Hôm nay,  

Sinh Nhật Bùi Giáng

17/12/201600:00:00(Xem: 5735)
Hôm 17 tháng 12 là sinh nhật của nhà thơ Bùi Giáng.

Xin mời bạn đọc trích đoạn bài thơ “Chào Nguyên Xuân” của thi sĩ Bùi Giáng:

...Hỏi rằng: người ở quê đâu
Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà
Hỏi rằng: từ bước chân ra
Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài
Thưa rằng: nói nữa là sai
Mùa xuân đương đợi bước ai đi vào
Hỏi rằng: đất trích chiêm bao
Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau
Thưa rằng: ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân...

Tuyệt vời. Nhà thơ Bùi Giáng cũng là một mùa xuân của ngôn ngữ Việt, bởi vì hình như và có thể là, họ Bùi là nhà thơ tuyệt vời của những thập niên hậu thế kỷ 20, và ảnh hưởng đang bao trùm và sẽ bao trùm cả nhiều thập niên đầu thế kỷ 21.

blank
Bùi Giáng (Phan Tấn Hải vẽ, 2016)

Theo Tự điển Bách khoa Mở, Bùi Giáng (1926-1998), là nhà thơ, dịch giả và là nhà nghiên cứu văn học của Việt Nam. Các bút danh khác của ông là: Trung niên thi sĩ, Thi sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng... Ông nổi tiếng từ năm 1962 với tập thơ Mưa nguồn.

Sinh 17 tháng 12 năm 1926 ở huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam.

Mất 7 tháng 10, 1998 (71 tuổi) tại Sài Gòn.

Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng Thanh Châu thuộc xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Cha ông là Bùi Thuyên, thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi ở Quảng Nam. Do người vợ cả qua đời sớm nên ông lấy người vợ kế là bà Huỳnh Thị Kiền. Bùi Giáng là con đầu của Bùi Thuyên với Huỳnh Thị Kiền, nhưng là con thứ 5 nếu tính tất cả các anh em. Khi vào Sài Gòn, ông được gọi theo cách gọi miền Nam là Sáu Giáng.

Năm 1933, ông bắt đầu đi học tại trường làng Thanh Châu.

Năm 1936, ông học trường Bảo An (Điện Bàn) với thầy Lê Trí Viễn.

Năm 1939, ông ra Huế học tư tại Trường trung học Thuận Hóa. Trong số thầy dạy ông có Cao Xuân Huy, Hoài Thanh, Đào Duy Anh.

Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, nhưng sau đó ông cũng kịp đậu bằng Thành chung.

Năm 1949, ông tham gia kháng chiến chống Pháp, làm bộ đội Công binh.

Năm 1950, ông thi đỗ tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức, được cử tới Hà Tĩnh để tiếp tục học. Từ Quảng Nam phải đi bộ theo đường núi hơn một tháng rưỡi, nhưng khi đến nơi, thì ông quyết định bỏ học để quay ngược trở về quê, để đi chăn bò trên vùng rừng núi Trung Phước.

Năm 1952, ông trở ra Huế thi tú tài 2 ban Văn chương. Thi đỗ, ông vào Sài Gòn ghi danh học Đại học Văn khoa. Tuy nhiên, theo T. Khuê thì sau khi nhìn danh sách các giáo sư giảng dạy lại, ông quyết định chấm dứt việc học và bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục.


Năm 1965, nhà ông bị cháy làm mất nhiều bản thảo của ông.

Năm 1969, ông "bắt đầu điên rực rỡ" (chữ của Bùi Giáng). Sau đó, ông "lang thang du hành Lục tỉnh" (chữ của Bùi Giáng), trong đó có Long Xuyên, Châu Đốc...

Năm 1971, ông trở lại sống ở Sài Gòn. Thi sĩ Bùi Giáng mất lúc 2 giờ chiều ngày 7 tháng 10 năm 1998, sau một cơn tai biến mạch máu tại bệnh viện Chợ Rẫy (Sài Gòn cũ) sau những năm tháng sống "điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang" (chữ của Bùi Giáng). Ông được chôn cất tại nghĩa trang Gò Dưa, quận Thủ Đức.

Bùi Giáng có tình cảm với NSND Kim Cương khi bà mới 19 tuổi. Ông tỏ tình với bà nhưng không thành vì bà thấy ông có vẻ bất bình thường.

Sau đó, Bùi Giáng vẫn giữ tình cảm với bà trong suốt cuộc đời ông. Cả đời Bùi Giáng chỉ nhớ mỗi số điện thoại nhà của Kim Cương, khi ông làm náo loạn trật tự, bị công an "hỏi thăm" cũng chỉ biết đọc lên số điện thoại này; lúc bị ngã xe vào cấp cứu bệnh viên, tỉnh lại cũng mang số điện thoại ra để trả lời bác sĩ.

