Hôm nay,  

Câu Chuyện Thầy Lang: Sinh Tố

28/01/201100:00:00(Xem: 12607)
Câu Chuyện Thầy Lang: Sinh Tố

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Sinh tố là những chất hữu cơ cần thiết cho sự tăng trưởng và duy trì sức khỏe cơ thể. Sinh tố góp phần điều hành chức năng của các cơ quan, bộ phận trong người.
Tên tiếng Anh của Sinh Tố là Vitamin, có nguồn gốc tiếng La Tinh "vita" có nghĩa là đời sống và amino là chất dinh dưỡng cần thiết. Hầu hết các sinh tố cần phải được cung cấp từ thức ăn, vì cơ thể con người không thể tổng hợp được, trừ hai sinh tố D và sinh tố K. Điều may mắn là trong thực phẩm có đủ các loại sinh tố.
Mặc dù ta chỉ cần một lượng sinh tố rất nhỏ nhưng lượng nhỏ đó giữ vai trò rất quan trọng cho sự sinh tồn của cơ thể. Không có sinh tố thì những sinh vật cao cấp như loài người, không thể tồn tại.
Công dụng
Sau đây là một số công dụng của sinh tố:
- Góp phần vào việc cấu tạo tế bào máu, xương và răng.
- Điều hành có hiệu quả những chức năng của tim và hệ thần kinh, tăng cường thị lực của mắt.
-Giúp cơ thể biến thực phẩm thành năng lượng.
-Giữ vai trò xúc tác trong các hệ thống sinh hóa và có nhiệm vụ biến năng lượng để giúp các tế bào và các mô hoàn hành các chức năng rất cần thiết cho sức khỏe của con người;
-Ngoài ra, sinh tố còn có tác dụng hỗ trợ cơ thể sử dụng các khoáng chất, chất đạm, chất bột đường và nước.
Phân loại
Có 13 loại sinh tố chính. Đó là sinh tố A, C, D, E, K và 8 sinh tố thuộc nhóm B như B1 (thiamin), B2 (riboflavin), B3 (niacin), B5 (pantothenic acid), B6 (pyridoxine), B12 cobalamin), folacin (acid foli) và biotin.
Đặc biệt, sinh tố A vừa có trong các thực phẩm từ động vật như thịt, trứng lại cũng có ở dạng gọi là caroten trong thực vật. Khi được đưa vào cơ thể, caroten biến thành sinh tố A. Caroten có nhiều trong cà rốt, rau xanh, cà chua .. Caroten còn là một chất chống oxy hóa rất hữu hiệu.
Ngoài ra còn một số chất không là sinh tố nhưng có các chức năng gần giống như sinh tố ( vitaminlike substances). Chẳng hạn như bioflavonoid, carnitine, coenzyme, inositol.
Có hai nhóm sinh tố. Nhóm hòa tan trong chất béo như các sinh tố A, D, E, và K và nhóm hòa tan trong nước gồm có sinh tố C và các sinh tố B.
Sự phân biệt này rất quan trọng vì cơ thể tồn trữ sinh tố hòa tan trong chất béo ở gan và mô béo tương đối lâu hơn, cho nên tình trạng thiếu hụt các sinh tố nhóm này chậm xẩy ra. Còn những sinh tố hòa tan trong nước chỉ tồn tại một thời gian ngắn trong cơ thể và cần được bổ sung thường xuyên để tránh các bệnh gây ra do thiếu những sinh tố nhóm này
Đa số sinh tố dễ bị sức nóng và ánh sáng hủy hoại. Do đo, trong quá trình tồn trữ và nấu nướng thực phẩm, một số sinh tố bị mất đi. Sự mất mát càng lớn khi thực phẩm được tồn trữ dưới ánh sáng, sức nóng hoặc không được ướp lạnh, cất giữ đúng cách.
Sinh tố hòa tan trong chất béo có đều ổn định hơn sinh tố hòa tan trong nước khi thực phẩm được nấu nướng. Ví dụ, khi đun sôi thì lượng sinh tố hòa tan trong nước bị phân hủy trong nước nóng, cho nên muốn duy trì lượng sinh tố này thì không nên nấu quá lâu và chỉ nên nấu với ít nước.
