Hôm nay,  

Nho

20/10/201700:00:00(Xem: 9548)

BS_NGUYEN_Y_DUC nguyen y du
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
 

Nho là loại quả mọng xanh hoặc tím mọc thành chùm trên cây leo. Nho có thể ăn tươi hoặc dùng  làm rượu vang.

Cũng như nhiều loại trái cây khác, nho có nguồn gốc ở vùng Trung Á, nhưng ngày nay nho được trồng ở khắp mọi nơi.
 

Loại nho

Nho gồm có hai loại chính: nho Âu châu để ăn và làm rượu; nho Mỹ để lấy nước, làm mứt. Theo nhiều người, nho Âu châu ngon hơn và có nhiều chất dinh dưỡng hơn nho Mỹ. Có nho trắng và nho đỏ, nho có hột và không có hột.

Các loại nho thường dùng là: nho vỏ xanh Thompson không hột, Calmeria, Almeria, Perlette; nho vỏ đỏ tươi như Tokay và Red malaga; nho đỏ Emperor; nho đen Ribier; nho xanh đen Concord.
 

Giá trị dinh dưỡng

Nho có nhiều đường, sinh tố C và một ít chất xơ.

Khi mua nên lựa nho mập chắc, mầu tươi, dính vào cuống còn xanh và dễ uốn. Nho có vỏ nhăn, thịt nhũn là đã hư.

Mang nho về, nếu chưa ăn ngay thì gói trong túi nylon, cất trong tủ lạnh. Không nên rửa nho trước khi cất vì nước đọng lại làm nho mau hư.

Nho rất dễ ăn và vẫn được coi như một thực phẩm lành mạnh, bổ dưỡng.
 

Tác dụng y học

Nho đỏ có hóa chất Resveratrol, được coi như có công dụng làm giảm nguy cơ bệnh động mạch vành.

Một nhóm nghiên cứu gia tại Đại học Illinois thấy là Resveratrol còn có đặc tính chống viêm tế bào và chống ung thư.

Năm 1927, bác sĩ A.M. Liebstein ở Nữu Ước tuyên bố  với các đồng nghiệp rằng nho rất tốt cho mọi chứng khó chịu bao tử, cảm sốt, bệnh gan, thận và nhiều bệnh khác nữa. Năm sau đó,  một kiều dân Nam Phi nói là nho chữa khỏi bệnh ung thư bụng của bà ta.

Các nhà nghiên cứu tại Canada lại nói là nho có thể tiêu diệt một số virus cấy trong phòng thí nghiệm.
 

Ăn nho

Nho có thể ăn nguyên trái, làm xà lách hoặc  xay thành nước nho. Nho là trái cây lý tưởng để làm rượu vang.

Nho khô cũng rất phổ biến  và có nhiều đường. Một cốc nho khô khoảng (200mg) có khoảng 400 calori, với 3g sắt, 10g chất xơ, 1090 mg kali.

Để có 1kg nho khô cần có 4kg  nho tươi. Nho khô là món trái cây khô được nhiều người ưa thích. Hiện nay, tiểu bang  California của Hoa Kỳ sản xuất nho khô nhiều nhất trên thế giới, rồi đến Thổ Nhĩ Kỳ, Ý.

Xin lưu ý những ai bị dị ứng với aspirin là trong nho có acid salycylates, hoạt chất chính của aspirin.
 

DƯA
 

Theo các nhà thực vật học thì dưa có nguồn gốc từ  châu Phi rồi lan tràn sang các nước châu Á, châu Âu.


Vào thế kỷ thứ 15, dưa xâm nhập Pháp quốc và làm nhiều người ưa thích đền nỗi một văn nhân thời ấy đã viết bài ca tụng, liệt kê hơn năm mươi cách ăn dưa gồm cả nấu súp, rán ăn với muối và hạt tiêu... Các  truởng giả nước Anh  còn kiêu hãnh trồng dưa trong nhà lồng kính của mình để làm cây cảnh.

Từ Anh, dưa được đưa sang châu Mỹ.