Trước và sau năm 1975, đã có nhiều bài viết về ông và sự nghiệp văn chương của ông. Ở đây chỉ trích giới thiệu thêm ý kiến của nhà nghiên cứu Thụy Khuê được in trong Từ điển văn học (bộ mới):

“Bùi Giáng viết rất nhiều, nhưng những gì còn lại chính là thơ. Thơ ông, ngay từ thuở đầu đã rong chơi, lãng mạn, tinh nghịch, nhẹ nhàng, hóm hỉnh, luôn là những lời vấn đáp lẩn thẩn về ý nghĩa cuộc đời, về lẽ sinh tồn, về những chuyện phù du, dâu bể, ẩn khuất khía cạnh dục tình khép mở của Hồ Xuân Hương...Từ Nguyễn Du, ông tạo nên một môtip bạc mệnh hiện đại, có màu sắc siêu thực qua tính cách tạo hình, có chất hoang mang của con người bất khả tri về mình, về người khác trong cuộc sinh tồn hiện hữu...

Bùi Giáng đã tái dựng lục bát trong bối cảnh mới của thời đại hiện sinh. Nguồn thơ của ông phát tiết trong khoảng thời gian ngắn, chỉ hai năm 1962-1963 đã có tới 6 tập thơ… Chuyện hạ bút thành thơ của ông được xác định như là một hiện tượng độc đáo…Tuy nhiên bi kịch của Bùi Giáng là ông lập lại chính mình, ngay cả trong thơ, cho nên những hình ảnh đẹp, những tư tưởng tân kỳ, nhiều khi được dùng lại nhiều lần trở thành sáo và vô nghĩa...

Nhưng dù sao chăng nữa, ông cũng đã tạo được một mẫu ngông thời đại, sáng tạo một kiểu say sưa, chán đời của thế kỷ 20, khác với Nguyễn Khuyến trong thế kỷ 19 hoặc Tản Đà ở đầu thế kỷ 20.”

Xin bày tỏ lòng ngưỡng mộ nhân ngày sinh nhật nhà thơ Bùi Giáng.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chuyện gì cũng vậy, cũng cần có một khuôn phép gọi là chuẩn mực, bấy giờ mới thấy hết cái đẹp, cái tinh vi. Nếu không có chuẩn mực, tất sẽ hỗn loạn, sẽ chỉ là tiếng ồn của người tâm thần.
Trong khi chúng ta đọc tràn ngập những tin hình sự hàng ngày ở Hà Nội, ở Sài Gòn, ở Cần Thơ... đời sống trở nên đầy những nỗi lo, những sợ hãi. Rồi may mắn, đôi khi gặp những bản tin làm dịu lòng mình xuống, khi niềm tin được khơi dậy về cái thiện bản nhiên trong lòng người.
Có những dòng chữ viết lên vách, và đời sau ca ngợi là thơ thần, bút thánh. Có những nét vẽ sau khi hoàn tất trên vách, lập tức trở thành bất tử.
Bạn hãy hình dung rằng khi một công nhân bị nợ lương, là bao nhiêu chuyện thảm họa dây chuyền sẽ xảy ra. Vậy mà đó lại là hiện thực đang diễn ra đối với hàng chục ngàn công nhân.
Tình yêu mang tới hạnh phúc cho đời người. Tình yêu là sự chia sẻ, là niềm vui, là chung bước để cặp tình nhân dìu nhau đi trên những năm tháng gian nan của đời người. Tình yêu như thế cũng là tránh nhiệm, là gánh vác một phần gánh nặng trăm năm cho nhau.
Cái đầu mình khá u tối, nên rất thường khi gặp những chữ viết tắt trên báo chí Việt Nam, nghĩ hoài cũng không ra nổi. Như thế, gặp các trưoòng hợp tối nghĩa, hay chữ ít gặp, thì đành chịu. Nghĩa là, mình nghĩ, chức năng truyền thông của báo chí chưa đạt nổi.
Mỗi người đều mang ơn một số thầy giáo, cô giáo nào đó. Từ bậc mẫu giáo, bậc tiểu học, bậc trung học và rồi đaị học... thế nào cũng có lúc chúng ta sơ xuất, vấp ngã và rồi được một thầy giaó hay cô giáo chìa tay ra giúp, đỡ lên và dìu chúng ta đi tiếp.
Quý thầy giáo và quý cô giáo, tức là ngành giáo dục, trên nguyên tắc là phải tuyệt vời trong sáng đạo đức. Lịch sử Việt Nam cũng đã từng có những thấy giáo tuyệt vời, như Thầy Chu Văn An, như Thầy Nguyễn Đình Chiểu...
Nghệ thuật là gì? Và làm vai MC để dẫn chương trình trong các buổi họp mặt, tiệc cưới... có cần tới nghệ thuật không? Và nếu thiếu nghệ thuật, các buổi đó có trở nên nhạt nhẽo hay không? Thậm chí, nếu không khéo, MC có thể làm mất vui cả một tiệc cưới hay không?
Có những di sản văn hóa mang theo những mảng hồn dân tộc, mà chúng ta khi nhớ tới vẫn luôn luôn cảm động, vì đó là một phần lịch sử mở nước, dựng nước của ông bà mình.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.