Mỗi sinh tố có nhiệm vụ riêng của nó. Trong một số trường hợp, vài loại sinh tố có tác dụng tương hỗ nhưng không thể thay thế cho nhau.
Ví dụ:

Mặc dầu cơ thể cần sinh tố, nhưng sinh tố không thể thay thế thực phẩm. Nếu thay thế được thì người ta đã không cần những bữa ăn rườm rà, thịnh soạn mà chỉ cần uống vài viên sinh tố.
Không có thực phẩm thì sinh tố không được cơ thể hấp thụ vào các hệ thống sinh hóa để làm nhiệm vụ biến năng . Do đó, nếu cần dùng thêm sinh tố thì nên uống vào bữa ăn.
Sinh tố không cung cấp năng lượng (calori) và không có khả năng tự nó làm tăng trưởng cơ thể như các chất đạm, chất béo, carbohydrate, khoáng chất và nước.
Sau đây là số lựong đựơc khuyến cáo nên tiêu dùng hàng ngày qua thực phẩm để có sức khỏe tốt
Sinh tố A: Nam giới 1000mcg/ ngày; nữ giới 800 mcg/ngày
Sinh tố D: 10mcg;
Sinh tố E: nam 10mg; nữ 8 mg;
Sinh tố K: nam 70-80mcg, nữ: 60-65mcg;
Sinh tố C : nam 90mg; nữ 75mg.
Sinh tố Thiamin B1: nam 1,2-1,5 mg; nữ 1-1,1mg;
Sinh tố D có hiệu quả tốt hơn nếu dùng chung với sinh tố A.
Cặp sinh tố D và A hoạt động tốt hơn nếu có sự hiện diện của sinh tố B;
Sinh tố E được tăng hiệu năng khi đi chung với cặp sinh tố D và A;
Sinh tố C có ảnh hưởng đến tác dụng của sinh tố A;
Khi thiếu sinh tố B1 thì sự hấp thụ những sinh tố khác trong cơ thể gặp trở ngại.
Sinh tố Riboflavin B2 : nam 1,3mg; nữ 1,1mg;
Sinh tố Niacin B3: nam 16mg; nữ 14mg;
Panthothenic acid: 5mg;
Sinh tố B6: 1,3-1,7 mg;
Folate: 400 mcg;.
Sinh tố B12: 2,4mcg/ngày
Mcg là 1/1000 mg.
Áp dụng thực tế
-Tại Hoa Kỳ, sinh tố bán trên thị trường dược xếp vào nhóm "thực phẩm bổ sung" (dietary supplement), tương tự các thành phần thực phẩm khác như khoáng chất, thảo mộc, enzym…và đựoc coi như thực phẩm chứ không phải là dược phẩm. Vì không là dựoc phẩm, sinh tố không chịu sự kiểm soát của Cơ quan Thực Dựoc Phẩm về phẩm chất cũng như công hiệu. Do đó nên dè dặt lựa chọn, đừng quá tin tưởng vào lời quảng cáo không có căn bản khoa học của nhà sản xuất.
-Nên tránh tiêu thụ liều lượng quá cao (mega dose) nếu chưa có ý kiến của bác sĩ hoặc chuyên viên dinh dưỡng, vừa tốn tiền vừa lãnh hậu quả có hại. Chẳng hạn, dùng đúng hướng dẫn, sinh tố A giúp thị giác tốt, nhưng nếu dùng quá nhiều thì thị giác lại kém đi.Ngoài ra dùng quá nhiều một sinh tố có thể gây ra mất cân bằng hoặc tương tác giữa các chất này.
-Phân biệt sinh tố tự nhiên từ thực phẩm với sinh tố tổng hợp trong phòng thí nghiệm. Sinh tố tổng hợp thường rẻ hơn; chỉ có một loại sinh tố cho nên có thể thiếu vài yếu tố do tạo hóa cung cấp; có một vài chất mà nhà sản xuất cho thêm vào để ổn định sản phẩm và có thể gây ra vài rối loại nhỏ cho cơ thể.
-Những người sau đây cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng thêm sinh tố: phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú; trẻ em và người cao tuổi; người đang có bệnh kinh niên hoặc đang dùng các dược phẩm trị bệnh.