Ngày nay dưa được trồng khắp nơi, nhất là các quốc gia có diện tích trải rộng theo nhiều miền khí hậu khác nhau như Hoa Kỳ, Úc Châu.
 

Các loại dưa

Có nhiều loại dưa khác nhau như dưa đỏ (canteloupe), dưa bở ruột xanh (honeydew), dưa hấu (Water melon), dưa casaba, dưa crenshaw....

 Mặc dù chứa nhiều nước, nhưng dưa cũng có nhiều chất dinh dưỡng như carbohydrate, đường, chất xơ hòa tan pectin; folate, sinh tố C, kali. Dưa mầu vàng có nhiều sinh tố A và beta carotene.

 Nửa trái canteloupe có 2g chất xơ, 2860mcg sinh tố A, 45mcg folate và 113 mg sinh tố C.

Dưa hấu có ít những chất vừa kể hơn: một miếng dưa hấu có 535mcg sinh tố A, 11mcg folate, 46 mg sinh tố C.

Dưa có ít năng lượng: một miếng dưa 120g cung cấp 35 calori. Vì thế ăn nhiều dưa mà không sợ lên cân.

Dưa chín cây ăn rất ngon, ngọt, mát và nhiều nước . Mỗi loại dưa có một hương vị đặc biệt khác nhau.
 

Cất giữ

Mua canteloupe, nên lựa trái tròn, chắc, vỏ mầu kem tươi.

 Dưa hấu chín có vỏ nhẵn, tròn trĩnh với mầu xanh kem. Khi gõ nhẹ vào vỏ quả dưa nghe âm thanh dội lại và khi lắc, hột bên trong như rung động (rattle hollow sound). Dưa chín cây thì cuống rụng  để lại vết thẹo nhẵn, hơi lõm vào. Dưa hái non thì cuống còn dính vào rốn dưa.

 Dưa hấu bổ sẵn dễ lựa hơn: mua miếng nào có mầu đỏ tươi với hột mầu đen hoặc nâu sậm.

Cất dưa đã bổ trong tủ lạnh thì có thể để dành ăn dần được dăm ngày. Dưa còn nguyên trái thì để dành được lâu hơn.
 

Ích lợi y học

Beta carotene trong dưa có thể làm giảm nguy cơ ung thư cuống họng, phổi, thanh quản. Folate làm giảm nguy cơ cơn suy tim và tật chẻ hàm ở trẻ sơ sinh.

Các nghiên cứu ở Á Căn Đình và Đức cho hay dưa canteloupe có công dụng chống máu đông giống như hành, tỏi, gừng. Canteloupe cũng được người Trung Hoa dùng để chữa bệnh viêm gan.

Hột dưa được dùng để chữa sán lãi ở Guatalama, chữa ung thư ở Phi Luật Tân, làm lợi tiểu tiện ở Ấn Độ./.
 

