinh tố D và A hoạt động tốt hơn nếu có sự hiện diện của sinh tố B;
Sinh tố E được tăng hiệu năng khi đi chung với cặp sinh tố D và A;
Sinh tố C có ảnh hưởng đến tác dụng của sinh tố A;
Khi thiếu sinh tố B1 thì sự hấp thụ những sinh tố khác trong cơ thể gặp trở ngại.
Sinh tố Riboflavin B2 : nam 1,3mg; nữ 1,1mg;
Sinh tố Niacin B3: nam 16mg; nữ 14mg;
Panthothenic acid: 5mg;
Sinh tố B6: 1,3-1,7 mg;
Folate: 400 mcg;.
Sinh tố B12: 2,4mcg/ngày
Mcg là 1/1000 mg.
Áp dụng thực tế
-Tại Hoa Kỳ, sinh tố bán trên thị trường dược xếp vào nhóm "thực phẩm bổ sung" (dietary supplement), tương tự các thành phần thực phẩm khác như khoáng chất, thảo mộc, enzym…và đựoc coi như thực phẩm chứ không phải là dược phẩm. Vì không là dựoc phẩm, sinh tố không chịu sự kiểm soát của Cơ quan Thực Dựoc Phẩm về phẩm chất cũng như công hiệu. Do đó nên dè dặt lựa chọn, đừng quá tin tưởng vào lời quảng cáo không có căn bản khoa học của nhà sản xuất.
-Nên tránh tiêu thụ liều lượng quá cao (mega dose) nếu chưa có ý kiến của bác sĩ hoặc chuyên viên dinh dưỡng, vừa tốn tiền vừa lãnh hậu quả có hại. Chẳng hạn, dùng đúng hướng dẫn, sinh tố A giúp thị giác tốt, nhưng nếu dùng quá nhiều thì thị giác lại kém đi.Ngoài ra dùng quá nhiều một sinh tố có thể gây ra mất cân bằng hoặc tương tác giữa các chất này.
-Phân biệt sinh tố tự nhiên từ thực phẩm với sinh tố tổng hợp trong phòng thí nghiệm. Sinh tố tổng hợp thường rẻ hơn; chỉ có một loại sinh tố cho nên có thể thiếu vài yếu tố do tạo hóa cung cấp; có một vài chất mà nhà sản xuất cho thêm vào để ổn định sản phẩm và có thể gây ra vài rối loại nhỏ cho cơ thể.
-Những người sau đây cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng thêm sinh tố: phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú; trẻ em và người cao tuổi; người đang có bệnh kinh niên hoặc đang dùng các dược phẩm trị bệnh.
-Không nên nghĩ là sinh tố có khả năng trị dứt bệnh, ngoại trừ trong bệnh phù beriberi do thiếu thiamin hoặc bệnh sưng chẩy máu nớu răng do thiếu sinh tố C. Trong 2 bệnh này, bổ sung sinh tố B1 và C giải quyết đựoc vấn đề.
-Khi mua, nên đọc kỹ nhãn sản phẩm trong đó có ghi rõ thành phần các sinh tố với liều lựong, cách dùng.
-Và luôn luôn hỏi ý kiến bác sĩ trước khi định dùng thêm sinh tố, dược thảo..
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức M.D.
Texas-Hoa Kỳ
(www.bsnguyenyduc.com)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mọi người thỉnh thoảng sẽ bị nấc cụt và đôi khi các cơn nấc cụt khá lì lợm, không chịu biến đi. Nấc cụt là sự co thắt không chủ ý của cơ hoành (diaphragm) – cơ ngăn cách phần ngực với phần bụng, đóng vai trò chính trong việc hít thở – sau đó là các dây thanh âm đóng lại đột ngột.
Bệnh Mất Trí (Alzheimer) là chứng bịnh mà các tế bào thần kinh trong não bị teo đi. Đó là do sự tích tụ bất thường của protein beta-amyloid và protein tau. Nghiên cứu về các loại thuốc chống lại bệnh Alzheimer cho thấy rằng nên điều trị sớm trong quá trình điều trị bệnh, trước khi quá nhiều tế bào thần kinh của não bị chết.