-Không nên nghĩ là sinh tố có khả năng trị dứt bệnh, ngoại trừ trong bệnh phù beriberi do thiếu thiamin hoặc bệnh sưng chẩy máu nớu răng do thiếu sinh tố C. Trong 2 bệnh này, bổ sung sinh tố B1 và C giải quyết đựoc vấn đề.
-Khi mua, nên đọc kỹ nhãn sản phẩm trong đó có ghi rõ thành phần các sinh tố với liều lựong, cách dùng.
-Và luôn luôn hỏi ý kiến bác sĩ trước khi định dùng thêm sinh tố, dược thảo..
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức M.D.
Texas-Hoa Kỳ
(www.bsnguyenyduc.com)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tháng 12 năm 1998, một cuộc hội thảo kéo dài hai ngày rưỡi đã được tổ chức tại Newport Beach, California, để thảo luận và trình bày kết quả nghiên cứu về công dụng của tỏi.
Lời phi lộ: Tình cờ đọc tin này cách đây 4 ngày nhưng nghĩ là mùa World Cup có lẽ độc giả ưu tiên giải trí với môn đá banh nên tôi dời lại vài ngày. Có thể quý ông bà, quý vị niên trưởng nhiều kinh nghiệm sống đã biết nhưng tôi cũng mạn phép phổ biến giới thiệu để quý độc giả nào chưa nghe đến những cách thức đơn giản "đuổi kiến đi" như tôi cùng tham khảo để từ đó áp dụng (LNC).
Trong mấy chục năm gần đây, dân chúng ở các quốc gia Âu Mỹ bắt đầu tiêu thụ một số lượng rất lớn đậu nành. Họ đã được các nhà nghiên cứu khoa học thông báo nhiều ích lợi về dinh dưỡng cũng như trị liệu của loại thực vật này. Đã có ít nhất là ba cuộc hội thảo quốc tế về vai trò của đậu nành trong việc phòng ngừa và trị các bệnh kinh niên. Giới truyền thông, báo chí cũng đăng tải nhiều nghiên cứu về công dụng của đậu nành.
Sức khỏe tốt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như gen di truyền, tuổi tác, nếp sống cá nhân, môi trường chung quanh, sự chăm sóc sức khỏe, kiến thức tổng quát và cách thức ăn uống.
Nhiều nhà chuyên môn đề nghị chính xác hơn: sốt là khi nhiệt độ lên cao vì một bệnh nào đó chứ không phải vì các lý do thông thường như sự tiêu hóa thực phẩm, khi có cảm xúc mạnh, khi vận động cơ thể, có thai, có kinh nguyệt...
Thân thể chuyển hóa các chất dinh dưỡng thành năng lượng, có đơn vị cơ bản là calori (Cal) . Một calorie là số năng lượng cần có để nâng nhiệt độ của 1 gr nước lên 1ºC. Vì đơn vị calori quá nhỏ, nên khi tính toán năng lượng người ta thường dùng kilocalori (Kcal), tương đương với 1.000 calori. Mặc dù theo thói quen người ta vẫn gọi là calori, nhưng trong dinh dưỡng nên hiểu là được dùng để chỉ cho kilocalori (Kcal)
Kích thích tố mà tiếng Anh gọi là Hormone. Có nhiều loại khác nhau và đây là những chất rất cần cho cơ thể. Xin cùng tìm hiểu về chất này.
Móng là nói chung cho cả móng tay và móng chân. Bệnh của móng có thể phục hồi sau khi điều trị, nhưng móng mọc lại rất chậm. Cho nên chăm sóc, bảo vệ móng, tránh hư hao là điều cần lưu ý.
Việc đọc hiểu các nhãn thực thực phẩm có thể giúp chúng ta chọn lựa đúng loại thực phẩm thích hợp với nhu cầu sức khỏe, có thể so sánh những món ăn tương tự để chọn được món ăn tốt hơn
Bột Ngọt là chất kết tinh không mùi, mầu trắng nom giống như muối. Dù không có mùi nhưng bột ngọt lại có đặc tính làm nổi bật hương vị của thịt và một số thực phẩm khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.