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

www.bsnguyenyduc.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mọi người thỉnh thoảng sẽ bị nấc cụt và đôi khi các cơn nấc cụt khá lì lợm, không chịu biến đi. Nấc cụt là sự co thắt không chủ ý của cơ hoành (diaphragm) – cơ ngăn cách phần ngực với phần bụng, đóng vai trò chính trong việc hít thở – sau đó là các dây thanh âm đóng lại đột ngột.
Bệnh Mất Trí (Alzheimer) là chứng bịnh mà các tế bào thần kinh trong não bị teo đi. Đó là do sự tích tụ bất thường của protein beta-amyloid và protein tau. Nghiên cứu về các loại thuốc chống lại bệnh Alzheimer cho thấy rằng nên điều trị sớm trong quá trình điều trị bệnh, trước khi quá nhiều tế bào thần kinh của não bị chết.
Số lượng người trên thế giới sống chung với bệnh suy tim ngày càng tăng, suy tim là tình trạng cơ tim bị suy yếu và không thể bơm đủ lượng máu cần thiết để cung cấp đủ oxy và chất dinh dưỡng cho cơ thể. Người bệnh bị suy tim sẽ suy giảm khả năng hoạt động, suy giảm chất lượng sống, tùy từng mức độ sẽ cần sự hỗ trợ khác nhau. Ngoài ra người bệnh suy tim nặng sẽ đứng trước nguy cơ tử vong cao. Có những phương pháp điều trị làm chậm quá trình này, nhưng không có phương pháp nào trực tiếp làm tăng khả năng bơm máu của tim.
Các chuyên gia nghiên cứu tại Trường University of Miami đã báo cáo hai trường hợp đầu tiên được xác nhận vi rút SARS-CoV-2 truyền qua nhau thai và gây tổn thương não cho thai nhi, theo trang Reuters đưa tin ngày Thứ Năm, 6 tháng 4 năm 2023. Theo nhóm nghiên cứu, trước đây, các bác sĩ đã nghi ngờ điều này có thể xảy ra nhưng chưa tìm được bằng chứng trực tiếp nào cho thấy vi rút COVID-19 tồn tại trong nhau thai hoặc não của trẻ sơ sinh.
Điều gì đang xảy ra trong não và cơ thể khi chúng ta thưởng thức nghệ thuật? Đây là một câu hỏi đã nằm trong tâm trí của Anjan Chatterjee nhiều năm. Ông Anjan là giáo sư về thần kinh học, tâm lý học và kiến trúc tại Trường Pennsylvania (University of Pennsylvania). Tại đây, ông đã thành lập một trong những phòng thí nghiệm đầu tiên trên thế giới dành riêng cho khoa học về thần kinh và thẩm mỹ - Penn Center for Neuroaesthetics.
Bàng quang hay bọng đái (bladder) là một cơ quan hình tròn giống như một chiếc túi, có nhiệm vụ chứa nước tiểu. Nó nằm ở vùng xương chậu, bên dưới thận và ngay phía sau xương chậu. Về cơ bản thì nó là một bể chứa bằng thịt, nhưng thiết kế của ‘bể chứa’ này rất phức tạp.
Hàng triệu người trên thế giới bị mắc chứng huyết áp cao, và từ lâu các nhà nghiên cứu đã cho biết các chứng bịnh mất trí nhớ có liên quan đến bịnh huyết áp cao. Nhưng làm thế nào mà áp suất cao trong các mạch lại gây tổn hại cho não thì vẫn chưa được rõ ràng.
Theo một đánh giá dữ liệu từ hơn 30 triệu người trưởng thành, chỉ cần 11 phút hoạt động thể chất vừa phải mỗi ngày có thể giảm 23% nguy cơ ‘yểu mệnh.’ Các tác giả nghiên cứu khuyến nghị rằng nếu mọi người có thể đạt được mục tiêu hàng ngày này, thì thế giới có thể ngăn chặn được 1 trong 10 ca ‘chết yểu.’
Theo Viện Ung Thư Quốc Gia (National Cancer Institute – NCI), bàng quang khi rỗng có kích thước và hình dạng bằng trái lê. Tuy nhiên, nó có thể giãn ra lớn hơn nhiều khi cần thiết, và co trở lại khi trống. Trên thực tế, nó có thể chứa khoảng 16 ounce (gần nửa lít) nước tiểu cùng một lúc trong từ hai đến năm tiếng đồng hồ một cách thoải mái, theo Thư viện Y khoa Quốc gia Hoa Kỳ (U.S. National Library of Medicine – NLM).
Ông bà ta có câu: “Thùng rỗng kêu to.” Và hóa ra theo góc nhìn khoa học thì điều này cũng có phần đúng. Một nghiên cứu gần đây cho thấy những người sở hữu trí tuệ về sự khiêm tốn thường sẽ thông minh hơn. Nghiên cứu mới được công bố trên Journal of Positive Psychology. Tác giả chính là Elizabeth J. Krumrei-Mancuso, từ Trường Pepperdine University, đã làm việc cùng với nhóm của bà để nghiên cứu một khái niệm mà họ gọi là trí tuệ về sự khiêm tốn (intellectual humility). Trí tuệ về sự khiêm tốn là khả năng chấp nhận sai lầm về mặt trí tuệ (intellectually fallible) một cách cởi mở và điềm đạm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.