Số lượng người trên thế giới sống chung với bệnh suy tim ngày càng tăng, suy tim là tình trạng cơ tim bị suy yếu và không thể bơm đủ lượng máu cần thiết để cung cấp đủ oxy và chất dinh dưỡng cho cơ thể. Người bệnh bị suy tim sẽ suy giảm khả năng hoạt động, suy giảm chất lượng sống, tùy từng mức độ sẽ cần sự hỗ trợ khác nhau. Ngoài ra người bệnh suy tim nặng sẽ đứng trước nguy cơ tử vong cao. Có những phương pháp điều trị làm chậm quá trình này, nhưng không có phương pháp nào trực tiếp làm tăng khả năng bơm máu của tim.
Các chuyên gia nghiên cứu tại Trường University of Miami đã báo cáo hai trường hợp đầu tiên được xác nhận vi rút SARS-CoV-2 truyền qua nhau thai và gây tổn thương não cho thai nhi, theo trang Reuters đưa tin ngày Thứ Năm, 6 tháng 4 năm 2023. Theo nhóm nghiên cứu, trước đây, các bác sĩ đã nghi ngờ điều này có thể xảy ra nhưng chưa tìm được bằng chứng trực tiếp nào cho thấy vi rút COVID-19 tồn tại trong nhau thai hoặc não của trẻ sơ sinh.
Điều gì đang xảy ra trong não và cơ thể khi chúng ta thưởng thức nghệ thuật? Đây là một câu hỏi đã nằm trong tâm trí của Anjan Chatterjee nhiều năm. Ông Anjan là giáo sư về thần kinh học, tâm lý học và kiến trúc tại Trường Pennsylvania (University of Pennsylvania). Tại đây, ông đã thành lập một trong những phòng thí nghiệm đầu tiên trên thế giới dành riêng cho khoa học về thần kinh và thẩm mỹ - Penn Center for Neuroaesthetics.
Bàng quang hay bọng đái (bladder) là một cơ quan hình tròn giống như một chiếc túi, có nhiệm vụ chứa nước tiểu. Nó nằm ở vùng xương chậu, bên dưới thận và ngay phía sau xương chậu. Về cơ bản thì nó là một bể chứa bằng thịt, nhưng thiết kế của ‘bể chứa’ này rất phức tạp.
Hàng triệu người trên thế giới bị mắc chứng huyết áp cao, và từ lâu các nhà nghiên cứu đã cho biết các chứng bịnh mất trí nhớ có liên quan đến bịnh huyết áp cao. Nhưng làm thế nào mà áp suất cao trong các mạch lại gây tổn hại cho não thì vẫn chưa được rõ ràng.
Theo một đánh giá dữ liệu từ hơn 30 triệu người trưởng thành, chỉ cần 11 phút hoạt động thể chất vừa phải mỗi ngày có thể giảm 23% nguy cơ ‘yểu mệnh.’ Các tác giả nghiên cứu khuyến nghị rằng nếu mọi người có thể đạt được mục tiêu hàng ngày này, thì thế giới có thể ngăn chặn được 1 trong 10 ca ‘chết yểu.’
Theo Viện Ung Thư Quốc Gia (National Cancer Institute – NCI), bàng quang khi rỗng có kích thước và hình dạng bằng trái lê. Tuy nhiên, nó có thể giãn ra lớn hơn nhiều khi cần thiết, và co trở lại khi trống. Trên thực tế, nó có thể chứa khoảng 16 ounce (gần nửa lít) nước tiểu cùng một lúc trong từ hai đến năm tiếng đồng hồ một cách thoải mái, theo Thư viện Y khoa Quốc gia Hoa Kỳ (U.S. National Library of Medicine – NLM).
Ông bà ta có câu: “Thùng rỗng kêu to.” Và hóa ra theo góc nhìn khoa học thì điều này cũng có phần đúng. Một nghiên cứu gần đây cho thấy những người sở hữu trí tuệ về sự khiêm tốn thường sẽ thông minh hơn. Nghiên cứu mới được công bố trên Journal of Positive Psychology. Tác giả chính là Elizabeth J. Krumrei-Mancuso, từ Trường Pepperdine University, đã làm việc cùng với nhóm của bà để nghiên cứu một khái niệm mà họ gọi là trí tuệ về sự khiêm tốn (intellectual humility). Trí tuệ về sự khiêm tốn là khả năng chấp nhận sai lầm về mặt trí tuệ (intellectually fallible) một cách cởi mở và điềm đạm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.